Tải bản đầy đủ

Việc làm và thất nghiệp tại việt nam trong cách mạng công nghiệp 4.0

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỀ TÀI: VIỆC LÀM VÀ THẤT
NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG
THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP CÁCH
MẠNG 4.0

GVHD: Bùi Huy Khôi
Sinh viên thực hiện:Nhóm 4
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2018


DANH SÁCH NHÓM 4


MỤC LỤC
BỘ CÔNG THƯƠNG...................................................................................................1



Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Với sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng 4.0 hiện nay. Thế giới
đang phải đối mặt với sự phát triển của khoa học kĩ thuật này nó đã đưa
nhân loại tiến xa hơn về mọi mặt. Nước ta hiện nay đang đạt được nhiều
thành tựu về khoa học, dịch vụ, du lịch,... Nhưng đồng thời qua đó cũng
không ít những vấn đề đang được Đảng và nhà nước quan tâm như: thất
nghiệp, lạm phát, các vấn đề tệ nạn xã hội...nhưng vấn đề được quan tâm
hàng đầu ở đay đó chính là thất nghiệp.
Thất nghiệp là một ví dụ được cả thế giới quan tâm bất kì một quốc gia
nào dù cho nền kinh tế có phát triển đến đau đi chăng nữa thì vẫn tồn tại
nạn thất nghiệp vấn đề này không tránh khỏi chỉ là ít hay nhiều mà thôi.
Đó là vấn đề nhức nhói mà nhóm 4 chọn đề tài này để thuyết trình.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu:
Với mảng đè tài này nhóm 4 sẽ đi nghiên cứu về vấn đề thất nghiệp ở
nước Việt Nam ta hiện nay và cũng như lực lượng lao động. Qua đó để
làm rõ hơn cơ hội và thách thức về vấn đề việc làm trong thời đại công
nghệ 4.0 đối với đất nước.
Đối tượng nghiên cứu: đề tài chủ yếu nghiên cứu về tình trạng thất nghiệp
và biện pháp nhằm hạ giải tỉ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam.
3. Phương pháp làm bài:

Tìm hiểu thông qua sách báo ở thư viện

Tìm hiểu thông qua internet, lời giảng của thầy trong quá trình học
tập

Tìm hiểu thông qua thu thập số liệu.

Phương pháp quan sát, phân tích.

Bản thân rút ra kết luận.
4. Kết quả nghiên cứu:
Nhận biết rõ thực trạng và nguyên nhân thất nghiệ của Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay, đưa ra những biện pháp thiết thực để cải thiện tình
hình là hoàn toàn cấp thiết.
5. Bố cục của tiểu luận:
-Thất nghiệp là gì ? Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam và giải pháp.
-Các ảnh hưởng của thất nghiệp


-Nêu, phân tích một số phương pháp hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam.

1

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp

II.Cơ sở lí thuyết:
1. Khái niệm:
1.1. Khái niệm về cách mạng 4.0:
Theo Gartner, Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp
lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáo của
chính phủ Đức năm 2013. "Industrie 4.0" kết nối các hệ thống nhúng và
cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công
nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. Cuộc Cách mạng
Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp
các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và
sinh học".
1.2 Khái niệm về thất nghiệp:
Thất nghiệp là tình trạng những người đang trong hạn tuổi lao động, có
đầy đủ sức khỏe để tham gia lao động nhưng chưa tìm kiếm được việc
làm.
1.3 Lí do thất nghiệp:
Thất nghiệp là gánh nặng không chỉ bản thân cá nhân người thất nghiệp
mà còn là vấn đề đặc biệt quan tâm đối với gia đình và xã hội.

Thất nghiệp theo giới tính.

Thất nghiệp theo tuổi.

Thất nghiệp theo vùng.

Thất nghiệp theo ngành.

Thất nghiệp theo dân tộc.
Theo thống kê tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới luôn chiếm tỉ lệ cao hơn so với
thất nghiệp ở nam giới và ở người trẻ thất nghiệp cao hơn những người có
tuổi và có kinh nghiệm.
Lý do thất nghiệp:

Do bỏ việc: tự ý bỏ việc do cảm thấy công việc đó không phù hợp với
bản thân hay các lý do khác như tiền lương không cao...

Do mất việc: do tình hình của công ty ít công việc không đáp ứng
được việc làn cho công nhân nên buộc công nhân phải nghỉ việc giữa
chừng.

Do mới vào: chưa tìm được công việc nào cụ thể phù hợp với bản
thân (sinh viên đang kiếm việc, sinh viên đang chờ việc...)

Quay lại: cảm thấy công việc làm quá chán không tiếp tục nữa tìm
kiếm việc mới nhưng không có buộc phải quay lại với công việc cũ.
2. Phân loại thất nghiệp:
2

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp

2.1 Thất nghiệp cơ học (frictional unemployment):
Loại này chủ yếu gồm những người đang đi tìm việc, xuất thân từ
thành phần bỏ việc cũ, tìm việc mới hoặc thành phần mới gia nhập hay tái
nhập lực lượng lao động. Ngoài ra còn có những người thất nghiệp thời
vụ và thất nghiệp do tàn tật một phần nhưng vẫn có khả năng lao động và
đang tìm việc.
Những biến động theo mùa là một nguồn thất nghiệp kinh niên, là
không thể tránh khỏi chừng nào chúng ta còn tiếp tục gieo trồng, xây nhà
hoặc làm những công việc vào những mùa nhất định trong năm. Vào cuối
mỗi mùa như vậy, công nhân phải tìm việc mớ và lúc đó họ phải chịu
cảnh thất nghiệp theo mùa.
Có những nguyên nhân khác lí giải cho vấn đề thất nghiệp nhất định.
Nhiều công nhân có những lý do cá nhân hoặc tài chính để bỏ việc này
tìm việc khác. Thời gian tìm việc sẽ cho người lao động biết được là công
việc nào đòi hỏi những kỹ năng nào, lương được trả bao nhiêu... bởi vậy
thời gian làm việc ngắn có thể có ích đối với những người tham gia thị
trường lao động.
2.2 Thất nghiệp cơ cấu (structural unempoyment):
Xảy ra khi có sự mất cân đối về mặt cơ cấu giữa cung và cầu lao
động. Sự mất cân đối xảy ra do sự không tương thích giữa các kỹ năng
của những người tìm việc với những yêu cầu của những công việc sẵn có.
Đối vói thất nghiệp cơ cấu, thời gian tìm việc có thể kéo dài vì họ
không có những kỹ năng mà người thuê cần đến.
Những người lao động trong các khu ổ chuột của thành thị cũng bị
thất nghiệp cơ cấu. Hầu hết những người này nghèo và không được giáo
dục đầy đủ, có ít kỹ năng và năng lực để làm việc. Dó đó hầu hết các
công việc “tươm tất” đều “nằm ngoài khả năng” của họ.
2.3 Thất nghiệp chu kì (cyclical unemployment):
Là loại thất nghiệp được tạo ra bởi tình trạng suy thoái nền kinh tế.
Thất nghiệp chu kì tồn tại khi nhu cầu của công nhân thấp hơn số người
có mặt trong lực lượng lao động. Ở đây, không có hiện tượng chuyển dịch
giữa các công việc hoặc kỹ năng của người tìm việc, chỉ là mức cầu
không phù hợp với các hàng hóa và dịch vụ và do vậy không phù hợp với
3

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
đồi tượng lao động.
Do tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ giảm sút, buộc các doanh nghiệp
sản xuất ít hơn, thậm chí có khi đóng cửa nhà máy. Doanh nghiệp sẽ sa
thải công nhân tạo nên thất nghiệp hàng loạt.
Thất nghiệp chu kì được dùng để chỉ những thất nghiệp từ năm này
sang năm khác xung quanh tỉ lệ tự nhiên của nó và gắn liền với những
biến động ngắn hạn của hoạt động kinh tế.
III. Nguyên nhân gây ra mất việc làm:
1. Trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm:
Theo điều tra của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, công nhân lao
động trong cả nước có trình độ tiểu học chiếm 3,7%, THCS là 14,7%,
THPT là 76,6%, THCN và cao đẳng là 13,8%, đại học là 13,24%.
Theo đánh giá chung, trình độ tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp của
công nhân lao động còn thấp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, năng
suất lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Thậm chí một số khu công nghiệp
vẫn còn công nhân lao động mù chữ và tái mù chữ.
Vì vậy đã có nghịch lý, các doanh nghiệp thiếu thị trường lao động
kỹ thuật cao còn người lao động lại thiếu việc làm.
Mục tiêu đề ra, phấn đấu đến năm 2010 phải xoá mù chữ cho công
nhân lao động, phổ cập giáo dục tiểu học cho công nhân lao động vùng
sâu, vùng xa, tiến tới phổ cập trung học cơ sở cho công nhân lao động cả
nước. Các khu công nghiệp, thành phố lớn phấn đấu 95% công nhân lao
động có trình dộ học vấn trung học phổ thông trở lên, giảm tỷ lệ công
nhân chưa qua đào tạo xuống còn 10% vào 2010.
1.1 Chênh lệch lớn về trình độ giữa các vùng, miền:
Theo báo cáo tổng kết của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam về
thực trạng trình độ, học vấn, kỹ năng nghề nghiệp công nhân lao động
hiện nay trong cả nước còn khá chênh lệch, ở các vùng miền khu vực
kinh tế. Tây Nguyên có tới 8,5% công nhân lao động có trình độ tiểu học,
còn bậc trung học phổ thông, ở Hà Nội là 76,4%, Tp.HCM là 35,79%,
Đồng Nai 38,9%, Tây Nguyên 49,8%. Thậm chí nhiều khu công nghiệp ở
Tây Nguyên vẫn còn nhiều công nhân lao động còn mù chữ và nhiều nơi
công nhân lao động còn tái mù chữ.
Mặt khác, do người sử dụng lao động yêu cầu tuyển chọn công nhân
4

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
có trình độ từ trung học cơ sở, nhưng thực tế họ mới học hết tiểu học và
dở dang trung học cơ sở. Trình độ học vấn thấp kéo theo trình độ chuyên
môn của công nhân lao động còn thấp. Hà Nội tỷ lệ công nhân lao động
chưa qua đào tạo chuyên môn là 8,8%, Quảng Ninh là 14,5%, Điện Biên
16,27%, Tây Nguyên là 63,3%, Đồng Nai 37,9% Tp.HCM là 52,5%.
Công nhân lao dộng có trình độ đại học ở Hà Nội là 34,5%, Tp.HCM là
35,1%, Quảng Ninh là 37% trong khi Tây Nguyên chỉ đạt tới 6,7%.
Trình độ công nhân thấp nhưng việc đầu tư và nâng cao trình độ
chuyên môn cho công nhân không được coi trọng. Theo khảo sát nghiên
cứu của Ban tuyên giáo cho thấy, việc đầu tư kinh phí nâng cao trình độ
chuyên môn cho công nhân lao động hàng năm được thực hiện chủ yếu
tại các doanh nghiệp quốc doanh còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hầu như không có kinh phi cho lĩnh vực này.
Trong khi đó công nhân lao động có tay nghề bậc 1, 2, 3 là 16,9%;
bậc 4, 5 là 18,5% và bậc 6,7 chỉ có 7,6%. Đặc biệt, do có những bất cập
trong danh mục bậc thợ, tiêu chuẩn bậc thợ và những hạn chế trong công
tác nâng bậc hàng năm tại các doanh nghiêp, nhiều công nhân lao động
không được xếp bậc thợ. Qua khảo sát, có tới trên 30% công nhân lao
động không biết hiện mình được xếp bậc mấy.
Nguồn: :https://123doc.org
1.2 Doanh nghiệp không quan tâm nâng cao trình độ cho lao động:
Một trong những nguyên nhân học vấn chuyên môn, kỹ thuật của
công nhân lao động thấp, theo ông Đỗ Đức Ngọ, Liên đoàn lao động Việt
Nam, do các doanh nghiệp ít tạo điều kiện thuận lợi để người lao động có
thể học tập nên số công nhân lao động được đào tạo, nâng cao không
nhiều.
Hiện nay mới chỉ có 13,2% công nhân lao động được nâng cao trình
độ học vấn phổ thông và 23,1% công nhân lao động được bồi dưỡng nâng
cao bậc thợ, trong khi chúng ta còn gần 24% công nhân lao động có trình
độ tiểu học và trung học cơ sở, 32,3% công nhận lao động chưa qua đào
tạo và 16,9% công nhân lao động mới có tay nghề bậc 1,3.
Bên cạnh đó, nguyên nhân do mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học,
trung học cơ sở mới chỉ được chú trọng tới vùng nông thôn, miền núi,
chưa chú trọng tới đào tạo công nhân lao động. Việc quản lý văn bằng,
chứng chỉ tại trung tâm giáo dục thường xuyên còn hạn chế. Cơ sở dạy
nghề còn nhỏ lẻ, phân tán, thiết bị lạc hậu nội dung chương trình dạy
chưa kịp đổi mới. Nhiều trường đào tạo công nhân chỉ có 35% giáo viên
có trình độ đại học và trên đại học.
5

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp

Trang thiết bị cũ không còn phù hợp với đổi mới công nghệ nhưng
trên thực tế học sinh ra trường không làm được việc ngay, thậm chí có nơi
phải đào tạo lại.Bên cạnh đó, người sử dụng chưa quan tâm đúng mức
đến việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân lao động.
Vậy nên đề nghị Nhà nước cần sớm ban hành bộ giáo trình chuẩn và
danh mục bậc thợ, tiêu chuẩn bậc thợ để việc tổ chức đào tạo và cách
đánh giá thợ chính xác thống nhất. Quy định buộc doanh nghiệp phải có
kinh phí đào tạo và đào tạo lại tránh tình trạng “ăn sẵn”.

Số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2016 cho biết, trong
quý IV/2016, số lượng người có trình độ đại học và trên đại học thất
nghiệp đã tăng hơn 15.000 người so với quý III cùng năm, lên tới
218.800 người. Trong khi đó, số lượng lao động thất nghiệp ở các trình
độ thấp hơn lại nhỏ hơn rất nhiều, cụ thể với lao động có chứng chỉ nghề
thất nghiệp là 40.100 người, trung cấp là 70.200 người và trình độ cao
đẳng là 124.800 người. Thậm chí, chỉ có lao động ở trình độ đại học và
trên đại học cùng với lao động chứng chỉ nghề có đà tăng tỷ lệ thất
nghiệp so với quý III/2016.
Cũng theo thống kê này, thì trong quý IV/2016, toàn thị trường Việt
Nam có tổng cộng hơn 750.000 lao động thất nghiệp trong độ tuổi lao
động, giảm nhẹ so với quý III và cùng kỳ năm trước.
Nguồn: :https://123doc.org
2. Thay đổi cơ cấu kinh tế:
2.1. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế của các ngành Công –Nông – Dịch vụ:

6

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
Về cơ cấu ngành kinh tế cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn
định của GDP trong những năm gần đây, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự
thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp đã
giảm nhanh, tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng nhanh, tỷ trọng dịch vụ
chưa có biến động nhiều.
Đến nay, đóng góp vào tăng trưởng của hai ngành Công nghiệp và
Dịch vụ chiếm khoảng 90% tăng trưởng toàn ngành kinh tế. Năm 2017,
ngành Dịch vụ đóng góp gần 45% vào tăng trưởng theo ngành và cao hơn
nhiều so với giai đoạn 2013 - 2015 với mức đóng góp 43%.
Điều này chứng tỏ xu thế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ
cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm góp
phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế đất
nước.
năm
Tốc độ tăng trưởng (%)
Nông
Công
Dịch vụ
nghiệp
nghiệp
2013
22.33
34.57
43.10
2014
20.9
36.4
42.7
2015
20.34
36.59
43.07
2016
19.66
36,02
44,32
2017
18.64
36.64
44.72
Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế
Nguồn: Tổng cục thống kê

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động
nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong
các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, trong khi số lao động

7

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
ngành nông nghiệp ngày càng giảm.
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng có sự
chuyển dịch ngày càng tích cực. Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành
Nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội
nông thôn, mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ
nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp,
thương mại và dịch vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm
dần.
Đối với công nghiệp, cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm đang có sự
thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường. Ngành Công nghiệp
chế biến tăng tỷ trọng, trong khi công nghiệp khai thác có chiều hướng
giảm.
Khi chuyển dịch cơ cấu thì sẽ dẫn đến tình trạng: làm cho các kỹ
năng làm việc của nhiều công nhân hiện nay bị lỗi thời, và có thể được
giải quyết bằng cách cung cấp thông tin tốt hơn cho người lao động bị
thất nghiệp cơ cấu hoặc đào tạo lại các nhân viên này để đáp ứng công
việc mới đang có nhu cầu cao hơn trong nền kinh tế. Ngoài ra còn một số
lý dó khi chuyển dịch cơ cấu ảnh hưởng đến thất nghiệp:
- Sự lỗi thời của công nghệ là cho một số kiến thức chuyên môn trở
nên vô dụng. Ví dụ: sự biến mất của người sắp chữ do sự số hoá của các
sản phẩm in.
- Năng suất tăng làm giảm số lượng lao động (với các kỹ năng giống
nhau hoặc tương tự) cần thiết để đáp ứng nhu cầu.
- Công nghệ mới làm tăng đáng kể năng suất, nhưng đòi hỏi một số ít
công nhân có tay nghề cao. Ví dụ, cần ít lao động nông nghiệp hơn khi
các công cụ được cơ giới hoá; những công cụ đó cần phải được đào tạo
để sử dụng. Thêm một ví dụ phổ biến khác là việc sử dụng robot trong
việc tự hoá sản xuất công nghiệp.
Nguồn :Thất nghiệp cơ cấu - Wikipedia
2.2. Sự phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn:
Lực lượng lao động của Việt Nam tuy đông và tăng nhanh nhưng có
sự phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ. Lao động nước ta tập trung
chủ yếu khu vực nông thôn. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động
của cả nước năm 2017 ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so
với năm trước, trong đó lao động nam chiếm 54,1%; lao động nữ chiếm
45,9%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị
chiếm 33,4%; khu vực nông thôn chiếm 66,6%. Điều này là do ở nông
thôn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính nên cần một lực lượng lao
động đông, diện tích đất đai ở nông thôn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, do
năng suất lao động thấp, hơn nữa, vào thời gian chuyển giao giữa các
mùa, lực lượng lao động thiếu việc làm cao nên tỉ lệ lao động nông thôn
8

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
giảm dần, góp phần làm tăng tỉ lệ lao động thành thị. Lao động di cư từ
nông thôn ra thành thị tìm việc một cách tự phát cũng đang trở thành một
trong những khó khăn cho vấn đề việc làm ở nước ta. Phân bố lao động
cũng có sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế. Phân bố lao động cũng có
sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế. Trong 8 vùng kinh tế, gần 3/5 lực
lượng lao động (62,2% tổng lực lượng lao động của cả nước) tập trung ở
3 vùng là đồng bằng (ĐB) sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung, ĐB sông Cửu Long . Như vậy, khu vực nông thôn và 3 vùng kinh
tế - xã hội này là những nơi cần có các chương trình khai thác nguồn lực
lao động, tạo việc làm và đào tạo nghề trong những năm.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Đặc trưng cơ bản

Cả nước
Thành thị
Nông thôn
Các vùng
Trung du và miền núi
Bắc Bộ
Đồng bằng Sông
Hồng
Hà nội
Bắc Trung Bộ và
Duyên Hải miền
Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
TPHCM
Đồng bằng sông Cửu
Long

Tỷ trọng lực lượng lao
động
chung nam nữ
%
nữ
100,0 100, 100,0 48,0
0
32,2
31,2 32,3 48,1

Tỷ lệ tham gia
LLLĐ
Chung nam nữ
76,9

82.1 72,0

70,7

76,5 65,3

67,8

67,9

67,7

47,9 83,0

85,0 75,7

14,0

13,4

14,7

50,4 84,9

86,8 83,1

21,7

20,9

22,6

49,9 73,9

77,0 71,0

6,9
21,6

6,7
21,3

7,1
21,8

49,7 67,3
48,6 78,4

71.0 64,0
82,6 74,4

6,6
17,2
8,0
18,9

6,5
17,7
8,4
20,2

6,7
16,6
7,6
17,5

48,7
46,4
45,5
44,4

86,9
79,9
75,8
84,6

83,3
72,6
67,2
75,5

79,8
65,7
59,1
66,5

Quý 4 năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước
ước tính đạt 55,1 triệu người. Sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động
khu vực thành thị là được ghi nhận song đến nay vẫn còn 67,8% lực
lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn. So sánh giữa các
vùng kinh tế xã hội, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ và Duyên
hải miền Trung vẫn là hai vùng có thị phần lao động lớn nhất cả nước

9

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
(21,7% và 21,6% theo tuần tự), tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu Long
(18,9%). Như vậy,chỉ riêng ba vùng này đã chiếm tới 62,2% lực lượng
lao động cả nước. Lao động nữ có khoảng 26,5 triệu người, tương ứng
với gần 48,0% lực lượng lao động cả nước trong quý 4 năm 2017. Ở cấp
toàn quốc, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 76,9%. Mức độ tham gia
lực lượng lao động của dân số khu vực thành thị và nông thôn vẫn còn
khác biệt đáng kể, gần 9,6 điểm phần trăm cách biệt (80,3% và 70,7%).
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nữ là 72,0 %, thấp hơn tới 10,1 điểm
phần trăm so với lao động nam (82,1%). Đáng chú ý, trong khi tỷ lệ tham
gia lực lượng lao động ở hai vùng miền núi là Trung du và miền núi phía
Bắc (84,9%) và Tây Nguyên (83,3%) vẫn đạt cao nhất nước thì tỷ lệ thấp
nhất lại thuộc về hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ nơi có
hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của cả nước là Hà Nội và HồChí
Minh. Hiện tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở hai thành phố này là
67,3% và 67,2% theo tuần tự.
Nguồn: Tổng cục thống kê – Báo cáo điều tra lao đông việc làm
3. Cung không gắn với cầu lao động:
3.1. Về Cung lao động
Theo công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình Kinh tế Xã hội năm
2017, lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8
triệu người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016. Cả nước hiện có
53.4 triệu lao động có việc làm; tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành
nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ
lần lượt là 40.4%; 25.7% và 33.9%.
Chất lượng lao động ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện tiếp thu
khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và môi trường lao động công
nghiệp, góp phần nâng cao năng suất lao động. LLLĐ từ 15 tuổi trở lên
có bằng/chứng chỉ từ 3 tháng trở lên quý 2/2017 là 11,78 triệu, tăng 564
nghìn người (5,03%) so với quý 2/2016. Trong đó, tăng mạnh nhất ở
nhóm sơ cấp nghề (8,44%), tiếp đến là nhóm trung cấp (5,01%), nhóm
đại học và trên đại học (4,64%) và nhóm cao đẳng (2,98%). Tỷ lệ lao
động có trình độ đại học trở lên trong tổng LLLĐ là 9,09%; cao đẳng là
3,17%; trung cấp là 5,43%; và sơ cấp nghề là 3,53%
Quý 2/2017 có 254,4 nghìn chỗ làm việc được các DN đăng để tuyển
dụng, giảm 16,2 nghìn người (7,2%) so với quý 1/2017. Nhu cầu tuyển
dụng lao động nữ chiếm 56,4% tổng số, giảm 0,8 điểm % so với quý
1/2017 (57,2%).Nhu cầu tuyển dụng của các công ty “ngoài nhà nước”
chiếm 82,4%, tăng 2,1 điểm % so với quy1/2017
10

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
Quý 2/2017, một số công việc có nhu cầu tuyển dụng lớn là: “lao
động phổ thông” (chiếm 49,8%, tăng 2,1 điểm % so với quý 1/2017);
“dệt, may mặc” (chiếm 17,2%, giảm 14,4 điểm % so với quý 1/2017
Nguồn: https://news.zing.vn/
3.2 Về cầu lao động
Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, trong đó có gần 3,935
triệu cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh (chiếm 94,9%). Tổng số
doanh nghiệp hiện đăng ký kinh doanh có 300 nghìn (trong đó có trên
200 nghìn doanh nghiệp hiện đang hoạt động), góp phần thu hút thêm từ
1,2 đến 1,5 triệu lao động vào làm việc/năm. Nhìn chung, so với năm
2002, số lượng cơ sở tăng nhanh ở tất cả các loại hình, ngành kinh tế. Cả
nước có 219 khu công nghiệp được thành lập, phân bố trên 64 tỉnh/thành
phố, trong đó có 118 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (thu hút trên 1
triệu lao động làm việc).
Từ năm 2001 đến nay, bình quân hàng năm nước ta đã đưa được khoảng
trên 70.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, góp phần nâng
tổng số lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài lên gần 500
nghìn lao động ở trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm
ngành nghề khác nhau, đem lại một nguồn thu ngoại tệ từ 1,7-2 tỉ đôla
Mỹ/năm. Tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng
(10% - 20%/năm).
Nguồn: www.molisa.gov.vn/ - Thực trạng cung- cầu lao động
3.3 Những tồn tại, bất cập
Về cung lao động: Lực lượng lao động phân bố không đồng đều, tập
trung chủ yếu ở nông thôn. Phần đông việc làm của người lao động
không ổn định, dễ bị tổn thương và rơi vào nghèo đói (tỷ lệ lao động tự
làm, làm việc trong gia đình không hưởng lương chiếm trên 70%, tỷ lệ
này ở khu vực nông thôn là 84%). Lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm
tỷ lệ lớn nhất (47,7%).
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thu hút gần 40 triệu lao động làm việc
(chiếm 87,2%) nhưng chỉ đóng góp 47% trong GDP và 35% giá trị sản
lượng công nghiệp trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng
lao động ít (khoảng 3,7%) nhưng lại đóng góp gần 19% cho GDP và gần
45% giá trị sản lượng công nghiệp.
Chất lượng lao động Việt Nam còn hạn chế, trình độ học vấn của lực
11

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
lượng lao động chênh lệch lớn giữa các vùng, giữa nông thôn và thành
thị, có tới 78% thanh niên trong độ tuổi 20-24 khi tham gia thị trường lao
động chưa được đào tạo nghề hoặc có được đào tạo thì vẫn bị hạn chế về
kỹ năng nghề nghiệp; thể lực, sức bền, sự dẻo dai chỉ ở mức trung bình.
Về cầu lao động: Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phân bố không đều giữa
các vùng, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Hồng;
Đồng bằng sông Cửu Long. Các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô nhỏ,
phân tán và trình độ kỹ thuật công nghệ thấp; bình quân số lao động của
một doanh nghiệp năm 2006 là 51 người, số doanh nghiệp dưới 10 lao
động chiếm 51,3%; doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động chiếm 44%,
chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động. Về năng lực vốn,
42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, và chỉ có 8,18% doanh nghiệp
có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng.
Nhiều ngành có khả năng tạo ra giá trị sản xuất cao nhưng tỉ lệ lao động
làm việc lại thấp: ngành công nghiệp chế biến (chiếm khoảng 12%);
ngành thương nghiệp, bao gồm cả sửa chữa xe có động cơ (chiếm gần
11%); ngành xây dựng (chiếm khoảng 6%). Ngành nông, lâm nghiệp có
năng suất lao động thấp, giá trị sản xuất hàng năm chỉ chiếm khoảng
22,1% GDP nhưng tỉ lệ lao động làm việc chiếm tới 47,7%. Hiệu quả sử
dụng vốn còn thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có tiến bộ,
nhưng chưa vững chắc và chưa cao.
3.4 Về cân đối cung - cầu lao động:
Nhìn tổng thể, thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư
thừa lao động và phát triển không đồng đều, quan hệ cung – cầu lao động
giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế đang mất cân đối nghiêm
trọng. Bên cạnh tình trạng phổ biến hiện nay là dư thừa lao động không
có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật thì nhiều doanh nghiệp đang
gặp khó khăn không chỉ trong việc tuyển dụng lao động qua đào tạo mà
còn cả trong tuyển dụng lao động phổ thông, chủ yếu xảy ra đối với các
doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở phía Nam.
Theo kết quả tổng hợp từ các trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch
của cả nước, trong quý IV-2018, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động
chú trọng người có trình độ, tay nghề chiếm khoảng 70.000 chỗ làm việc
trống, trong đó lao động phổ thông chiếm 27% Tuy nhiên, số người đến
đăng ký tuyển dụng chỉ bằng 17% so với nhu cầu của các nhà tuyển dụng;
số lao động đáp ứng được yêu cầu và được tuyển dụng vào làm việc chỉ
chiếm khoảng 6% nhu cầu của nhà tuyển dụng. Nhìn chung, Trung tâm
giới thiệu việc làm các tỉnh mỗi năm chỉ có thể cung ứng 20% nhu cầu
12

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh trên địa bàn.
IV. Giải pháp:
1. Giải pháp về trình độ chuyên môn và kỹ năng mềm
Nhà nước phải đưa ra chủ trương trong việc thực hiện các chương
trình quốc gia về khoa học – kỹ thuật cũng như đưa nó vào thực tiễn sản
xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, nâng
cao điều kiện sống cho người lao động. Nếu các chính sách này được đưa
vào thực tiễn thì người lao động sẽ phải cố gắng hơn để nâng cao 6 trình
độ chuyên môn cho công việc và đơn vị sử dụng cũng sẽ có điều kiện để
thu hút nhiều hơn lực lượng lao động được đào tạo với chất lượng cao
Các địa phương cần triển khai thực hiện một loạt các giải pháp về
định hướng nghề nghiệp; tư vấn nghề nghiệp và giới thiệu việc làm, tổ
chức sàn giao dịch việc làm; phát triển thông tin thị trường lao động; đổi
mới công tác dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế trước mắt và
lâu dài; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo lại và tạo điều kiện cho
người lao động học tập suốt đời để không lạc hậu trước công nghệ mới và
đẩy mạnh xuất khẩu lao động
Bên cạnh đó giáo dục – đào tạo chính là nền tảng, là cơ sở để có được
những lao động có kĩ năng, có tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới
nâng cao chất lượng để làm sao khi tốt nghiệp sinh viên có khả năng đáp
ưng những nhu cầu ngày một cao của công việc.
2. Giải pháp về thay đổi cơ cấu kinh tế
- Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện kích cầu các ngành thép,
vật liệu xâydựng, giấy, hóa chất; …; sản xuất hàng tiêu dùng nội địa; ưu
tiên hỗ trợ các ngành hàng sản xuất có lợi thế thay thế hàng nhập khẩu, sử
dụng nhiều lao động
- Tăng đầu tư, hỗ trợ phát triển khu vực nông nghiệp – nông thôn; nâng
cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp; hỗ trợ
đầu vào, phân phối và chế biến cho các mặt hàng nông sản, thủy sản; tìm
kiếm thị trường tiêu thụ, hỗ trợ vốn vay cho các làng nghề, xã nghề tiểu
thủ công nghiệp, đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp phù hợp với từng
vùng, tạo lực kéo cho các ngành khác phát triển cũng là giảm tình trạng
thất nghiệp.
- Ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia
đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việc làm; hỗ trợ các
doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoãn thuế, khoanh nợ song song
13

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
với cam kết phải duy trì việc làm cho số lao động hiện tại và thu hút thêm
lao động nếu có thể; hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp gặp khó khăn
để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào các khu công nghiệp các dự án kinh tế. giúp tăng trưởng kinh tế và
tạo việc làm cho công nhân. Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế nông
thôn. Mở rộng và tích cực tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động.
Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động trên thế giới để từ
đó đưa ra các chính sách phù hợp cho xuất khẩu lao động sang các nước.
- Tạo việc làm cho thanh niên từ khu vực nông nghiệp. Thường thì khi
nói đến vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên người ta hay đặt nhiều
hy vọng vào khu vực công nghiệp và dịch vụ. Nhưng ở đây xuất phát từ
đặc thù của một nước nông nghiệp thì khu vực nông nghiệp đóng một vai
trò quan trọng. Chiến lược thanh niên đưa ra chỉ tiêu "tăng tỷ lệ thời gian
lao động trong năm của thanh niên khu vực nông thôn lên 85% vào năm
2010”. Điều này tưởng chừng như mâu thuẫn vì chúng ta đang phấn đấu
giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp. Nhưng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp
không có nghĩa là thoát ly nông nghiệp. Như chúng ta đã biết, gần 80%
dân số nước ta sống bằng nông nghiệp. Vì vậy tìm việc làm từ nông
nghiệp là một việc làm hết sức tự nhiên và cần thiết. Tuy nhiên giải quyết
việc làm ở đây phải đi theo hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị sản xuất trên một ha đất. Cả nước ta hiện có trên
9,3 triệu ha đất nông nghiệp. Giá trị sản lượng nông nghiệp của chúng ta
khoảng 9 tỷ USD/năm, bình quân 1000 USD/ha. Trong khi đó Đài Loan
chỉ có hơn 900 ngàn ha đất nông nghiệp mà giá trị sản lượng tới 14 tỷ
USD/năm, giá trị tạo ra từ 1 ha đất nông nghiệp của bạn gấp 15 lần ở
nước ta. Vì vậy, điều cần thiết ở khu vực nông nghiệp hiện nay là phải tạo
ra được một lực lượng lao động có kiến thức, có tri thức khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học mà theo chúng tôi, không ai khác
ngoài lực lượng lao động trẻ phải đảm đương trọng trách. Muốn giải
quyết việc làm ở khu vực này, cần hướng nghiệp cho thanh niên học sinh
đi vào các ngành nghề nông lâm ngư nghiệp, chế biến, sinh hoá thực
phẩm và có kế hoạch trở về phục vụ nông nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp
phát triển. Như vậy vừa giãn được sức ép về việc làm ở khu vực thành
thị, khắc phục tình trạng sinh viên sau khi tốt nghiệp dồn về các thành
phố lớn làm việc, vừa tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực
nông nghiệp nông thôn đang cần tri thức khoa học công nghệ trên con
đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Đất đai nông nghiệp cũng là nơi
có thể giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên bằng cách khuyến khích
những người trẻ mở mang các trang trại, lâm trại, ngư trại, tạo các ngành
nghề như nuôi trồng thuỷ hải sản, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, trồng
14

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
cây ăn quả, nấm, và các loại cây trồng khác.
- Giải quyết việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề
mũi nhọn. Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 thu hút thêm 4,8 – 5 triệu
lao động trẻ vào khu vực công nghiệp, xây dựng; 2,8 – 3 triệu lao động
trẻ vào khu vực dịch vụ như chiến lược thanh niên đã đề ra thì Nhà nước
phải tìm mọi cách thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực công nghiệp.
Chú trọng mở mang các ngành dịch vụ, trong đó có du lịch và thương mại
là 2 ngành luôn có thế mạnh và ít kén chọn nhân công. Còn đối với khu
vực công nghiệp thì ngành Giáo dục Đào tạo và Dạy nghề phải có đối
sách cung ứng đầy đủ số lao động có tay nghề, được dạy nghề để đáp ứng
yêu cầu, khuyến khích thanh niên học nghề để tìm việc làm tại các khu
công nghiệp tập trung. Tránh tình trạng có việc làm nhưng thiếu nhân
công có tay nghề cao như ở Bình Dương, Đồng Nai, Dung Quất, v.v...
thời gian qua
- Giải quyết việc làm qua việc phục hồi và mở rộng các làng nghề truyền
thống. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia,...
nhờ phục hồi và đầu tư cho các nghề truyền thống mà tạo được việc làm
cho nhiều người, sản xuất được những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
mang lại nguồn lợi đáng kể cho đất nước. Việt Nam là một nước có nhiều
làng nghề truyền thống như chạm khảm, dệt, thêu ren, mây tre đan,... Ví
dụ, riêng phía Nam Hà Nội mới đã có 1.116 làng nghề, trong đó có 411
làng có 20% số hộ làm nghề, 120 làng được cấp bằng công nhận làng
nghề với hơn 50% số dân sống bằng nghề truyền thống, giúp hàng ngàn
lao động nông thôn, trong đó chủ yếu là thanh niên có việc làm. Nếu có
sự quan tâm đầu tư thoả đáng trên khắp cả nước sẽ có hàng vạn làng
nghề, không những giải quyết việc làm được cho nhiều thanh niên mà còn
bảo tồn được ngành nghề truyền thống, mang lại lợi ích lâu dài cho quốc
gia, dân tộc.
Nguồn: Giáo trình topica
3. Giải pháp về cung không gắn với cầu lao động
Trong kinh tế thị trường, phát triển cung lao động phải hướng vào đáp
ứng nhu cầu của thị trường lao động, của xã hội và nhu cầu việc làm, tăng
thu nhập của người lao động, cụ thể:
- Nâng cao thể lực, cải cách nòi giống đảm bảo đáp ứng yêu cầu của nền
sản xuất công nghiệp hiện đại .
- Thực hiện các chính sách phát triển nhân lực vùng sâu, vùng xa, vùng
đông đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng yếu thế trong xã
hội.
15

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
- Phát triển mạnh nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý
về cơ cấu ngành nghề, cấp trình độ và có chất lượng để cung cấp cho các
ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế
trọng điểm, phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập.
- Phát triển nguồn nhân lực thích ứng với thị trường, nhất là phổ cập nghề
cho lao động nông thôn nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
lao động nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá và công nghiệp hóa nông
thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo
an sinh xã hội.
- Tiếp tục giải phóng triệt để sức lao động nhằm phát huy cao nhất tiềm
năng và nguồn vốn nhân lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế; tạo
việc làm theo hướng bền vững và có thu nhập cao; phát triển thị trường
lao động đồng đều trên phạm vi cả nước để gắn kết cung – cầu lao động;
xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; thực hiện công
bằng trong quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập, phụ thuộc vào kết
quả lao động, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
- Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào chương trình đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực với vai trò là người sử dụng cuối cùng.
3.1 Về cầu lao động
- Phát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc
doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà
nước, đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh trong các thành phần
kinh tế…
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; thúc đẩy quá
trình đô thị hoá, tích tụ ruộng đất gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn, giảm dần tỷ
trọng giá trị nông nghiệp trong GDP và lao động nông nghiệp.
- Trong lập quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ phải quan tâm đến
phát triển các khu vực kinh tế trọng điểm, tập trung, các khu công nghiệp,
khu chế xuất..., đồng thời quan tâm đúng mức đến phát triển tiểu thủ công
nghiệp, phát triển các ngành nghề truyền thống, nghề phụ ... để sử dụng
hợp lý lao động tại chỗ, lao động nông nhàn, lao động phổ thông.
- Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị
trường; thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao động; thống
nhất, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp; thực hiện
cơ chế thương lượng, thỏa thuận về tiền lương trong các loại hình doanh
nghiệp theo đúng nguyên tắc của thị trường ... Đồng thời cần nghiên cứu
16

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích
cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao.
3.2 Kết nối cung cầu lao động:
- Củng cố, nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của các tổ chức hoạt
động dịch vụ việc làm theo quy định của pháp luật.
- Rà soát, quy hoạch hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm đáp ứng yêu
cầu của xã hội, tạo niềm tin cho người lao động, người sử dụng lao động
khi sử dụng các mạng lưới giao dịch việc làm.
- Phát triển mạng lưới giao dịch việc làm, có thể áp dụng theo 4 cấp hành
chính (trung ương, tỉnh/ thành phố, quận/huyện, xã /phường) cung cấp
dịch vụ việc làm tới tận hộ gia đình thông qua các cán bộ ở phường, xã,..
- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, dự báo xu hướng
việc làm, nhu cầu của người sử dụng lao động, chi phí đào tạo, tỷ lệ hoàn
trả của đào tạo,… Đồng thời cung cấp đầy đủ các thông tin về dự báo
kinh tế, triển vọng đầu tư, các dự án phát triển, trên cơ sở đó các doanh
nghiệp sẽ dự kiến nhu cầu nguồn nhân lực và chủ động xây dựng các kế
hoạch nhân lực của mình. Đặc biệt, cần đầu tư cho công tác thống kê,
phân tích dữ liệu thông tin thị trường lao động ở cấp tỉnh và kết nối thông
tin giữa các tỉnh nhằm cung cấp, điều phối lao động.
- Đưa các chương trình, như “Chương trình thị trường lao động” tới gần
với người lao động với những thông tin, kỹ năng cần thiết về nghề nghiệp
và những hiểu biết cần thiết khi tìm việc làm. Kết hợp với doanh nghiệp
tổ chức tuyển và đào tạo cấp tốc những kiến thức cơ bản cho lao động
nông thôn để cung cấp kịp thời cho các doanh nghiệp cần tuyển lao động

17

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp

KẾT LUẬN
Vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam đang từng bước được khắc phục, đem lại
những lợi ích to lớn không chỉ cho nền kinh tế nước ta mà còn cho đời
sống của nhân dân, đặc biệt là những người lao động.
Trong giai đoạn tới, chính phủ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi
mới, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa,đạt được mục tiêu cơ bản là một nước công nghiệp hiện đại. Để
thực hiện mục tiêu đó, vấn đề giải quyết thất nghiệp cần tiếp tục được nhà
nước quan tâm đúng mực. Bên cạnh đó, mỗi người lao động nói riêng và
mỗi người dân nói chung cần không ngừng hoàn thiện, trao dồi bản thân
cho phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và nền
kinh tế hội nhập của đất nước.
Bài tiểu luận của nhóm 4 phần nào đã phân tích những đặc điểm, số liệu
về tình trạng thất nghiệp của nước ta hện nay cũng như những giải phá
chính sách mà Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện nhằm giải quyết
vấn đề thất nghiệp.

18

1


Đề tài: Việc làm và thất nghiệp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh tế học vĩ mô (giáo trình dùng trong các trường đại học, cao đẳng
khối kinh tế), Bộ giáo dục và đào tạo, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009
2. Kinh tế vĩ mô (nhà xuất bản kinh tế TPHCM)
3. Giáo trình topica
4. Số liệu Tổng cục thống kê
5. Số liệu Tổng liên đoàn lao động Việt nam
6. Công cụ tra cứu google
7. Các nguồn báo: báo mới, báo lao động...

19

1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×