Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy “từ ngữ về trường học”

Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

DANH MôC CH÷ C¸I VIÕT T¾T
1. KSKN: Sáng kiến kinh nghiệm.
2. SGK : Sách giáo khoa.
3. SGV : Sách giáo viên.

1
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Mt s kinh nghim khi vn dng quan im tớch hp dy: T ng v trng hc
cho hc sinh lp 3
MụC Lục
Tên đề mục

Trang

Danh mục chữ cáI viết tắt


1

PHầN 1: ĐặT VấN Đề.

2

PHầN 2: GiảI quyết vấn đề.

5

1. Cơ sở lý luận.

5

2. Thực trạng của vấn đề.

11

3. Quy trình áp dụng biện pháp mới.

17

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

23

Phần 3: kết luận và kiến nghị

25

1. Kết luận.

25

2. Kiến nghị

27

Tài liệu tham khảo

28

Mục lục

29

Nhận xét - đánh giá của hội đồng khoa học

30

2
Thc hin: V Th Thuý Vinh
Giỏo viờn trng Tiu hc Tiờn Cỏt - Vit Trỡ Phỳ Th


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

PHẦN I : §Æt vÊn ®Ò
Mục tiêu giáo dục Tiểu học được xác định trong điều 25 của Bộ
luật giáo dục như sau: "Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học bậc Trung học cơ sở”. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học
được cụ thể hoá thành mục tiêu các môn học và các hoạt động khác
trong chương trình Tiểu học. Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm
hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
(nghe, nói, đọc, viết) để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt
góp phần hình thành và phát triển các thao tác tư duy. Cung cấp cho
học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt, những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên và con người. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt
và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt góp phần
hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên
mục tiêu giáo dục đòi hỏi phải giáo dục con người phát triển toàn diện
về đức, trí, thể, mĩ. Bậc Tiểu học là bậc nền tảng của quá trình học tập
trước mắt cũng như lâu dài của học sinh cho nên ngay từ đầu bậc học
các em đã phải chú trọng đến rèn cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết
trong tất cả các giờ học, đặc biệt là các phân môn trong Tiếng Việt và
rất cần thiết trong các giờ luyện nói. Luyện từ và câu là phân môn học
tiếp sau phân môn Tập đọc giúp các em chiếm lĩnh những kiến thức cơ
bản về từ ngữ để trở thành một công cụ mới sử dụng trong học tập và
giao tiếp. Rèn kỹ năng nói cho học sinh Tiểu học nói chung và cho học
sinh lớp 3 là rất cần thiết.
Vì sao lại chọn vấn đề: “Từ ngữ về trường học”? Vì “Từ ngữ về
trường học” là vấn đề mà bản thân tôi cũng như các giáo viên ở trường
tôi hết sức quan tâm, đem đến cho các em một cái gì đó gần gũi, thân
thương nhất đối với các em như: Yêu trường, yêu lớp, kính thầy, yêu
bạn, giữ gìn trường lớp sạch sẽ, bảo vệ cảnh quan môi trường nhà
3
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

trường và lớp học xanh, sạch, đẹp. Đồng thời cũng từ chủ điểm về
“Trường học” mà lan toả ra các chủ đề, chủ điểm khác trong quá trình
học tập của các em giúp cho các em phát triển ngôn ngữ trong quá
trình giao tiếp một cách lưu loát, ngắn gọn, lời nói chau chuốt, dễ
nghe, dễ hiểu làm cho các em tự tin hơn trong bất kỳ các cuộc giao tiếp
nào, với bất kì đối tượng mà các em cần giao tiếp.
Vì sao phải vận dụng quan điểm tích hợp để dạy “Từ ngữ về trường
học”? Vì quá trình vận dụng quan điểm tích hợp để dạy “Từ ngữ về
trường học” là do bản thân tôi cùng nhiều giáo viên trong trường cùng
lúc hướng tới nhiều mục đích khác nhau như cung cấp cho các em từ
ngữ cơ về nhà trường như: tiếng trống trường, lễ khai giảng, lễ bế
giảng, thi lên lớp, học sinh giỏi, thầy cô giáo, sách giáo khoa, làm bài
tập,… Những hành vi đạo đức trong khuôn khổ phát triển nhân cách
cho các em, đồng thời qua quá trình tích hợp này tôi đã dạy cho các em
những kỹ năng sống cốt yếu trong đời sống hằng ngày của các em như:
đi học phải đúng giờ; đến trường phải học bài và làm bài đầy đủ; giữ
gìn vệ sinh chung trong khuôn viên nhà trường; các em biết tự chủ, tự
giác trong mọi hoạt động mà các em được thực hiện khi ở trong nhà
trường rồi từ đó làm phong phú thêm vốn từ ngữ cho các em giao tiếp
ở bất kì nơi nào trong thực tế cuộc sống của các em.
Quá trình tích hợp này được tích hợp ở những môn học nào?
Phân môn nào là cơ bản nhất? Bản thân tôi nhận thấy việc tích hợp cần
thiết trong tất cả các môn học. Môn học nào cũng cần tích hợp các nội
dung phù hợp để giáo dục học sinh như: Tích hợp tư tưởng Hồ Chí
Minh vào các môn Tiếng Việt, Đạo đức,… Tích hợp giáo dục môi
trường, giáo dục kỹ năng sống vào các môn như: Tiếng Việt, Đạo đức,
Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Kỹ thuật, Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật,…
đều nhằm mục đích cuối cùng là giúp các em tự tin khi giao tiếp, trao
đổi với thầy cô, bạn bè, người thân trong gia đình hoặc nói diễn thuyết
trước một hội nghị nào đó để cho mọi người cùng nghe được, hiểu
được vấn đề mà các em đang hướng tới trong đó có nói về ngôi trường
thân yêu của các em.
“Trường học” là rất gần gũi với các em. Nói về vấn đề Trường
4
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

học là nói về những cái gần gũi thân thiết với các em như: tiếng trống
trường, lễ khai giảng, lễ bế giảng, thi lên lớp, học sinh giỏi, thầy cô
giáo, sách giáo khoa, làm bài tập,… Nhưng để các em biết nói đúng,
nói hay, nói trôi chảy, mạch lạc có cảm xúc thì là cả một chu trình có
định lượng, có định hướng mà giáo viên là người xây dựng nội dung
và giúp đỡ học sinh nói, để cho các tự tin, tự nhiên khi nói về “Trường
học” của mình và diễn đạt, biểu hiện tình cảm trước bạn bè trong lớp,
trước thầy cô và gia đình mình về “Trường học” thì là cả một vấn đề
không phải là đơn giản. Chính vì vậy, là người giáo viên trực tiếp
giảng dạy phân môn “Luyện từ và câu” ở lớp 3, tôi rất quan tâm đến
vấn đề này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng môn học, chất lượng
giao tiếp cho học sinh nên tôi đã mạnh dạn chọn: “Một số kinh
nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường
học” cho học sinh lớp 3” để nghiên cứu. Tôi hy vọng rằng qua học tập
và nghiên cứu sẽ giúp tôi tích luỹ, tự trang bị cho mình những cơ sở
khoa học, những kiến thức cơ bản để góp phần rèn luyện và hoàn thiện
việc dạy kỹ năng nói cho học sinh Tiểu học nói chung và cho học sinh
lớp 3 nói riêng. Đồng thời đây cũng là những kinh nghiệm nhỏ góp
phần cung cấp cho đồng nghiệp phần nào biện pháp luyện nói cho học
sinh qua các giờ học của phân môn “Luyện từ và câu” dạy từ ngữ theo
chủ đề, chủ điểm nói chung và chủ đề “Trường học” nói riêng ở toàn
cấp học theo vòng xoáy chôn ốc được mở rộng ra dần ở các lớp học
cao hơn.

PHẦN II. Gi¶I quyÕt vÊn ®Ò.
1. Cơ sở lí luận:
5
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

1.1. Cơ sở ngôn ngữ:
Từ có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Từ
là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Vai trò của từ trong hệ thống ngôn
ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy: “Luyện từ và câu” ở Tiểu
học. Không có vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một
phương diện giao tiếp. Việc học từ ở Tiểu học sẽ tạo cho học sinh năng
lực từ ngữ, giúp cho học sinh nói rõ ràng, mạch lạc tiếng mẹ đẻ, tạo
điều kiện để học tập tiếp theo và phát triển toàn diện. Vốn từ của học
sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ càng lớn, càng chính
xác, việc trình bày tư tưởng tình cảm càng rõ ràng, đặc sắc bấy nhiêu.
Số lượng từ, tính đa dạng, tính năng động của từ được xem là điều kiện
quan trọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ nói.
Dạy “Luyện từ và câu” là trang bị cho học sinh một số lý thuyết
về từ vựng học cơ bản như: Cấu tạo từ; nghĩa của từ; các lớp từ. Giúp
học sinh nắm được nghĩa của từ một cách sâu sắc và biết hệ thống hoá
vốn từ một cách có ý thức.
Dạy nghĩa của từ là làm cho học sinh nắm nghĩa của từ, nắm tính
nhiều nghĩa, tính chuyển nghĩa của từ ngữ. Dạy từ ngữ là phải hình
thành cho học sinh kỹ năng phát hiện ra từ mới, nghĩa của từ mới,
những sắc thái khác nhau của từ ngữ trong những ngữ cảnh thực tế
khác nhau. Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học gắn liền với việc giáo
dục học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, yêu Tổ quốc,… làm giàu
cho nhận thức của các em, mở rộng tầm mắt, giúp cho học sinh thấy vẻ
đẹp của quê hương, đất nước, con người; làm cho vốn từ ngữ của các
em ngày càng giàu có, phong phú hơn qua các bài tập được sắp xếp
theo các chủ đề, chủ điểm từ lớp 2 đến lớp 5 theo vòng xoáy chôn ốc
mở rộng ở cuối bậc học.
Dạy thực hành từ ngữ là nhiệm vụ chính yếu, cuối cùng của
dạy “Luyện từ và câu” ở Tiểu học. Dạy thực hành từ ngữ chính là dạy
cho học sinh giao tiếp, dạy trên bình diện phát triển lời nói, là công
việc làm giàu vốn từ cho học sinh trên mọi phương diện giao tiếp
thường ngày.
Hệ thống hoá hay trật tự hoá vốn từ là dạy cho học sinh biết
6
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

cách sắp xếp các từ theo đúng nghĩa của nó một cách có hệ thống trong
trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng, tạo ra tính thường
trực của từ, tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động lời nói được thuận
tiện, hình thành cho học sinh kỹ năng đối chiếu từ trong hệ thống từ
ngữ, đặt từ ngữ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần
nghĩa, đồng âm,… là kỹ năng liên tưởng để huy động vốn từ.
Tích cực hoá vốn từ là dạy cho học sinh kỹ năng sử dụng từ
trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từ tích cực
được học sinh dùng thường xuyên. Tích cực hoá vốn từ là dạy cho học
sinh biết dùng từ ngữ trong việc nói năng giao tiếp của mình.
Văn hoá vốn từ ngữ là đưa ra khỏi vốn từ ngữ tích cực của học
sinh những từ ngữ không văn hoá, dạy cho học sinh biết dùng từ ngữ
đúng phong cách, làm trong sáng, làm đẹp thêm vốn từ ngữ cho học
sinh trong quá trình giao tiếp, góp phần giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt.
1.2. Vị trí của kỹ năng nói.
Học sinh Tiểu học là một thực thể hồn nhiên bắt đầu biết suy
nghĩ và nói ra những điều mình nghĩ dù đó là những điều chưa chín
chắn. Rèn kỹ năng nói cho học sinh là rèn một trong bốn kỹ năng cơ
bản nhất của phân môn Tiếng Việt. Học xong bậc Tiểu học các em phải
biết diễn đạt tốt ý nghĩ của mình. Biết dùng từ ngữ chuẩn xác và nói
câu hoàn chỉnh để biểu đạt ý nghĩ của mình muốn nói. Đây là một giai
đoạn mang tính độc lập cao hơn để dẫn đến tự học ở các lớp trên, học
sinh biết độc lập tư duy học tập. Tư duy là nhận thức, tư duy làm nảy
sinh suy nghĩ, làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Giao tiếp giúp cho tư
duy tốt hơn, khát quát hơn, lôgíc hơn. Ở bậc Tiểu học phân môn Luyện
từ và câu được chia thành hai phần nhỏ là Từ ngữ và Ngữ pháp. Phần
Từ ngữ giúp các em giao tiếp với những từ ngữ hay, câu nói hay ngắn
gọn, rõ ràng có cảm xúc ở các chủ đề nhất định.
1.3. Vai trò của việc rèn kỹ năng nói:
Kết quả học tập của học sinh không chỉ thể hiện ở điểm số của bài
kiểm tra mà nó thể hiện ở lượng kiến thức còn đọng lại trong đầu học
sinh. Kỹ năng nói giúp học sinh biểu lộ hiểu biết của mình. Luyện từ
7
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

và câu là một giờ học tổng hợp, những kiến thức mà học sinh tiếp thu
được tồn tại trong đầu mỗi học sinh dưới mỗi dạng riêng của nó. Sự
cảm nhận về cuộc sống, biết được điều tốt, điều xấu, điều hay, điều đẹp
làm nảy sinh sự đánh giá trong đầu học sinh là mức độ của giai đoạn 1.
Chỉ khi những điều học sinh biết mà học sinh tự nói ra được mới chính
là kiến thức của học sinh có được, nhận thức được, còn ghi nhớ được
trong nhận thức của các em. Vì vậy, mỗi giáo viên cần hướng dẫn để
học sinh bộc lộ những gì mà các em tiếp thu được, lượng kiến thức
trong đầu các em bộc lộ ở mức độ nào để từ đó giáo viên có thể điều
chỉnh phương pháp dạy học hợp lý.
Như vậy, rèn kỹ năng nói cho học sinh vừa có vai trò nâng cao
ngôn ngữ, vừa có vai trò bộc lộ mình để đánh giá. Giờ học Luyện từ và
câu mở rộng vốn từ là một giờ học rèn kỹ năng nói cho học sinh một
cách tổng hợp và rất có hiệu quả. Bên cạnh những cơ sở để dạy tốt một
tiết Luyện từ và câu mở rộng vốn từ theo chủ đề, chủ điểm thì các kỹ
năng nói trong khi dạy giải nghĩa từ và mở rộng vốn từ là một vấn đề
quan trọng. Vì vậy, người giáo viên cần phải:
* Chuẩn bị tốt nội dung bài dạy theo đúng chủ đề, chủ điểm. Cho học
sinh tiếp xúc với đối tượng nói, chủ đề, chủ điểm định nói, sự cảm
nhận của học sinh về chủ đề, chủ điểm cần được lựa chọn những từ
ngữ thường dùng trong các chủ đề, chủ điểm nói chung và chủ đề
“Trường học” nói riêng.
Đánh giá đối tượng, thái độ của học sinh đối với những điều các
em tiếp thu được qua việc tới trường trong chủ đề “Trường học”. Tập
nói, xác định đúng chủ đề định nói, mục đích nói. Cần cho học sinh
thấy rõ những điều cần nói trong chủ đề “Trường học” là: Nói cho ai
nghe? Nói về những vấn đề gì? Nói về trường học để làm gì? …
* Tạo nhu cầu nói cho học sinh: Giáo viên cần nắm được yêu cầu
nói của học sinh, đó là một trong những yêu cầu hết sức đa dạng của
trẻ như: Nói để bộc lộ sự hiểu biết; nói để thể hiện kết quả học tập và
rèn luyện của bản thân; nói để tranh luận thuyết phục người khác; nói
để bàn bạc xây dựng và thăm dò ý kiến, nói để giành điểm số cao để
giành sự chú ý của mọi người,… Vậy người giáo viên phải biết học
8
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

sinh nào cần nói ở nhu cầu nào để biến nó thành động lực, nhân tố kích
thích học sinh nói tốt. Việc quan tâm đến nhu cầu nói của học sinh sẽ
làm cho học sinh tự tin hơn khi nói, bộc lộ hết khả năng nói của mình.
* Tạo nhu cầu nói với mục đích nhận thức: Giáo viên cần đưa ra
những tình huống, chủ đề càng chân thực bao nhiêu thì sự lôi cuốn học
sinh nói càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Như vậy giáo viên không chỉ cung
cấp chủ đề, chủ điểm, cung cấp kiến thức về từ ngữ mà quan trọng hơn
là tạo nhu cầu nói cho học sinh về chủ đề đã chọn. Tạo ra hoàn cảnh,
ngữ cảnh thực tế để học sinh nói tốt. Xây dựng kỹ năng nói cho học
sinh là nói phải tự tin, bình tĩnh, lưu loát, nói phải biết theo hứng thú
của người nghe. Khi nói tránh sự học thuộc lòng, nói ngập ngừng sẽ
làm hạn chế chất lượng nói. Chuẩn bị tốt chủ đề định nói và sự hiểu
biết của mình về chủ đề đó, để lôi cuốn người nghe bằng những lời nói
xúc tích của mình về chủ đề mà mình đang nói.
Tất cả các kỹ năng trên của học sinh cần phải được giáo viên
hướng dẫn dần dần, từng bước qua các từ mở rộng vốn từ, qua sự hiểu
biết và thể hiện mẫu mực trong lời nói về chủ đề của giáo viên. Nói là
những bài học không thành văn nhưng nó đi sâu vào trong suy nghĩ và
từng lời nói của học sinh. Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ
năng nói chứ không dạy cho học sinh cách nói chung chung khi không
có nội dung, chủ đề nói cụ thể.
1.4. Mục đích, yêu cầu của giờ mở rộng vốn từ.
* Mục đích:
Rèn kỹ năng nói trong mở rộng vốn từ là mục đích chính của giờ
học Luyện từ và câu theo chủ đề. Học sinh biết tổ chức, sắp xếp những
từ ngữ, những nghĩa của từ ngữ, những suy nghĩ của học sinh đã chuẩn
bị được do giáo viên cung cấp hoặc do học sinh nhận thức được để làm
cộng cụ nói trong giờ mở rộng vốn từ nói chung và giờ Từ ngữ về
“Trường học” nói riêng. Kỹ năng nói được rèn luyện qua từng bước
sau:
- Lựa chọn đúng chủ đề định nói.
- Dùng từ ngữ với nghĩa chuẩn xác.
- Nói câu đúng, có nghĩa, đủ ý theo chủ đề nói đáp ứng đúng mục
9
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

đích nói.
- Nói tốt thì sẽ viết tốt.
* Yêu cầu:
Giờ học Luyện từ và câu mở rộng vốn từ thực chất là giờ học
cung cấp cho học sinh từ ngữ, nghĩa của từ ngữ để học sinh dùng từ
ngữ đó nói về cảm xúc của mình theo chủ đề đã chọn. Trong giờ học
mở rộng vốn từ là học sinh phải nắm vững được từ, nghĩa của từ, cách
dùng từ để nói thành câu, đoạn, bài về chủ đề, chủ điểm nói chung và
chủ đề “Trường học” nói riêng. Qua cách nói đó học sinh thể hiện cảm
xúc, tình cảm của mình với nhà trường và đề xuất những ý kiến của
mình với thầy cô giáo để giữ mái trường thực sự là của chung các em.
Một giờ Luyện từ và câu mở rộng vốn từ tốt là một giờ học mà
học sinh nào cũng có thể biết được các từ ngữ, nghĩa của các từ ngữ đó
để nói về chủ đề đã lựa chọn, nhưng mỗi học sinh phải có cách nói
riêng, tạo ra những ngôn bản riêng không trùng lặp. Vì vậy giáo viên
phải tạo cho học sinh không khí tự nhiên, hứng khởi, hào hứng, kích
thích cho học sinh muốn nói, mạnh dạn nói ra những điều mà các em
đã tư duy được trong quá trình nhận thức ban đầu để từ đó hướng dẫn
cho các em cách nói có hiệu quả nhất.
Một giờ học Luyện từ và câu mở rộng vốn từ được tiến hành theo
các bước sau:
- Đọc kỹ yêu cầu bài tập.
- Phân tích yêu cầu đề bài, xác định đúng yêu cầu bài tập.
- Đọc kỹ các đoạn văn, đoạn thơ hoặc các yêu cầu gợi ý.
- Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi, tìm từ hay giải thích từ ngữ
bằng cách nói.
- Nhận xét, đánh giá và sửa chữa đúng các bài tập để rút ra nội dung
chính của bài.
- Vận dụng để làm các bài tập liên quan có thể nói, có thể viết về chủ
đề đã cho. Nếu là viết thì cũng trình bày lại bằng miệng nội dung vừa
viết đó. (Đây là đặc trưng riêng của giờ học Luyện từ và câu mở rộng
vốn từ).
1.5. Nguyên tắc dạy phân môn Luyện từ và câu mở rộng vốn từ.
10
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

* Nguyên tắc đồng bộ:
Như chúng ta đã biết lượng từ ngữ học sinh thu thập được trong
giờ mở rộng vốn từ là rất ít so với lượng từ thu thập được ở các môn
học khác, rất nhỏ so với vốn từ cần có của các em. Do vậy không thể
dạy mở rộng vốn từ bó hẹp trong nửa tiết học Luyện từ và câu mà cần
đề ra nguyên tắc đồng bộ và phải tiến hành ở mọi nơi, mọi chỗ, trong
tất cả các môn học, trong tất cả các giờ học khác của môn Tiếng Việt.
Học sinh thu nhận được vốn từ không chỉ qua môi trường học tập
mà còn qua giao tiếp xã hội. Giáo viên cần quản lý và điều chỉnh kịp
thời vốn từ của học sinh để kịp thời loại ra khỏi vốn từ tích cực những
từ ngữ không văn hoá, việc làm này hết sức quan trọng đối với việc
nhiệm vụ hoá vốn từ ngữ để giúp học sinh sử dụng từ ngữ đúng cách.
Tất cả các môn học trong phân môn Tiếng Việt đều có vai trò to
lớn trong việc dạy từ. Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, về con
người góp phần làm giàu vốn từ cho học sinh, giúp học sinh nắm được
vốn từ ngữ tối thiểu để bổ sung cho vốn từ thông dụng của học sinh.
Do vậy giáo viên phải dạy cho học sinh cách phát hiện từ mới, tìm hiểu
nghĩa và cách sử dụng các từ ngữ đó để hoàn thiện vào giờ Luyện từ và
câu.
* Nguyên tắc thực hành.
Nguyên tắc thực hành là dạy học theo quan điểm giao tiếp, phát
triển lời nói. Dạy từ làm giàu vốn từ cho học sinh. Chương trình và
sách giáo khoa mới rất coi trọng phần thực hành còn các khái niệm lý
thuyết thì được hình thành ở dạng đơn giản nhất. Nguyên tắc thực hành
trong dạy mở rộng vốn từ đòi hỏi ngôn ngữ phải thường xuyên bằng
cách luyện nói và hướng học sinh đến cách nói hay, mục đích nói hay
về nội dung chủ đề nhất định. Dạy từ phải gắn với đời sống, gắn với
việc làm giàu những biểu tượng tư duy thông qua những mẫu lời nói
trong hoàn cảnh cụ thể, với đối tượng cụ thể. Vậy nguyên tắc dạy mở
rộng vốn từ đòi hỏi:
- Các bài tập phải được xây dựng trên kinh nghiệm ngôn ngữ cho
học sinh.
- Thiết lập được quan hệ giờ học với việc quan sát hiện thực xung
11
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

quanh.
- Ứng dụng những kiến thức đã học được trong việc phát triển lời
nói cụ thể.
* Nguyên tắc trực quan:
Khi giới thiệu cho học sinh một từ mới một mặt cần phải đồng
thời tác động bằng cả kích thước vật thật và bằng lời nói. Mặt khác học
sinh cần nghe, thấy, phát âm và viết từ mới, đồng thời phải để học sinh
nói thành tiếng hoặc thảo luận nhóm những điều chúng quan sát được.
Giáo viên cần giúp các em phát biểu thành lời, thành từ ngữ những gì
các em đã quan sát được.
* Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ.
Những thành tựu nghiên cứu trong ngôn ngữ học về bản chất
nghĩa của từ, cấu tạo từ, các lớp từ,… là cơ sở để dạy lý thuyết về từ.
Giáo viên cần cho học sinh làm quen với các khái niệm nghĩa của từ,
tính nhiều nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa,… Dạy từ phải nhất thiết tính
đến đặc điểm của từ, mối quan hệ của từ để thiết lập mối tương quan
giữa hình thức và nội dung của tín hiệu từ, biết tách rời ý nhĩa từ vựng
của từ ra khỏi vật được từ gọi tên để tìm ra các phong cách chức năng
của từ. Đó là cơ sở xây dựng bài tập, sự hiểu biết về nghĩa của từ, đặc
điểm của từ sẽ giúp giáo viên xác lập được cho học sinh nội dung và
mục đích dùng từ ngữ để nói theo chủ đề.
Ii. Thực trạng vấn đề
1. Chương trình – Sách giáo khoa – SGV Tiếng Việt - Lớp 3.
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học yêu cầu dạy cả bốn kỹ năng:
Nghe, nói, đọc, viết song song từ lớp 1 đến lớp 5. Tiếng Việt được gắn
với đời sống, với thực tiễn, sử dụng Tiếng Việt ở gia đình, nhà trường
và xã hội, chú trọng yêu cầu tích hợp trong dạy Tiếng Việt. Đó là sự tích
hợp trong việc rèn luyện các kỹ năng Tiếng Việt. Mỗi bài học có một kỹ
năng trọng tâm cần rèn luyện nhưng vẫn kết hợp rèn luyện các kỹ năng
khác bổ sung cho kỹ năng trọng tâm.
Sự đổi mới về chương trình và sách giáo khoa mới kéo theo về đổi
mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết. Để dạy học Tiếng Việt có
hiệu quả cần phải sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích
12
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
1.1. Về nội dung chương trình:
Chương trình Tiếng Việt 3 được tiến hành đồng bộ trong 31 tuần
và 4 tuần ôn tập. Trong đó phân môn Luyện từ và câu có 31 tiết. Phần
Từ ngữ theo chủ đề, chủ điểm có 15 bài trong 15 chủ điểm.
Chương trình phân môn Luyện từ và câu phần Từ ngữ mở rộng
vốn từ được bố trí theo các chủ đề, chủ điểm như sau:
Tuần
2
4
6
8
11
13
15
16
20
22
24
26
29
31
34

Chủ điểm
Măng non
Mái ấm
Tới trường
Cộng đồng
Quê hương
Bắc - Trung - Nam
Anh em một nhà
Thành thị và nông thôn
Bảo vệ Tổ quốc
Sáng tạo
Nghệ thuật
Lễ hội
Thể thao
Ngôi nhà chung
Bầu trời và mặt đất

Nội dung
Từ ngữ về Thiếu nhi
Từ ngữ về Gia đình
Từ ngữ về Trường học
Từ ngữ về Cộng đồng
Từ ngữ về Quê hương
Từ địa phương
Từ ngữ về Các dân tộc
TN về Thành thị - Nông thôn
Từ ngữ về Tổ quốc
Từ ngữ về Sáng tạo
Từ ngữ về Nghệ thuật
Từ ngữ về Lễ hội
Từ ngữ về Thể thao
Từ ngữ về Các nước
Từ ngữ về Thiên nhiên

Số tiết
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5
0, 5

* Nhận xét: Nhìn vào bảng thống kê ta thấy số tiết Luyện từ và câu
mở rộng vốn từ chỉ có 15 bài trong 15 chủ điểm tương ứng với 7,5 tiết
thời lượng dạy Luyện từ và câu. Vậy thời gian cho dạy mở rộng vốn từ
là rất ít và luyện nói trong mở rộng vốn từ lại càng ít hơn chỉ còn lại
một nửa trong 7,5 tiết thời lượng dạy mở rộng vốn từ. Vậy thời lượng
cho luyện nói là rất ít nhưng nhu cầu nói của học sinh lại rất lớn. Thời
gian cho cả phân môn chỉ có từ 35 phút đến 40 phút cho một tiết học
mà phải thực hiện đồng thời hai nội dung chính là dạy Từ ngữ và dạy
13
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

Ngữ pháp. Vì vậy phần luyện nói được thời lượng không đáng kể nếu
không có sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên thì việc rèn kỹ năng
nói chỉ ở mức độ trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa chứ không
phải là luyện nói được thành đoạn, thành bài theo chủ đề. Chính vì thế,
giáo viên phải là người cố vấn thật chính xác, ngắn gọn đi kèm với
những đồ dùng, thiết bị dạy học, tranh ảnh để giúp học sinh hình dung
nhanh, giải nghĩa từ nhanh và có kỹ năng sắp xếp từ ngữ thành câu đầy
đủ để trả lời câu hỏi thành câu, thành đoạn hoàn chỉnh, gọn gàng nói về
một chủ đề, chủ điểm đã cho.
Phương pháp của môn học là phương pháp thực hành giao tiếp
(nghe, nói, đọc, viết) trong các tình huống cụ thể. Một trong những điều
kiện quan trọng giúp thực hiện tốt các phương pháp dạy học thông qua
hoạt động dạy học là các phương tiện và thiết bị dạy học.
1.2. Về sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt 3.
Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt 3 đã được biên soạn
theo hướng đổi mới nhằm tạo điều kiện tốt nhất để tổ chức hoạt động
dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhất là hoạt động thực
hành. Chú trọng đến các loại thiết bị dạy học để giúp học sinh tạo ra các
sản phẩm lời nói.
Năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ chương thay sách
giáo khoa và chương trình học ở Tiểu học. Chương trình, sách giáo
khoa và sách giáo viên Tiếng Việt 3 đã được biên soạn với mục đích
giới thiệu một phương án dạy - học các bài học theo chương trình Tiểu
học mới. Chương trình, sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt 3
đã được đưa vào thực hiện đại trà từ năm học 2004 – 2005. So với
chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 3 được sử dụng từ năm học
2003 – 2004 trở về trước thì chương trình và sách giáo khoa mới có
những thay đổi nhất định. Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 mới đã đưa
phần Luyện từ và câu là tổng hợp của cả hai phân môn Từ ngữ và Ngữ
pháp trước kia làm một và phần Từ ngữ trở thành mở rộng vốn từ với
mục đích rèn luyện cho học sinh cùng lúc cả bốn kỹ năng: Nghe, nói,
đọc, viết. Dựa trên những định hướng cụ thể đó, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã xây dựng chương trình và sách giáo khoa môn Tiếng Việt 3 với
14
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

những điểm mới, điểm ưu việt cho giáo dục Tiểu học.
2. Thực tiễn dạy và học phân môn Luyện từ và câu nói chung và
từ ngữ về “Trường học” nói riêng.
a. Thuận lợi:
- Luyện nói mở rộng vốn từ là phần học tiếp theo của lớp 2. Ở lớp
2 các em cũng đã được rèn kỹ năng nói ở các chủ đề theo vòng xoáy
chôn ốc. Càng lên lớp trên việc rèn kỹ năng nói mở rộng vốn từ càng
được mở rộng hơn bằng việc trả lời câu hỏi, nói nghĩa của từ và đặt
câu với từ ngữ cho sẵn để thấy nghĩa của từ trong văn cảnh cụ thể đó
là: Trường học.
- Rèn kỹ năng nói mở rộng vốn từ theo chủ đề ở lớp 3 ngày càng
được hoàn thiện hơn, với chủ đề “Trường học” thì lại rất gần gũi với
các em. Các từ ngữ trong chủ đề là những từ thường dùng, thường
ngày đối với các em nên nó thường là các từ rõ nghĩa, dễ dùng, dễ phát
âm.
- Tư duy theo chủ đề có phần thuận lợi hơn đối với các em vì chủ
đề có sẵn, câu hỏi có sẵn, hình ảnh có sẵn trong thực tế đó là ngôi
trường, nhà trường mà các em đang theo học.
- Cách nói của học sinh lớp 3 có phần mạnh dạn hơn, nhận thức về
từ ngữ của các em có phần nhanh hơn. Tư duy câu, đoạn gọn hơn về
ngôi trường, thầy cô giáo, về bạn bè của các em.
- Câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa cụ thể, rõ ràng, nội dung thực
tế, gần gũi, dễ hiểu.
b. Khó khăn:
- Thời lượng cho môn học ít. Nội dung kiến thức học thì quá nhiều.
Lượng kiến thức tung ra quá lớn. Yêu cầu cần đạt cao. Chính vì thế
nhiều học sinh còn nắm bài chưa hết, không chắc chắn dẫn đến học
sinh được nói ít và thể hiện khả năng nói kém.
- Trình độ học sinh ở trong lớp không đồng đều nên việc luyện nói,
rèn kỹ năng nói thường áp đặt, gò bó ở mức độ trả lời câu hỏi theo
sách giáo khoa chứ không còn phần nói mở rộng là chưa nhiều chưa
theo chủ đề đang học nói chung.
- Nhận thức về từ ngữ của học sinh còn hạn chế, cách sử dụng từ,
15
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

nói câu lưu loát, rõ nghĩa nên làm người nghe khó hiểu điều học sinh
định nói.
- Nhiều học sinh trong lớp còn nói ngọng, phát âm từ ngữ chưa
chuẩn nên nhiều khi nói các em còn mắc các từ ngữ khó, phát âm sai
dẫn đến ý định nói bị hiểu sai và khi viết thì dùng từ khi nói bị chuyển
nghĩa làm cho người đọc, người nghe có thể hiểu sai về điều mà các
em định nói.
** Sau đây là một giờ dạy: Luyện từ và câu.
Từ ngữ về trường học - Dấu chấm.
Từ ngữ về Trường học là bài tôi đã thực dạy ở lớp 3B - Trường
Tiểu học Sông Lô - Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ khi chưa áp
dụng, vận dụng dành thời gian cho học sinh luyện nói mở rộng mà chỉ
ở mức độ trả lời hết các câu hỏi trong sách giáo khoa để tìm ra từ mới
qua các gợi ý trả lời câu hỏi và điền ô chữ ở sách giáo khoa.
Hoạt động của thầy
1. Tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ:
? Hãy tìm các thành ngữ nói về tình cảm
gia đình?
3. Bài mới: Giới thiệu bài + ghi bảng.
Luyện từ và câu
Từ ngữ về Trường học - Dấu chấm.
a. Hoạt động 1: HD làm bài tập
* Bài tập 1 (50)
- GV treo bảng phụ kẻ sẵn ô chữ.
- Đọc các gợi ý SGK để tìm các từ cần điền
vào các ô chữ theo mẫu.
- HD HS trả lời câu hỏi theo gợi ý:

Hoạt động của trò
- Hát.
- 2 HS nói – nhận xét.
- 2 HS nhắc lại tên bài.
- HS đọc yêu cầu bài tập.
- Vài HS đọc.

- HS lên bảng trả lời câu hỏi
hỏi và điền từ vào ô chữ.
- HD HS giải nghĩa thêm một số từ: diễu - Nhiều HS nói theo ý
hành, thời khoá biểu,…
hiểu.
? Giải ô chữ để tìm từ khoá của bài là gì?
+ Lễ khai giảng.
16
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

? Em đi khai giảng vào ngày nào?
- Vài HS nói.
- GV chốt ý kiến đúng và khen ngợi các em
trả lời câu hỏi đúng và tìm ra ô chữ.
* Bài tập 2 (52) Không lựa chọn.
b. Hoạt động nối tiếp: Củng cố nhận xét
giờ học.
Qua giáo án trên, một giờ dạy và học Luyện từ và câu: Từ ngữ về
“Trường học” giáo viên đã sử dụng hết thời gian là 22 phút cho phần dạy
Từ ngữ về Trường học, chỉ còn phút lại 13 dành cho dạy và học nội dung
thứ hai là Dấu chấm. Thời gian để dành cho điền ô chữ và giải nghĩa một số
từ đã chiếm đến 15, 17 phút rồi, chỉ còn lại khoảng 7 phút là cho các em nói
một câu đơn giản cuối bài. Thời gian ít, số lượng học sinh chuẩn bị để nói
lên nhận thức và hiểu biết của các em về Trường học là rất ít, mà việc nói
của các em chỉ là trả lời thêm câu hỏi: Em đi khai giảng vào ngày nào? chứ
chưa nói được gì thêm vì hết thời gian. Chính vì vậy, kết quả của việc rèn
kỹ năng nói cho học sinh là rất thấp và kém hiệu quả.
* Bảng khảo sát chất lượng trước khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm
tại lớp 3B - trường Tiểu học Sông Lô – Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ.
Bài dạy: Từ ngữ về trường học - Dấu chấm.
Nội dung khảo sát
Chất lượng đạt được
- Số lượng học sinh:
- 24 em.
- Số lượng học sinh được nói:
- 12 em.
- Số lượng học sinh nắm được bài:
- 20 em.
- Số học sinh có khả năng nói tốt:
- 6 em.
- Số học sinh nói rõ ràng nhưng chưa hay:
- 9 em.

III. C¸c biÖn ph¸p míi
1. Nắm vững Mục đích – Yêu cầu và các từ ngữ dùng trong chủ
17
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

đề luyện nói về “Trường học”.
- Chuẩn bị tốt nội dung bài dạy theo đúng chủ đề, chủ điểm. Cho học
sinh tiếp xúc với đối tượng nói, chủ đề, chủ điểm định nói, sự cảm
nhận của học sinh về chủ đề, chủ điểm cần được lựa chọn những từ
ngữ thường dùng trong các chủ đề, chủ điểm nói chung và chủ đề
“Trường học” nói riêng.
- Đánh giá đối tượng, thái độ của học sinh đối với những điều các
em tiếp thu được qua việc tới trường trong chủ đề “Trường học”. Tập
nói, xác định đúng chủ đề định nói, mục đích nói. Cần cho học sinh
thấy rõ những điều cần nói trong chủ đề “Trường học” là: Nói cho ai
nghe? Nói về những vấn đề gì? Nói về trường học để làm gì?...
2. Tạo nhu cầu nói cho học sinh:
- Giáo viên phải lựa chọn hệ thống câu hỏi gợi ý đơn giản, dễ hiểu,
gần gũi và phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Giáo viên cần nắm được yêu cầu nói của học sinh, đó là một trong
những yêu cầu hết sức đa dạng của trẻ như: Nói để bộc lộ sự hiểu biết;
nói để thể hiện kết quả học tập và rèn luyện của bản thân; nói để tranh
luận thuyết phục người khác; nói để bàn bạc xây dựng và thăm dò ý
kiến, nói để giành điểm số cao để giành sự chú ý của mọi người,…
Vậy người giáo viên phải biết học sinh nào cần nói ở nhu cầu nào để
biến nó thành động lực, nhân tố kích thích học sinh nói tốt. Việc quan
tâm đến nhu cầu nói của học sinh sẽ làm cho học sinh tự tin hơn khi
nói, bộc lộ hết khả năng nói của mình.
3. Tạo nhu cầu nói với mục đích nhận thức:
- Giáo viên chuẩn bị bài chu đáo, kỹ lưỡng, cần đưa ra những tình
huống, chủ đề càng chân thực bao nhiêu thì sự lôi cuốn học sinh nói
càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Như vậy giáo viên không chỉ cung cấp chủ
đề, chủ điểm, cung cấp kiến thức về từ ngữ mà quan trọng hơn là tạo
nhu cầu nói cho học sinh về chủ đề đã chọn. Tạo ra hoàn cảnh, ngữ
cảnh thực tế để học sinh nói tốt. Xây dựng kỹ năng nói cho học sinh là
nói phải tự tin, bình tĩnh, lưu loát, nói phải biết theo hứng thú của
người nghe. Khi nói tránh sự học thuộc lòng, nói ngập ngừng sẽ làm
hạn chế chất lượng nói, chuẩn bị tốt chủ đề định nói và sự hiểu biết của
18
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

mình về chủ đề đó để lôi cuốn người nghe bằng những lời nói xúc tích
của mình về chủ đề mình đang nói.
Tất cả các kỹ năng trên của học sinh cần phải được giáo viên
hướng dẫn dần dần, từng bước qua các từ mở rộng vốn từ, qua sự hiểu
biết và thể hiện mẫu mực trong lời nói về chủ đề của giáo viên. Nói là
những bài học không thành văn nhưng nó đi sâu vào trong suy nghĩ và
từng lời nói của học sinh. Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ
năng nói chứ không dạy cho học sinh cách nói chung chung khi không
có nội dung, chủ đề nói cụ thể.
4. Kỹ năng nói được rèn luyện qua từng bước sau:
- Lựa chọn đúng chủ đề định nói; đọc kỹ yêu cầu bài tập.
- Phân tích yêu cầu đề bài, xác định đúng yêu cầu bài tập.
- Đọc kỹ các đoạn văn, đoạn thơ hoặc các yêu cầu gợi ý.
- Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi, tìm từ hay giải thích từ ngữ
bằng cách nói.
- Dùng từ ngữ với nghĩa chuẩn xác.
- Nói câu đúng, có nghĩa, đủ ý theo chủ đề nói đáp ứng đúng mục
đích nói.
- Nói tốt thì sẽ viết tốt.
- Nhận xét, đánh giá và sửa chữa đúng các bài tập để rút ra nội dung
chính của bài.
5. Có đầy đủ đồ dùng, thiết bị dạy học phù hợp. Vận dụng để làm các
bài tập liên quan có thể nói, có thể viết về chủ đề đã cho. Nếu là viết
thì cũng trình bày lại bằng miệng nội dung vừa viết đó. (Đây là đặc
trưng riêng của giờ học Luyện từ và câu mở rộng vốn từ).
- Các bài tập phải được xây dựng trên kinh nghiệm ngôn ngữ cho học
sinh.
- Thiết lập được quan hệ giờ học với việc quan sát hiện thực xung
quanh.
- Ứng dụng những kiến thức đã học được trong việc phát triển lời nói
cụ thể.
6. Cần tạo không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, sôi nổi.
7. Giáo viên phải có giọng nói tốt, phát âm chuẩn và có sự chuẩn bị kỹ
19
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

về vốn từ ngữ cho chủ đề bài học. Phối kết hợp với các môn học khác
để rèn kỹ năng nói cho học sinh.
8. Khi nhận xét, đánh giá bài nói cho học sinh phải tỉ mỉ, rõ ràng, nêu
cách sửa chữa khắc phục và phải công minh, công bằng.
Một giờ dạy Luyện từ và câu mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 tôi
đã thực theo các biện pháp mới gồm những bước sau:
* Bước 1: Giới thiệu bài + Ghi bảng + Nhắc lại đầu bài.
* Bước 2: Học sinh đọc yêu cầu bài tập.
* Bước 3: Học sinh đọc gợi ý SGK hoặc tra từ điển.
* Bước 4: Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi, sắp xếp câu và nói về
chủ đề.
* Bước 5: Học sinh nói trước lớp.
* Bước 6: Nhận xét, sửa chữa, bổ sung, rút kinh nghiệm chuẩn bị cho
bài viết (nếu có).
Sau đây là một giáo án cụ thể mà tôi đã tiến hành soạn, giảng theo
hướng rèn luyện kỹ năng nói nhiều hơn cho các em học sinh lớp 3A Trường Tiểu học Sông Lô được rút kinh nghiệm từ tiết dạy trước ở lớp
3B - Trường Tiểu học Sông Lô - Việt Trì – Phú Thọ trong thời gian 22
phút.
Luyện từ và câu
Từ ngữ về Trường học.
I. M ục đ ích - Yêu cầu:
- Tìm được một số từ ngữ về Trường học qua bài tập giải ô chữ.
- Rèn kỹ năng dùng từ để nói về Trường học lưu loát, rõ ràng, thể
hiện cảm xúc.
- Giáo dục lòng yêu trường, kính thầy yêu bạn, chăm chỉ học tập.
II. Đồ dùng dạy học:
- GV: SGK; bảng phụ, thẻ chữ, từ điển, phiếu học tập.
- HS: SGK.
III. Các hoạt động dạy học chủ yếu:
20
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

Hoạt động của thầy
1. Tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ:
? Qua bài tập đọc: “Ngày khai trường” em thấy
ngày khai trường có gì vui?
3. Bài mới: Giới thiệu bài + ghi bảng.
a. Hoạt động 1: HD làm bài tập
* Bài tập 1 (50)
- GV treo bảng phụ theo mẫu SGK có gắn các
thẻ chữ quay mặt trái ra ngoài.
- Đọc các gợi ý SGK.
- Chia các gợi ý của ô chữ thành 6 phần, chia
lớp thành 6 nhóm theo nội dung của phiếu học
tập với thời gian 6 phút.
- Lật (gắn) ô chữ để tìm ra từ khoá của bài tập
(cử một học sinh làm).
? Muốn được lên lớp em phải làm gì? Cảm giác
của em khi được lên lớp?
? Để phục vụ tốt cho việc học tập ngoài SGK ra
em còn dùng loại sách nào nữa? Hãy kể tên vài
cuốn sách tham khảo mà em có?
? Đến trường em phải làm gì để cho cha mẹ vui
lòng?
? Hãy nói xem thời gian nghỉ giữa buổi học thì
em làm gì?
? Tìm từ trái nghĩa với từ “lười biếng”; “lười
học”? Em đã chăm học chưa?
? Đặt câu với từ “thông minh”?
? Ngoài các thầy cô giáo dạy trên lớp, trường
học em còn có những ai?
- GV giúp đỡ HS khi các em nói (nếu cần).
? Từ khoá xuất hiện trong bài là gì?

Hoạt động của trò
- Hát.
- 2 HS nói – 1 HS
nhận xét.
- 2 HS nhắc lại tên
bài.
- HS đọc yêu cầu
bài tập.
- 2 HS đọc nối tiếp.
- HS thảo luận
nhóm và luyện nói
trong nhóm.
- Đại diện các
nhóm trình bày ý
kiến (bất kỳ HS
nào trong nhóm).
- HS nhận xét, bổ
sung.

21
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

? Lễ khai giảng được tổ chức vài thời gian nào?
Em đã được dự bao nhiêu buổi lễ khai giảng
rồi?
? Hãy nói cảm xúc của em về ngày lễ khai
giảng?
- GV HD HS giải nghĩa thêm: diễu hành, giảng
bài, thời khoá biểu.
- GV hệ thống bài học theo câu hỏi tóm tắt:
? Để nói về chủ đề Trường học người ta dùng
những từ ngữ nào? Từ ngữ nào chúng ta phải
tránh?
- GV có thể cung cấp thêm cho HS một số từ
liên quan như: tựu trường, giờ học, bài kiểm tra,
thời gian biểu, dạy học,…

- Nhiều HS nói +
nhắc lại: Lễ khai
giảng.
- Nhiều HS nói.

- Nhiều HS nói, bổ
sung.
- Vài HS kể thêm.

PHIẾU HỌC TẬP
* Phiếu 1: Gợi ý cho câu hỏi 1+ 2 (SGK – 50).
22
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

? Muốn được lên lớp em phải làm gì? Cảm giác của em khi được lên lớp?
* Phiếu 2: Gợi ý cho câu hỏi 3 (SGK – 50).
? Để phục vụ tốt cho việc học tập ngoài SGK ra em còn dùng loại
sách nào nữa? Hãy kể tên vài cuốn sách tham khảo mà em có?
* Phiếu 3: Gợi ý cho câu hỏi 4 + 5 (SGK – 50).
? Đến trường em phải làm gì để cho cha mẹ vui lòng?
* Phiếu 4: Gợi ý cho câu hỏi 6 + 7 (SGK – 50).
? Hãy nói xem thời gian nghỉ giữa buổi học thì em làm gì?
* Phiếu 5: Gợi ý cho câu hỏi 8 + 9 (SGK – 50).
? Tìm từ trái nghĩa với từ “lười biếng”; “lười học”? Em đã chăm học
chưa?
* Phiếu 6: Gợi ý cho câu hỏi 10 + 11 (SGK- 50).
? Đặt câu với từ “thông minh”?
? Ngoài các thầy cô giáo dạy trên lớp, trường học em còn có những
ai?

IV. HiÖu qu¶ của sáng kiến kinh nghiệm
* Địa bàn, đối tượng:
- Học sinh lớp 3A – 3B Trường Tiểu học Sông Lô - Thành phố Việt
Trì - Tỉnh Phú Thọ.
23
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

* Phương pháp:
- Thực tiễn giảng dạy.
- Phương pháp đàm thoại, hỏi đáp.
- Phương pháp thực hành.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá.
- Phương pháp thống kê.
* Bảng khảo sát chất lượng tiết dạy:
Luyện từ và câu
Từ ngữ về Trường học.
Với cùng một bài dạy ở hai trước và sau khi thực hiện sáng kiến
kinh nghiệm với cùng trình độ nhận thức, số lượng học sinh của hai
lớp tương đối như nhau. Tôi đã thu được kết quả như sau:
Trước SD SKKN lớp 3B

Sau SD SKKN lớp 3A

- Bài dạy: Từ ngữ về Trường học.
- Số lượng học sinh: 24 em.
- Số lượng học sinh được nói: 12 em.
- Số lượng học sinh nắm được bài: 20 em.

- Bài dạy: Từ ngữ về Trường học.
- Số lượng học sinh: 25 em.
- Số lượng học sinh được nói: 25 em.
- Số lượng học sinh nắm vững bài:
23 em.
- Số học sinh có khả năng nói tốt: 6 em.
- Số học sinh có khả năng nói tốt:
14 em.
- Số học sinh nói rõ ràng nhưng chưa hay: - Số học sinh nói rõ ràng nhưng
9 em.
chưa hay: 4 em.

Nhìn vào bảng so sánh cho thấy hiệu quả:
* Đối với giáo viên: Giờ học nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn, giáo viên
nói ít hơn nhưng lại gián tiếp cung cấp được cho học sinh một vốn từ
24
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Một số kinh nghiệm khi vận dụng quan điểm tích hợp để dạy: “Từ ngữ về trường học”
cho học sinh lớp 3

phong phú, đồng thời thấy tự tin thoải mái hơn. Tiết dạy được người
dự đánh giá cao.
* Đối với học sinh: Trong giờ học các em được luyện nói nhiều, chất
lượng nói tốt hơn, giờ học thoải mái hơn, các em có cơ hội bày tỏ nhận
thức và cảm xúc của mình về ngày khai giảng, các em nói hay hơn, câu
văn gãy gọn, xúc tích hơn.

PHẦn III. KÕt luËn vµ kiÕn nghÞ
25
Thực hiện: Vũ Thị Thuý Vinh
Giáo viên trường Tiểu học Tiên Cát - Việt Trì – Phú Thọ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×