Tải bản đầy đủ

Vận dụng EVA để đánh giá thành quả hoạt động tại công ty cổ phần đường quảng ngãi (tt)

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM THỊ HUỆ

VẬN DỤNG EVA ĐỂ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ
HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG
QUẢNG NGÃI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2019


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. HOÀNG TÙNG

Phản biện 1: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

Phản biện 2: GS.TS. Đặng Thị Loan

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 23 tháng 02 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự biến động liên tục và khó đoán của nền kinh tế thị
trường thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là sự gia tăng về số
lượng doanh nghiệp, điều đó đồng nghĩa cho mức độ cạnh tranh
ngày càng khốc liệt hơn. Thực tế là nhà đầu tư sẽ có nhiều lựa chọn
hơn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư để sinh lời. Do đó nhiệm vụ
của các nhà quản trị doanh nghiệp đặt ra là phải không ngừng tăng
cường hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính, tạo ra giá trị thật cho
cổ động của mình bằng cách phản ánh rõ ràng, nhanh chóng và chính
xác giá trị lợi nhuận. Tuy nhiên hệ thống kế toán vẫn không đủ và
không khống chế lại những thách thức từ thị trường vốn ngày càng
hoạt động hiệu quả vì nó yêu cầu doanh nghiệp phải phân phối các
nguồn vốn hiệu quả hơn. Để có một sự đánh giá chính xác về kết quả
hoạt động kinh doanh của một tổ chức, một đơn vị sự nghiệp kinh
doanh trong một thời kỳ đã, đang và sẽ là một công việc khó thực
hiện đối với các nhà đầu tư. Và để có thể tồn tại, phát triển và đặc
biệt là tạo lòng tin cho nhà đầu tư thì đòi hỏi các nhà quản trị doanh
nghiệp cần phải có công cụ quản lý tài chính hiện đại và hiệu quả để
phán ánh tốt hơn những cơ hội cũng như cậm bẫy trong điều kiện
kinh tế. Trong thực tế, các doanh nghiệp đã sử dụng các thước đo
truyền thống để đánh giá thành quả hoạt động như: tỷ suất sinh lợi
trên tổng tài sản (ROA), vòng quay hàng tồn kho (Inventory
Turnover), vòng quay tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần
(ROE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), lợi nhuận.Tuy nhiên, việc
sử dụng các thước đo truyền thống trên để đánh giá thành quả hoạt
động doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế:
Thứ nhất, hầu hết các thước đo truyền thống không tính đến


2
chi phí sử dụng vốn, đặc biệt là chi phí sử dụng vốn chủ - là chi phí
cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy,
chúng chưa chỉ ra được liệu rằng doanh nghiệp có tạo ra giá trị cho
mình và cổ đông hay không. Thứ hai, cơ sở để xác định các thước đo
truyền thống đều dựa trên số liệu kế toán. Nhưng số liệu kế toán
được ghi nhận lại dựa trên một số giả định và tuân thủ các nguyên
tắc kế toán chung được thừa nhận nên sẽ dẫn đến một số hạn chế
như: hạn chế trong việc xác định lợi nhuận, hạn chế trong việc phản
ánh vốn đầu tư. Một “thước đo vạn năng” phù hợp nhất cho việc sử
dụng đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp và có thể thay
thế được cho các thước đo khác: Đó chính là thước đo EVA
(Economic Value Added- giá trị kinh tế tăng thêm), EVA cũng là
một thước đo hữu ích đối với nhà đầu tư khi muốn định lượng giá trị
mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có
thể dùng thước đo EVA để so sánh doanh nghiệp này với các doanh
nghiệp khác cùng ngành một cách nhanh chóng.Bên cạnh đó, số liệu
kế toán là số liệu ban đầu sử dụng cho việc tính giá trị kinh tế tăng
thêm và sự thiết lập số liệu kế toán dựa trên một số giả định và tuân
thủ theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận GAAP, dẫn
đến sự khác biệt với giữa giá trị theo sổ sách kế toán và giá trị thị
trường của các loại tài sản và nguồn vốn; lợi nhuận trên báo cáo kế
toán khác biệt với số tiền tạo ra cho cổ đông và càng khó kiểm soát
được nếu như các số liệu kế toán này đã được cố tình chỉnh sửa theo
mục đích riêng. Vì vậy, một số điều chỉnh khi tính EVA đã được
thực hiện để giảm sự khác biệt này.
Tuy nhiên, việc ứng dụng rộng rãi thước đo EVA như là một
công cụ hữu hiệu nhất để đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh
trong các doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn. Nhận thức


3
được tầm quan trọng cũng như tính hữu hiệu của thước đo EVA, tác
giả đã đi đến chọn đề tài: "Vận dụng EVA để đánh giá thành quả
hoạt động tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi".Nội dung luận
văn của tác giả nhằm hệ thống hóa lại các tiêu thức được áp dụng
trong việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp,
tập trung đến việc phân tích với một loại thước đo mới sẽ khắc phục
được những hạn chế vốn có của các thước đo truyền thống, giúp cho
các nhà quản lý cũng như những nhà đầu tư biết được giá trị thật sự
được tạo ra từ thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Khi được xây
dựng, tính toán một cách chính xác, khách quan thì EVA sẽ là "kim
chỉ nam "cho các nhà quản lý và các nhà đầu tư đánh giá về sự thành
công trong tương lai của một doanh nghiệp. Ngoài ra, EVA còn là
thước đo tốt nhất để đánh giá và khen thưởng cho những nhà quản lý
các bộ phận, giúp cho các nhà quản lý bộ phận hướng mục tiêu của
bộ phận vào mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là vận dụng EVA để đánh giá
thành quả hoạt động của Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi. Để
đạt được mục tiêu trên, tác giả thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu
sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến thành quả hoạt
động của doanh nghiệp và thước đo tài chính EVA.
- Phân tích thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công
ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.
- Vận dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt
động tại Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:


4
Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty
cổ phần Đường Quảng Ngãi.
-

Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ cho quá trình nghiên
cứu được lấy từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của doanh
nghiệp năm 2017 nhằm đưa ra một kết quả cụ thể và chính xác hơn.
 Phạm vi về không gian: Công ty cổ phần Đường Quảng
Ngãi.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
 Cách tiếp cận:
Thông qua nghiên cứu tài liệu liên quan nội dung cơ sở lý luận
về thước đo EVA và tác giả đã đi sâu nghiên cứu nội dung phân tích
về việc vận dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động tại
Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.
 Phương pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu,
gồm:
+ Phương pháp phân tích;
+ Phương pháp so sánh;
+ Phương pháp tham khảo tài liệu để vận dụng vào nghiên
cứu;
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: đề tài đã hệ thống hóa được những lý luận về
đánh giá thành quả hoạt động, công cụ kế toán EVA dùng để đánh
giá thành quả hoạt động cũng như sự ảnh hưởng của thước đo này
đến thành quả hoạt động ở doanh nghiệp.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho các doanh
nghiệp, nhà quản lý và đặc biệt là nhà đầu tư hiểu hơn về tính tính
hữu hiệu của thước đo EVA. Đồng thời, kết quả này cũng có thể


5
nhân rộng để áp dụng cho các doanh nghiệp khác tham khảo và vận
dụng phù hợp trong hoàn cảnh, điều kiện của mình trong việc đánh
giá thành quả hoạt động.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp và
vận dụng EVA trong đánh giá thành quả.
Chương 2: Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công
ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.
Chương 3: Vận dụng thước đo EVA trong đánh giá thành quả
hoạt động tại Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hệ thống kế toán từ lâu đã khẳng định vai trò của mình trong
việc hỗ trợ cho nhà quản lý trong quá trình vận hành doanh nghiệp,
đồng thời phục vụ cho việc kiểm soát và đánh giá thành quả hoạt
động tại doanh nghiệp đó. Việc áp dụng các công cụ kế toán quản trị
trong việc đánh giá thành quả hoạt động ở các doanh nghiệp Việt
Nam là không bắt buộc nên mức độ áp dụng và cách áp dụng các
công cụ này ở mỗi doanh nghiệp là không giống nhau. Đã có những
nguyên cứu về việc vận dụng công cụ kế toán trong việc đánh giá
thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong đó có nghiên cứu về
đánh giá thành quả hoạt động của:
Kaplan và Norton (1992) với chủ đề “The Balanced Scorecard
– Measures that drive performance” đã đưa ra một cái nhìn tổng thể
về việc đánh giá thành quả hoạt động hướng đến 4 phương diện quan
tâm đến lợi ích của nhà đầu tư, lợi ích của khách hàng cũng như có
cái nhìn chuyên sâu về những ưu điểm của chính doanh nghiệp trong


6
quá trình hoạt động và cách cải thiện nâng cao hiệu quả công việc.
Đây cũng là công cụ tích hợp được những yếu tố tài chính và phi tài
chính (quan tâm đến khía cạnh khách hàng, hoạt động nội bộ và tiến
bộ cùng học hỏi trong doanh nghiệp) dùng để đánh giá thành quả của
doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Ahmad và Zabri (2013) với chủ đề: “The
relationship between the use of management accounting practices
and the performance of Malaysian medium-sized enterprises”, đề tài
tìm hiểu về sự ảnh hưởng của việc áp dụng các công cụ kế toán quản
trị đến thành quả hoạt động trong những công ty cỡ vừa ở Mã Lai,
qua đó nghiên cứu này đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa các
công cụ kế toán quản trị và thành quả hoạt động. Kết quả từ nghiên
cứu đã cho thấy các công cụ kế toán quản trị góp phần ủng hộ quan
điểm cho rằng việc sử dụng các công cụ kế toán quản trị sẽ làm tăng
thành quả hoạt động ở 5 khía cạnh là: năng suất, lợi nhuận, hiệu quả
hoạt động bình quân, tỷ lệ giao hàng đúng giờ và tốc độ tăng trưởng
dòng tiền. Kết quả còn chỉ ra rằng những doanh nghiệp nào sử dụng
kế toán quản trị chiến lược ở mức độ thường xuyên sẽ cho tác động
tích cực đến thành quả chung của toàn doanh nghiệp.
Đối với sự ảnh hưởng của các công cụ kế toán quản trị đến
thành quả hoạt động có nghiên cứu của Ahmed và Magdy (2007) với
chủ đề “Non-financial performance measurement and management
practices in manufacturing firms: A comparative international
analysis”, đề tài nghiên cứu về việc đánh giá thành quả hoạt động phi
tài chính cùng với những công cụ kế toán quản trị được sử dụng
trong những công ty sản xuất, đồng thời việc khảo sát được thực hiện
đồng thời ở Anh, Ý, Nhật Bản và Canada cùng với việc so sánh mức
độ sử dụng các công cụ kế toán quản trị hiện đại và mối liên hệ giữa


7
các công cụ này với các thước đo trong đánh giá thành quả phi tài
chính. Kết quả cho thấy rằng, có sự khác biệt trong mức độ áp dụng
các kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại ở các nước khác nhau, việc sử
dụng các kỹ thuật kế toán quản trị tiên tiến này không có sự khác biệt
giữa các ngành công nghiệp khác nhau và tầm quan trọng của việc
đánh giá thành quả phi tài chính ở mỗi nước cũng có phần khác
nhau. Đối với mức độ sử dụng các thước đo đánh giá thành quả hoạt
động phi tài chính ở cấp độ phân xưởng lại có sự khác nhau đáng kể
trong việc sử dụng 5 bộ thước đo: chất lượng sản phẩm, sự hài lòng
của khách hàng, giao hàng đúng giờ, tinh thần của nhân viên, sự hữu
hiệu và hữu dụng trong việc sử dụng các kỹ thuật, công nghệ, công
cụ kế toán quản trị hiện đại trong các doanh nghiệp sản xuất ở 4
nước điều tra. Sự khác nhau này được giải thích là do đặc điểm của
mỗi quốc gia là khác nhau. Cuối cùng kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy có mối liên hệ giữa mức độ quan trọng của từng thước đo trong
đánh giá thành quả hoạt động phi tài chính ở cấp độ phân xưởng với
việc ứng dụng những nhân tố ngẫu nhiên ảnh hưởng trong và ngoài
doanh nghiệp. Nghiên cứu này đã góp phần vào thúc đẩy những
nghiên cứu chuyên sâu hơn về vấn đề đánh giá thành quả hoạt động
phi tài chính nói chung và việc ứng dụng những công cụ kế toán
quản trị trong doanh nghiệp.
Có nhiều chỉ tiêu đo lường kết quả về mặt kinh tế và hiệu quả
gọi chung là thành quả của một doanh nghiệp kinh doanh trong một
thời kỳ nhất định. Mỗi thước đo được sử dụng đều cung cấp những
thông tin trên các khía cạnh khác nhau về mức độ đóng góp của các
nguồn lực tài chính và phi tài chính vào kết quả đạt được. Đặc biệt là
các thước đo phản ánh hiệu quả đầu tư thường xuyên được sử dụng
cho việc lập dự án đầu tư, thẩm định và đánh giá hiệu quả sử dụng


8
vốn đầu tư trong các doanh nghiệp.Trong đó một “thước đo vạn
năng” phù hợp nhất cho việc sử dụng đánh giá thành quả hoạt động
của doanh nghiệp và có thể thay thế được cho các thước đo khác đó
chính là thước đo EVA - giá trị kinh tế tăng thêm.Công ty Stern
Stewart được coi là người sáng lập đầu tiên công thức EVA – cho
đến nay đã tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp thực hiện, áp dụng
thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động và xây dựng chính
sách khuyến khích khen thưởng (Stern Stewart & Co., 1997). EVA
đã áp thành công tại các tập đoàn lớn ở Mỹ. Sau danh tiếng của bài
báo viết về EVA như là một thước đo cải tiến hiệu quả hoạt động thì
hàng loạt nghiên cứu liên quan đến thuật ngữ này ra đời và những
ứng dụng rộng khắp của nó trong việc: đánh giá thành quả hoạt động
của doanh nghiệp; lựa chọn dự án đầu tư; thiết kế chính sách khen
thưởng; hay đánh giá thành công cả trong các lĩnh vực, ngành rộng
lớn như nông nghiệp.Ý tưởng ban đầu là cố gắng tìm kiếm cách thức
đo lường mức lợi nhuận kinh tế thật sự mà một doanh nghiệp nào đó
có thể tạo ra, định lượng một cách cụ thể. Nhờ đó mà chúng ta có thể
xác định được mức độ thành công cũng như thua lỗ của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian nào đó một cách chính xác hơn
và đơn giản hơn. Bên cạnh đó, EVA cũng là một thước đo hữu ích
đối với nhà đầu tư khi muốn định lượng giá trị mà doanh nghiệp có
thể tạo ra cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có thể dùng thước đo
EVA để so sánh doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác cùng
ngành một cách nhanh chóng.
Tại Việt Nam, EVA cũng được xem xét nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chỉ cũng chỉ mang tính chất giới
thiệu EVA như một thước đo tài chính dùng để đánh giá thành quả
hoạt động doanh nghiệp như một số luận văn thạc sỹ của:


9
Nguyễn Thị Hồng Bích nghiên cứu đề tài “Xây dựng mô hình
EVA cho các doanh nghiệp Việt Nam” (2005). Luận văn đã đi sâu
vào phân tính tích EVA là một trong những công cụ quản trị cần
thiết và được các tổ chức tài chính công nhận như nguyên lý đánh
giá vốn tự có. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số biện pháp hỗ trợ
việc ứng dụng mô hình này như: tiếp cận mục tiêu quản trị tài chính
mới, nâng cao vai trò chức năng của quản trị tài chính hoặc là ứng
dụng công nghệ thông tin cho EVA.
Nguyễn Ngọc Khánh Dung nghiên cứu đề tài “Vận dụng
thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả tại Công ty cổ phần dầu
thực vật Tường An” (2010). Luận văn đã hệ thống hoá những vần đề
lý luận liên quan đến thước đo EVA và đề xuất sử dụng thước đó
EVA trong việc đánh giá thành hoạt động của Công ty cổ phần dầu
thực vật Tường An. Bên cạnh đó, luận văn cũng phân tích sử dụng
thước đo EVA kết hợp ABC sẽ là công cụ phản ánh chi phí sản phẩm
chính xác và đầy đủ nhất cho các nhà quản lý.
Lê Thị Mỹ Tú nghiên cứu đề tài: “Vận dụng thước đo giá trị
kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại công
ty cổ phần dược phẩm BIDIPHAR1” (2013). Luận văn của tác giả
nhằm hệ thống hóa lại các tiêu thức thường được áp dụng trong việc
đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh
các chỉ tiêu phổ biến hiện có, tác giả tập trung đến việc phân tích với
một loại thước đo mới sẽ khắc phục được những hạn chế vốn có của
các thước đo truyền thống, giúp cho các nhà quản lý cũng như những
nhà đầu tư biết được giá trị thật sự được tạo ra từ thành quả hoạt
động của doanh nghiệp, đó là EVA.
Với kết quả các nghiên cứu đã thực hiện, có thể nhận thấy
rằng các nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến nội dung là việc vận


10
dụng các công cụ kế toán quản trị ảnh hưởng đến thành quả hoạt
động của doanh nghiệp và những nghiên cứu về tính hữu hiệu của
EVA. Tuy nhiên, các nghiên cứu cần cung cấp thêm cơ sở dữ liệu để
đánh giá thành quả hoạt động bằng thước đo EVA và cũng như đi
sâu vào phân tích khả năng vận dụng thước đo EVA để đánh giá
thành quả của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, luận văn bày sẽ bàn về
cách tính EVA và chỉ ra điểm khác biệt giữa thu nhập ròng trên báo
cáo thu nhập và lợi nhuận kinh tế để thấy được tính ưu việt của thước
đo này. Tiếp đến tác giả sẽ đề ra một số điều chỉnh cần thiết khi sử
dụng số liệu kế toán được lập và ghi nhận theo chuẩn mực và chế độ
kế toán Việt Nam khi vận dụng. Đây cũng là khoảng trống nghiên
cứu để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình.


11
CHƢƠNG 1
ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH
NGHIỆP VÀ VẬN DỤNG EVA TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH
QUẢ
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về thành quả hoạt động
Có nhiều chỉ tiêu đo lường (thước đo) đánh giá cả kết quả về
mặt kinh tế và cả hiệu quả gọi chung là thành quả (performance) của
một doanh nghiệp kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Thành quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả hoạt động
sau quá trình sử dụng các nhân tố đầu vào như nguồn nhân lực,
nguyên vật liệu, vốn...để thực hiện những hoạt động nhằm cung cấp
hàng hóa và dịch vụ. (Ahmed và Magdy, 2007).
Chính vì vậy thành quả hoạt động cần phải thường xuyên được
đánh giá để xem xét doanh nghiệp có thực sự hoạt động hiệu quả và
đạt được theo như ý muốn của nhà điều hành hay không.
Đánh giá thành quả hoạt động thường được định nghĩa là đo
lường thường xuyên các yếu tố đầu ra và các kết quả thực hiện được
nhằm tạo ra các dữ liệu đáng tin cậy về tính hiệu quả và hữu hiệu của
hệ thống hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình đưa các nhân
tố đầu vào để biến đổi thành những kết quả đầu ra thì có nhiều hoạt
động xảy ra, nhưng kết quả những hoạt động này phải thực hiện theo
đúng mục tiêu mà doanh nghiệp đã đưa ra từ ban đầu.
Những nhân tố đầu ra chính là hàng hóa và dịch vụ để phục vụ
cho khách hàng. Tuy nhiên, những thông tin đầu ra này lại không nói
lên được kết quả thực sự mà doanh nghiệp đã đạt được trong thời
gian qua mà chỉ để nói về kết quả là hàng hóa hay dịch vụ đã được


12
đưa đến cho khách hàng hay chưa. Thông tin về đầu ra mang tính
quan trọng để chỉ ra phạm vi hay kích thước của những gì yếu tố đầu
vào và hoạt động sản xuất đã thể hiện chính vì thế việc đánh giá
thành quả hoạt động đưa ra để cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc
xem xét những thành quả mà doanh nghiệp đạt được so với mục tiêu
và chiến lược đã đề ra.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến thành quả hoạt động
của doanh nghiệp
a. Các nhân tố bên ngoài
b. Các nhân tố bên trong
1.1.3. Vai trò của đánh giá thành quả hoạt động doanh
nghiệp
a. Đánh giá thành quả hoạt động tài chính
b. Đánh giá thành quả hoạt động phi tài chính
1.2. THƢỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA)
1.2.1. Khái niệm
Theo định nghĩa của Công ty Stern Stewart (1990): “Giá trị
kinh tế tăng thêm là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch
giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng
vốn”.
Giá trị kinh tế tăng thêm là một thước đo hiệu suất quản lý nội
bộ so sánh lợi nhuận hoạt động ròng với tổng chi phí vốn. Doanh
nghiệp là người sử dụng nguồn tài trợ thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ lệ
hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo duy trì tỷ
suất lợi nhuận trên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông.
Cơ sở để tính chi phí sử dụng vốn là lãi suất sử dụng vốn và số
vốn sử dụng. Dưới góc độ tài chính thì chi phí sử dụng vốn được xác
định từ thị trường vốn. Đối với nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho


13
doanh nghiệp thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời mà nhà đầu
tư đòi hỏi khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Mức sinh lời này phải
tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phải khi
cung cấp vốn.
Chi phí sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: tính mạo
hiểm của việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu
trúc vốn của doanh nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận…Vì vậy,
khi tính toán chi phí sử dụng vốn cần phải lượng hoá được lãi suất
bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC).
Vốn đầu tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện
hoạt động đầu tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Về
nguyên tắc thì vốn đầu tư nên được xác định theo giá thị trường.
EVA là con số cụ thể và đo lường bằng “tiền”. Nếu số tiền là
tích cực thì doanh nghiệp đã giành được thu nhập hoạt động sau thuế
cao hơn so với chi phí của các tài sản được sử dụng để tạo ra thu
nhập (doanh nghiệp đã thành công và tạo ra sự giàu có). Nếu số tiền
EVA là tiêu cực, doanh nghiệp đã tiêu thụ vốn (thậm chí thua lỗ)
mục tiêu của doanh nghiệp là tạo nên EVA tích cực và nỗ lực gia
tăng EVA.
1.2.2. Công thức tính EVA
EVA là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động mà nó tiến gần
đến lợi nhuận kinh tế thực của doanh nghiệp hơn so với các chỉ tiêu
khác. EVA cũng là chỉ tiêu có mối liên hệ trực tiếp đến việc tạo ra
của cải cho cổ đông qua từng thời kỳ.
Công thức tính:
EVA = NOPAT – (TC x WACC)


14
1.2.3. Phƣơng pháp tính
a. EVA dựa trên số liệu kế toán:
Chi phí sử dụng nợ vay
Chi phí sử dụng vốn chủ
Cấu trúc vốn doanh nghiệp
b. Tính EVA sau khi đã điều chỉnh số liệu kế toán:
1.3. SỰ KHÁC BIỆT CỦA EVA SO VỚI CÁC THƢỚC ĐO
ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG KHÁC
1.3.1. Về một số chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động phổ
biến
a. Chỉ tiêu ROE:
b. Chỉ tiêu ROA:
c. Chỉ tiêu ROC:
d. Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (Return on Investment – ROI)
e. Lợi nhuận còn lại (Residual Income – RI)
1.3.2. Sự tiến bộ của thƣớc đo EVA
a. Ưu điểm:
b. Những vấn đề còn tồn tại của EVA:
1.4. VẬN DỤNG THƢỚC ĐO EVA TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
EVA là thước đo thành quả hoạt động của doanh nghiệp dưới
góc độ thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn đầu tư. Có 2 loại
quyết định đầu tư vốn:
- Quyết định tài chính là phân bổ về bao nhiêu vốn (thường ở
nhà quản trị cấp cao).
- Quyết định hoạt động là dùng vốn vào chỗ nào, bộ phận nào,
hoạt động nào cụ thể (thường ở nhà quản trị cấp trung).


15
EVA là loại thước đo có thể đáp ứng được thành quả hoạt
động của cả 2 loại quyết định về vốn nêu trên, vì EVA có thể được
xác định riêng dưới góc độ toàn Công ty cũng như dưới góc độ từng
bộ phận tùy theo mục đích đánh giá.
Xuất phát từ mục đích đánh giá thành quả của doanh nghiệp,
muốn xem xét dưới góc độ hiệu quả kinh tế hay năng lực quản lý tự
chịu trách nhiệm của nhà quản trị cấp dưới mà công thức EVA sẽ
được định hướng tính toán để phục vụ mục tiêu nhà quản trị. Sự khác
biệt này, xuất phát từ các nhân tố được sử dụng để tính toán trong
công thức của EVA. Chẳng hạn, trong đánh giá thành quả hoạt động,
kết quả EVA mang lại để thể hiện mức độ hoạt động thực tế của một
bộ phận, một tổ chức nên nhân tố vốn đầu tư được xem xét khác hơn
khi dùng EVA để đánh giá thành quả quản lý. Trong hoạt động, vốn
đầu tư được sử dụng bằng cách tính tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn
không tính lãi, tức là tính chi phí hoạt động một cách đầy đủ, vốn
đầu tư thể hiện đúng các khoản mục tham gia vào hoạt động có khả
năng góp phần vào lợi nhuận. Tuy nhiên trong quản lý, nhân tố vốn
đầu tư có thể được sử dụng bằng tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn, tức
là đứng góc nhìn khuyến khích nhà quản trị bộ phận sẽ được đánh
giá cao hơn thông qua EVA nếu nỗ lực làm giảm vốn luân chuyển,
tìm cách tài trợ cho các tài sản ngắn hạn bằng các nguồn nợ ngắn hạn
để tiết kiệm chi phí sử dụng vốn chung. Một sự khác biệt nữa chẳng
hạn trong vốn đầu tư nhà quản trị nên đưa giá trị của tài sản cố định
theo nguyên giá hay theo giá trị còn lại cho hợp lý. Nếu để đánh giá
thành quả hoạt động chung thì nguyên giá thường được sử dụng
nhưng để đo lường hiệu quả quản lý thì giá trị còn lại được khuyến
khích, tránh việc nhà quản trị bộ phận bị ảnh hưởng bởi những tài
sản không còn khả năng sử dụng nhưng vẫn còn ghi trên giá trị sổ


16
sách. Lợi nhuận hoạt động sau thuế có thể thay thế bằng chỉ tiêu số
dư bộ phận khi dung đánh giá thành quả hoạt động nhưng nên thay
thế bằng số dư bộ phận có thể kiểm soát trong đánh giá thành quả
riêng từng bộ phận.
EVA ban đầu được tính toán dựa trên số liệu kế toán được
cung cấp bởi công ty, việc công ty thực hành kế toán dựa trên chế độ
kế toán Việt Nam dẫn đến kết quả tính toán cuối cùng chưa thật sự
chính xác. Theo đề xuất của Stern Steward, khi tính EVA cần chú ý
rằng: chỉ những tài sản nào của doanh nghiệp tham gia vào việc tạo
ra giá trị mới được đưa vào chỉ tiêu tính toán (chỉ quan tâm đến các
tài sản kinh doanh). Các tài sản không tham gia vào việc tạo ra giá trị
(ví dụ như các tài sản chờ thanh lý, các tài sản không sử dụng
đến….) phải được loại ra. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu trên liên quan
đến việc tính toán chi phí sử dụng vốn nên các khoản nợ nào không
chịu lãi cũng phải được loại ra. Do đó, sự hạn chế của một số dữ liệu
trong khuôn khổ của các chuẩn mực và nguyên tắc chung được thừa
nhận làm ảnh hưởng đến kết quả tính toán, làm cho thông tin mang
lại chưa thể hiện đúng kết quả đánh giá nên cần thiết phải có những
sự điều chỉnh số liệu trên công thức tính EVA cho phù hợp.


17
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trong chương I đã đi sâu vào việc tìm hiểu, hệ thống hoá
những lý luận, phân tích tổng quát về thước đo giá trị kinh tế tăng
thêm EVA và những nhân tố ảnh hưởng đến EVA, trên cơ sở nhận
diện những mặt ưu và nhược điểm của các thước đo thành quả hoạt
động được sử dụng truyền thống trước đây.Có thể nói EVA là thước
đo đầu tiên và duy nhất quan tâm đến chi phí sử dụng vốn một cách
đầy đủ nhất của doanh nghiệp, là công cụ giúp các nhà đầu tư nhận
diện đúng đắn hơn về hiệu quả của quyết định đầu tư của mình, cũng
là chỉ tiêu cho thấy sự giàu có thật sự của doanh nghiệp như thế nào.
Điểm nổi bật là EVA có xét đến chi phí cơ hội khi sử dụng vốn và
việc thực hiện những điều chỉnh các số liệu kế toán cho phù hợp với
quan điểm kinh tế sẽ tránh được sự bóp méo số liệu kế toán do ý
muốn chủ quan của nhà kế toán, giúp nhà quản trị giảm bớt sai lầm
trong đánh giá. Khi kết hợp EVA với ABC, chi phí sử dụng vốn
được phân bổ cho từng hoạt động. Việc chia nhỏ quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thành từng hoạt động hay công đoạn
không những giúp nhà quản lý xác định chính xác chi phí từng loại
sản phẩm mà còn chỉ cho họ thấy được hoạt động nào tạo ra giá trị
tăng thêm cần phải duy trì hoạt động, hoạt động nào không tạo ra giá
trị tăng thêm cần phải cải thiện. Thước đo EVA kết hợp với ABC là
công cụ phản ánh chi phí sản phẩm chính xác và đầy đủ nhất cho các
nhà quản lý.


18
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG QUẢNG NGÃI
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG
QUẢNG NGÃI
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ
phần Đƣờng Quảng Ngãi
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh
2.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty
2.1.4. Đặc điểm sơ đồ tổ chức quản lý
2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG QUẢNG NGÃI
2.2.1. Các nhóm sản phẩm chính
2.2.2. Vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác cùng
ngành.
2.3. THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG QUẢNG NGÃI VÀ KHẢ
NĂNG VẬN DỤNG THƢỚC ĐO EVA TRONG ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐƢỜNG QUẢNG NGÃI
2.3.1. Thực trạng
Để đánh giá thành quả hoạt động cho toàn công ty, QNS đã
tập trung phân tích các báo cáo và Công ty cổ phần Đường Quảng
Ngãi đã sử dụng một số chỉ tiêu như sau:
a.

Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm đầu tư

b. Báo cáo thành quả trung tâm lợi nhuận
c. Báo cáo thành quả lợi ích cổ đông


19
2.3.2. Khả năng vận dụng EVA trong đánh giá thành quả
hoạt động tại Công ty Cổ phần Đƣờng Quảng Ngãi
a. Ưu điểm vận dụng thước đo truyền thống trong đánh giá
thành quả tại Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi
Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh Công ty chủ yếu dựa trên
chỉ tiêu lợi nhuận, là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Trong đó,
thước đo ROI thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của công ty với một
lượng tài sản nhất định trong tay, chính vì vậy nó quan trọng đối với
các nhà quản lý, ROI là chỉ tiêu thông thường về mức độ lợi nhuận
mà mức độ đó lại được dùng để đánh giá hiệu quả của khả năng sử
dụng các nguồn lực đã được giao phó cho công ty. Việc kiểm soát
ROI sẽ giúp cho nhà quản lý đánh giá hiệu quả của công tác hoạch
định và các hoạt động sản xuất khác.
Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy
đủ các giao dịch kinh tế trong kỳ và từ đó cho thấy tình trạng tài sản,
nguồn vốn, kết quả kinh doanh của Công ty một cách đầy đủ và hợp
lý. Các chỉ tiêu được ghi nhận đầy đủ và chính xác sẽ giúp cho các
nhà quản lý biết được chính xác hiệu quả kinh doanh của Công ty
qua các năm, qua đó có thể có được những chiến lược để cải thiện và
làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hoặc ra quyết định
về chế độ khen thưởng.
b.

Hạn chế vận dụng thước đo truyền thống trong đánh

giá thành quả hoạt động tại Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi
Một là: chỉ tiêu mà Công ty đang sử dụng để đánh giá thành
quả hoạt động đều không tính đầy đủ chi phí sử dụng vốn, ngoài chi
phí lãi vay thì chi phí sử dụng vốn của các nhà đầu tư không được
tính đến. Vì vậy, kết quả phản ánh của các chỉ tiêu chưa chỉ ra được
là doanh nghiệp có thực sự tạo ra được thu nhập cho các cổ đông hay


20
không. Như vậy, khoản lợi nhuận mà Công ty thể hiện trên các báo
cáo tài chính hàng năm chưa phản ánh đúng lợi nhuận thực tế do quá
trình hoạt động tạo ra. Ngoài ra, do chi phí sử dụng vốn chưa được
phân bổ cho các bộ phận, các hoạt động, các sản phẩm. Vì vậy, nhà
quản lý khó có thể đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp.
Hai là: cơ sở để xác định các chỉ tiêu dùng cho việc đánh giá
thành quả hoạt động đều dựa trên số liệu kế toán .Trong khi số liệu
kế toán được ghi nhận lại tuân thủ các nguyên tắc kế toán chung, với
tính linh hoạt của các chuẩn mực và chế độ kế toán thì các nhà quản
lý có thể bóp méo số liệu kế toán, thực hiện các báo cáo theo nhiều
hướng khác nhau để mang lại lợi ích cho Công ty nhằm thu hút vốn
đầu tư trên thị trường hoặc mang lại lợi ích cho chính các nhà quản
lý do tiền thưởng được tính trên thành quả hoạt động.
Ba là: do kế toán tuân thủ việc ghi nhận theo cơ sở dồn tích,
không gắn với sự biến động của dòng tiền, việc ghi nhận doanh thu
và chi phí không dựa vào dòng tiền thực tế thu vào hay chi ra mà dựa
vào thời điểm phát sinh. Vì vậy không cho thấy được lợi nhuận bằng
tiền thực tế được tạo ra từ hoạt động của Công ty. Tại mỗi thời điểm
đánh giá kết quả thì việc dựa trên số liệu được ghi nhận theo cở sở
tiền mặt sẽ chính xác hơn. Như vậy việc tuân thủ các nguyên tắc kế
toán đã dẫn đến một số hạn chế trong việc ghi nhận doanh thu và chi
phí làm ảnh hưởng đến lợi nhuận; trong việc sử dụng giá trị sổ sách
để đánh giá thay vì giá trị thị trường; Hạn chế trong việc phản ánh và
trình bày vốn đầu tư trên Bảng cân đối kế toán. Vốn đầu tư được
Công ty sử dụng để tính các chỉ tiêu chính là tổng tài sản của Công
ty trên Bảng cân đối kế toán, như vậy sẽ không phản ánh đúng vốn
đầu tư, vì có những khoản mục trên Bảng cân đối kế toán thực tế
không phải là những khoản đầu tư, ví như: những khoản chiếm dụng


21
vốn của người bán, của nhà nước, của nhân viên.
c. Khả năng vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt
động tại Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi
Mặc dù Công ty cũng sử dụng các công cụ dùng để đánh giá
thành quả hoạt động nhằm phục vụ cho việc cung cấp thông tin để
đánh giá tình hình tài chính sau một thời gian hoạt động của mình,
tuy nhiên mức độ áp dụng các công cụ này còn thấp, không đồng đều
và còn nhiều hạn chế trong việc cung cấp thông tin tài chính chính
xác. Các công cụ truyền thống đã xuất hiện lâu được sử dụng nhiều
còn những công cụ mới và đòi hỏi sự hiểu biết chuyên sâu nên được
Công ty ít ứng dụng. Với nguồn nhân lực dồi dào và thông tin tài
chính minh bạch sẽ giúp QNS có nhiều thuận lợi hơn trong việc vận
dụng thước EVA trong đánh giá thành quả hoạt động. Vì trên thực tế
động cơ chính thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm các cơ hội kinh
doanh mới là mức ROI mong muốn. Trong nhiều trường hợp, các
nhà đầu tư sẽ không hăm hở đưa tiền vào một công ty cho tới khi họ
nhìn thấy triển vọng có thể chấp nhận được trong tương lai. Nếu
triển vọng là thấp, họ sẽ tìm các giải pháp đầu tư thay thế. Tỷ suất
ROI mong muốn thì tùy thuộc vào nhiều yếu tố như hoạt động kinh
doanh của công ty, mức lãi suất hiện hành, các yếu tố rủi ro, và các
cơ hội đầu tư thay thế... Việc quản lý của một tổ chức hoạt động vì
lợi nhuận luôn có nghĩa vụ tạo ra giá trị tăng thêm cho các nhà đầu tư
(cổ đông). Nói một cách khác, nó phải tạo ra đủ giá trị để bù đắp chi
phí vốn. Nếu mức lợi nhuận tại một công ty thấp hơn chi phí vốn,
công ty đó sẽ tiêu hủy giá trị cổ đông, và Ban Giám Đốc cần thiết
phải có các hoạt động điều chỉnh. Do đó, vận dụng thước đo EVA
trong đánh giá thành quả là điều cần thiết cho QNS.


22
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Trong khi mía đường thế giới bão hòa thì ngành đường Việt
Nam tiếp tục tăng trưởng. Một trong những thuận lợi đối với ngành
đường Việt Nam, theo các chuyên gia lĩnh vực mía đường, cơ cấu
dân số trẻ của Việt Nam sẽ là cơ hội cho ngành tiêu dùng phát triển
trong tương lai. Gia tăng tỷ lệ dân số sẵn sàng chi trả giá cao cho sản
phẩm thực phẩm an toàn cho sức khỏe chính là động lực tăng cầu
tiêu thụ đường. Đón đầu được xu thế này, doanh nghiệp trong ngành
mía đường- QNS cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sẵn sàng cho quá
trình hội nhập và đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực và tích cực tái cơ
cấu, nâng cao sức cạnh tranh trong thời gian tới thì mới có thể phát
triển bền vững được.
QNS luôn nỗ lực nâng cao hiệu quả hoạt động để làm tăng giá
trị của Công ty và mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông. Qua thực
trạng về đánh giá thành quả hoạt động của Công ty, chúng ta nhận
thấy rằng Công ty đã sử dụng rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá thành
quả hoạt động, vì vậy có thể đánh giá một cách toàn diện và kịp thời
về tình hình tài sản, nguồn vốn và thành quả hoạt động của Công ty.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu mà Công ty đang sử dụng trong việc đánh giá
thành quả hoạt động còn có những nhược điểm như: việc tính toán
các chỉ tiêu hoàn toàn dựa trên số liệu kế toán và các chỉ tiêu này
không tính đến chi phí sử dụng vốn. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu mà
Công ty đang sử dụng cũng chưa cho các cổ đông thấy được thu
nhập thực tế mà Công ty tạo ra họ. Qua nghiên cứu thước đo EVA,
cùng những ưu điểm mà thước đo EVA mang lại, chúng ta nhận thấy
cần thiết phải vận dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt
động của Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.


23
CHƢƠNG 3
VẬN DỤNG THƢỚC ĐO EVA TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH
QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG
QUẢNG NGÃI
3.1. MỤC TIÊU VẬN DỤNG THƢỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ
TĂNG THÊM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƢỜNG QUẢNG
NGÃI
3.1.1. Yêu cầu vận dụng thƣớc đo EVA trong đánh giá
thành quả hoạt động của Công ty cổ phần Đƣờng Quảng Ngãi
3.1.2. Thiết lập chính sách khen thƣởng
3.2. VẬN DỤNG THƢỚC ĐO EVA TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐƢỜNG QUẢNG NGÃI
3.2.1. Mô hình giá trị kinh tế tăng thêm
Để tính EVA chúng ta cần phải tính 3 nhân tố sau: (i) Lợi
nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế, (ii) vốn đầu tư, (iii) và lãi
suất sử dụng vốn bình quân dựa vào công thức CAPM. Bất cứ sự
thay đổi nào của một trong 3 nhân tố này cũng sẽ ảnh hưởng tới
EVA.
3.2.2. Phƣơng pháp xác định EVA cho việc đánh giá thành
quả hoạt động tại Công ty cổ phần Đƣờng Quảng Ngãi
Qua đợt nghiên cứu thì hiện tại Công ty cổ phần Đường
Quảng Ngãi vẫn chưa áp dụng EVA trong việc đánh giá thành quả
hoạt động. Do đó để tính EVA cho Công ty tác giả cần thực hiện 4
bước như lý thuyết đề cập ở chương 1 và dữ liệu sẽ được lấy từ báo
cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của Công ty. Tuy nhiên, để cho
việc tính toán EVA được chính xác thì Công ty cần thực hiện những
điều chỉnh số liệu kế toán theo quan điểm kinh tế. Luận văn tính


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×