Tải bản đầy đủ

Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã trường yên, huyện hoa lư, tỉnh ninh bình

BÔ GIÁO DỤC VA ĐÀO TẠO
TRƯƠNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

HÀ ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Ở XÃ TRƯỜNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ,
TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 5 (2016 - 2018)

Hà Nội, 2018


BÔ GIÁO DỤC VA ĐÀO TẠO
TRƯƠNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

HÀ ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Ở XÃ TRƯỜNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ,
TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8319042

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm

Hà Nội, 2018


LƠI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở
xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và có xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Đã ký
Hà Đình Trung


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CP

Chính phủ

CT

Chỉ thị

CTQG

Chính trị quốc gia

DLTC


Danh lam thắng cảnh

DSVH

Di sản văn hóa

DT LSVH

Di tích lịch sử văn hóa

H.1

Hình 1

HĐND

Hội đồng nhân dân



Nghị định

NQ

Nghị quyết

Nxb

Nhà xuất bản

QL DSVH

Quản lý di sản văn hóa

QLDT LSVH

Quản lý di tích lịch sử văn hóa

QLDT

Quản lý di tích

QLNN

Quản lý nhà nước

TLPV

Tư liệu phỏng vấn

TTg

Thủ tướng

UBND

Ủy ban nhân dân

UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

VH,TT&DL

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

VHTT

Văn hóa thông tin

XHH

Xã hội hóa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN
HÓA VA KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Ở XÃ TRƯỜNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH .................... 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................... 9
1.1.1. Di sản văn hóa ......................................................................................... 9
1.1.2. Di tích và di tích lịch sử văn hoá .......................................................... 10
1.1.3. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hoá......................................... 12
1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa..................... 15
1.2.1. Các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước ban hành......................... 15
1.2.2. Hệ thống các văn bản pháp lý của địa phương ..................................... 20
1.3. Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên............ 21
1.3.1. Khái quát chung về xã Trường Yên ...................................................... 21
1.3.2. Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên............................... 24
1.4. Vai trò của quản lý di tích lịch sử văn hoá đối với bảo tồn di sản, phát
triển kinh tế - xã hội ở xã Trường Yên ........................................................... 30
1.4.1. Quản lý, bảo tồn vốn di sản văn hóa dân tộc ........................................ 30
1.4.2. Quản lý, bảo tồn và phát huy nguồn lực di sản văn hóa phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội ........................................................................................ 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở
XÃ TRƯỜNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH ...................... 32
2.1. Bộ máy quản lý và cơ chế quản lý di tích ................................................ 32
2.1.1. Bộ máy quản lý ..................................................................................... 32
2.1.2. Vai trò của quản lý cộng đồng đối với di tích lịch sử văn hóa ở xã
Trường Yên ..................................................................................................... 37
2.1.3. Cơ chế quản lý di tích lịch sử văn hóa .................................................. 41
2.2. Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên ............ 42
2.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa ở xã Trường Yên ........................................................................... 42
2.2.2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di
tích lịch sử văn hóa.......................................................................................... 45
2.2.3. Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích
lịch sử văn hóa................................................................................................. 49
2.2.4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về di tích ................ 57


2.2.5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn, phát huy giá
trị di tích lịch sử văn hóa ................................................................................. 59
2.2.6. Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý di tích lịch sử văn
hóa ................................................................................................................... 60
2.2.7. Công tác thanh tra, kiểm tra và khen thưởng ........................................ 62
2.3. Đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên
........ 66
2.3.1. Ưu điểm................................................................................................. 66
2.3.2. Hạn chế.................................................................................................. 68
Tiểu kết............................................................................................................ 74
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở XÃ TRƯỜNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ,
TỈNH NINH BÌNH ......................................................................................... 76
3.1. Phương hướng, nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường
Yên .................................................................................................................. 76
3.1.1. Phương hướng chung ............................................................................ 76
3.1.2. Nhiệm vụ ............................................................................................... 79
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã
Trường Yên ..................................................................................................... 81
3.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn xã Trường Yên ............................................ 81
3.2.2. Tăng cường việc giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng
đồng về di tích lịch sử văn hóa........................................................................ 82
3.2.3. Giải pháp về cơ chế, chính sách............................................................ 85
3.2.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý di tích ........................... 88
3.2.5. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học .......................................... 90
3.2.6 Tăng cường công tác khen thưởng, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi
phạm về di sản văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa ..................... 91
3.2.7. Bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa gắn với phát triển
du lịch bền vững .............................................................................................. 94
3.2.8. Giải pháp nhằm hạn chế những nhân tố tác động đến công tác quản
lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn xã Trường Yên.................................... 97
Tiểu kết............................................................................................................ 99
KẾT LUẬN ................................................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 104
PHU LỤC ...................................................................................................... 105


MỤC LỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý di tích xã Trường Yên…

32

Sơ đồ 2.2. Sơ đồ các Tiểu Ban quản lý di tích ở xã Trường Yên.....

36

Bảng 1.1. Số liệu loại hình di tích lịch sử

25

Bảng 1.2. Số liệu loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật

25


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to
lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Để bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao
của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế
giới, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách
nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa [40, tr.7].
Vùng đất Trường Yên là nơi phát tích của ba triều đại nhà Đinh, nhà
Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý (tính từ vua Đinh Tiên Hoàng đến vua Lý Thái
Tông trong lịch sử). Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến
Trung ương tập quyền ở Việt Nam.
Với diện tích tự nhiên 21.40 km², dân số có 3.787 hộ, 11.787 khẩu,
toàn xã có 16 thôn [7]. Với tổng số 49 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có
23 di tích đã được xếp hạng với 15 di tích cấp Quốc gia (3 khu di tích được
xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt) và 8 di tích cấp tỉnh. Hệ thống di tích này
hàm chứa những giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật kiến
trúc, là những chứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động lịch sử lâu
đời, truyền thống văn hiến của người dân Trường Yên và có vị trí, vai trò
quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng dân cư.
Trong những năm qua, nhất là từ khi di tích lịch sử văn hóa Cố đô
Hoa Lư được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt
(2012) và Cố đô Hoa Lư là một trong ba khu hợp thành Quần thể danh
thắng Tràng An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên


2

thế giới (2014), công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn xã
Trường Yên có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đạt được, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa vẫn
tồn tại một số vấn đề như: một số di tích bị xuống cấp, mai một, thu hẹp về
diện tích, đội ngũ làm trong các di tích lịch sử - văn hóa còn thiếu, yếu,
chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, cơ sở vật chất ở nhiều di tích còn
nghèo nàn, môi trường di tích chưa thật sự trong sạch, kinh phí đầu tư cho
việc trùng tu, tôn tạo, khôi phục phát huy giá trị di sản còn thấp; hoạt động
dịch vụ trong các di tích, lễ hội chưa phong phú, đa dạng; bản sắc của địa
phương chưa rõ nét,... Chính vì vậy, công tác quản lý di tích lịch sử - văn
hóa ở xã Trường Yên là nhiệm vụ quan trọng kể cả trước mắt và lâu dài.
Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở
khoa học, thực tiễn, đồng thời là một cán bộ đang công tác tại huyện Hoa
Lư, học viên hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý di sản văn
hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay và học viên chọn đề tài “Quản lý di
tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”
cho luận văn tốt nghiêp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu tổng quát về di sản văn hóa
Các công trình khoa học nghiên cứu về di sản văn hóa khá phong phú,
trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình tiêu
biểu.
Trong cuốn Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
dân tộc của tác giả Hoàng Vinh gồm 3 chương và phần phụ lục đã đề cập
đến những vấn đề lý luận liên quan đến DSVH dân tộc; về vai trò, chức
năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc.
Căn cứ vào những đòi hỏi thực tiễn của cuộc sống để tiến hành phân loại và
bước đầu mô tả thực trạng vốn DSVH dân tộc. Làm nổi rõ những mặt tồn


3

tại, những nguyên nhân đã và đang gây nên sự xuống cấp vốn DSVH trong
thời gian qua. Từ đó, đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể và giới thiệu
kinh nghiệm của Nhật Bản về giữ gìn và phát huy DSVH [55].
Khi đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di
tích, tác giả Lưu Trần Tiêu cho rằng, hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3
mặt cụ thể là: bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về
mặt vật chất kỹ thuật, cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện
của xã hội. Cụ thể, trong công tác quản lý tập trung vào 3 vấn đề là: công
nhận di tích, quản lý cổ vật và phân cấp quản lý di tích [43, tr.25 - 30].
Trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH,
tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công tác quản
lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm.
Các nội dung bao gồm: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (gồm có
các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ
chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản
lý...); việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo
tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính
chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [3, tr.11- 13].
Hai tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân
trong Giáo trình Quản lý DSVH dân tộc của Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội, đã đề cập đến một số nội dung cơ bản trong quản lý nhà nước về
DSVH và nhấn mạnh vào hoạt động bảo tồn DSVH [36].
Trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và
hội nhập quốc tế của hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng
chủ biên) đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn
hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH. Ở lĩnh vực này, các tác
giả đưa ra thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và DSVH phi


4

vật thể. Nội dung quản lý được đề cập trên hai khía cạnh: Công tác quản lý
nhà nước và công tác phát triển sự nghiệp, đồng thời nêu ra những hạn chế
như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị, các dự án chưa đồng bộ,
chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn... Từ thực trạng này các tác giả đã đề ra
những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích [26, tr.486].
Công trình nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng
Long - Hà Nội do nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Bền đã trình bày, phân tích
khá rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệm bảo tồn,
phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những
quan điểm mới về quản lý di sản của nhiều nước trên thế giới để có thể áp
dụng vào thực tiễn ở nước ta. Dưới góc độ quản lý thì đây chính là những
đề xuất cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của thủ đô Hà Nội hiện
nay, đồng thời là một nguồn thông tin quan trọng cho các địa phương khác
nhau trong cả nước tham khảo [5].
Ngoài các công trình trên, một số luận văn, luận án đã được bảo vệ
đề cập đến việc quản lý di tích lịch sử - văn hóa, quản lý lễ hội như: Quản
lý di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa do tác giả Trần Đức Nguyên thực hiện (2015) [39], Quản
lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc do tác giả
Hoàng Thị Liên thực hiện (2016) [37], Quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp
quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa do tác giả Nguyễn Văn Tùng
thực hiện (2017) [44]…
2.2. Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh
Bình và trên địa bàn xã Trường Yên, huyện Hoa Lư
Trong những năm qua, những công trình nghiên cứu về di tích lịch
sử - văn hóa ở Ninh Bình và trên địa bàn xã Trường Yên, huyện Hoa Lư
nói chung khá nhiều, có thể kể đến một số công trình sau:


5

Địa chí Ninh Bình do Tỉnh ủy - Viện khoa học xã hội Việt Nam chủ
biên, Nxb Chính trị quốc gia (2010): Phần địa lý tự nhiên của tỉnh Ninh
Bình đã nêu vị trí địa lý, địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng,
tài nguyên rừng, thực vật và động vật, khoáng sản, đặc điểm các vùng địa
lý tự nhiên và quá trình hình thành của huyện Hoa Lư, xã Trường Yên.
Phần văn hóa đã nêu số lượng và một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu
trên địa bàn xã Trường Yên và huyện Hoa Lư [48].
Kinh đô Hoa Lư xưa và nay, tác giả Lã Đăng Bật, Nhà xuất bản văn
hóa dân tộc (2009) đã khái quát quá trình hình thành phát triển của vùng
đất, con người Cố đô Hoa Lư, đồng thời cuốn sách cũng giới thiệu về quá
trình hình thành phát triển ba triều đại nhà Đinh, Tiền Lê và Hậu Lý; giới
thiệu và khái quát các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của Kinh đô Hoa Lư
xưa, nay thuộc xã Trường Yên và nhiều di tích tiêu biểu thuộc Quần thể
Danh Thắng Tràng An [18].
Tác giả Lã Đăng Bật cũng đã có cuốn 7 Di tích - Danh thắng Ninh
Bình nổi tiếng, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (2013) giới thiệu 7 di tích,
danh thắng nổi tiếng của tỉnh Ninh Bình, trong đó có di tích Cô đô Hoa Lư.
Tác giả đi sâu vào giới thiệu 2 di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt là Đền
vua Đinh Tiên Hoàng và đền vua Lê Đại Hành [19].
Cố đô Hoa Lư của tác giả Nguyễn Văn Trò, Nhà xuất bản văn hóa
dân tộc (2010) giới thiệu đầy đủ về vùng đất Cố đô Hoa Lư và người mở
nền chính thống cho nước Đại Cồ Việt, đồng thời cuốn sách cũng giới thiệu
các di tích - danh thắng lịch sử văn hóa tiêu biểu của vùng đất Cố đô và các
truyền thuyết về Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn và Dương Văn Nga…[46].
Tác giả Nguyễn Thị Kim Cúc trong cuốn Kinh đô Hoa Lư và những
nhân vật lịch sử, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc (2013) khái quát về điều
kiện tự nhiên, xã hội, quá trình xây dựng thành quách, cung điện của Kinh


6

đô Hoa Lư và các nhân vật lịch sử tiêu biểu dưới các triều đại nhà Đinh,
nhà Lê và triều đại nhà Lý [20].
Tác giả Lã Đăng Bật trong Chùa Ninh Bình đã giới thiệu hệ thống
các ngôi chùa tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình, trong phần giới thiệu các chùa
thuộc huyện Hoa Lư tác giả đã viết về chùa Nhất Trụ, chùa Am Tiên, chùa
Am thuộc địa phận xã Trường Yên [17].
Ngoài ra, một số luận văn, luận án đã được bảo vệ ở chuyên ngành
quản lý văn hóa cũng đã đề cập đến việc quản lý di tích lịch sử - văn hóa
như: Quản lý Di sản thế giới Danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình do tác
giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh thực hiện (2016) [2], Bảo tồn và phát huy giá
trị lễ hội Trường Yên, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện
nay do tác giả Nguyễn Thị Minh Yến thực hiện (2016) [56],...
Qua phần khái lược trên có thể thấy đã có nhiều nghiên cứu đề cập ở
các mức độ khác nhau về quản lý di tích, di sản văn hóa nói chung, quản lý
di tích lịch sử văn hóa nói riêng. Những kết quả nghiên cứu này là nguồn tư
liệu quý giá giúp học viên có được cái nhìn tổng thể cũng như chuyên sâu
về quản lý di tích lịch sử văn hóa trong trường hợp nghiên cứu của mình và
cũng giúp cho học viên bổ sung được phần nào kết quả nghiên cứu của
mình vào tình hình nghiên cứu chung đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý di tích lịch sử văn hóa ở xã Trường Yên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định có sở lý luận cũng như cơ sở pháp lý về quản lý
DTLSVH.
- Giới thiệu khái quát về hệ thống DTLSVH ở xã Trường Yên.


7

- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý DT LSVH hóa ở
xã Trường Yên nêu rõ những ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
DT LSVH ở xã Trường Yên.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là việc quản lý các DT
LSVH ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Về thời gian: từ khi có Luật Di sản văn hóa năm 2001 đến nay.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu việc quản
lý DT LSVH ở xã Trường Yên thông qua một số di tích tiêu biểu như: Di
tích đền vua Đinh, vua Lê, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ,
chùa Kim Ngân, đình Yên Thành, phủ Kình Thiên... Đây là những di tích
tiêu biểu, đã được xếp hạng và đại diện cho từng loại hình di tích trong hệ
thống DTLSVH trên địa bàn xã Trường Yên.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp phân tích tư liệu thứ cấp, bao gồm: các công
trình nghiên cứu đi trước có cùng chủ đề nghiên cứu, các văn bản nhà nước
về quản lý văn hóa, quản lý di sản văn hóa và quản lý DTLSVH, các báo
cáo, hồ sơ di tích đã được thực hiện ở địa phương...
- Phương pháp điền dã tại các điểm DTLSVH. Học viên đã tiến hành
quan sát tham dự ở các DTLSVH tại xã Trường Yên và thực hiện phỏng
vấn sâu đối với cán bộ quản lý và một số người dân địa phương.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp thông tin, tư liệu về hệ thống các DTLSVH trên
địa bàn xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, làm rõ được thực
trạng tổ


8

chức bộ máy và hoạt động quản lý DTLSVH và từ đó có đề xuất kiến nghị,
giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý DTLSVH ở xã
Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Bên cạnh đó, luận văn có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý DTLSVH, quản lý
di sản văn hóa ở xã Trường Yên cũng như ở các địa bàn khác.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về di tích lịch sử và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác quản di tích lịch sử văn hóa ở xã
Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch
sử văn hóa ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình


9

Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
VÀ KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở
XÃ TRƯƠNG YÊN, HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Di sản văn hóa
Khái niệm di sản văn hóa có thể xác định được một cách thuận lợi từ
khái niệm về văn hóa. Như ta đã biết, văn hóa đã được định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau. Nhưng xu hướng định nghĩa văn hóa theo tính giá trị
và tính đặc trưng cho cộng đồng chủ thể sáng tạo đang được nhiều người
chấp nhận nhất. Theo cách định nghĩa này thì: Văn hóa là một hệ thống các
giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng nhất cho bản sắc của cộng đồng
người, do cộng đồng con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt
động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính chất
lưu truyền đã biến văn hóa của thế hệ trước trở thành di sản văn hóa của thế
hệ sau. Vì vậy, di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh
thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch
sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Nó là bộ phận
quan trọng nhất, tầng trầm tích dày nhất đã được thời gian thẩm định của
một nền văn hóa cụ thể [36, tr.6].
Bất cứ dân tộc nào cũng có di sản văn hóa riêng, đặc trưng cho dân
tộc đó. Việt Nam cũng vậy. Tại Điều 1, Điều 4 chương 1 Luật Di sản văn
hóa 2001 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy
định: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật
thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là


10

sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian
văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc
của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình
thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [40].
Như vậy, theo cách tiếp cận này, ta thấy di sản văn hóa bao gồm hầu
hết các giá trị văn hóa do con người tạo nên từ quá khứ. Nó là phần tinh túy
nhất, tiêu biểu nhất đọng lại sau hàng loạt hoạt động sáng tạo của con người
từ đời này qua đời khác. Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa đặc biệt
bền vững vì nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận
của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu dài, đó chính là tính
chất đặc thù của di sản văn hóa, phân biệt với khái niệm văn hóa nói chung.
1.1.2. Di tích và di tích lịch sử văn hoá
Theo thuật ngữ Hán Việt: “Di tích” được hiểu như sau, di: là sót lại,
rớt lại, để lại; tích: là tàn tích, dấu vết. Di tích là dấu vết còn lại của quá
khứ [1, tr.589, tr.617]. Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ
vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ
lại [1, tr.533].
Theo Pháp lệnh số 14 LCT/HĐNN ngày 4/4/1984 nêu: “Di tích lịch
sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác
phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn
hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn
hóa, xã hội”.
Theo Luật Di sản Văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009: "Di tích
lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo


11

vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học" [40, tr. 7].
Điểm 1, Điều 28, Chương IV Luật DSVH quy định để trở thành
DTLSVH phải có các tiêu chí sau:
a. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu
biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;
b. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp
của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước;
c. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu
biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến;
d. Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
đ. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc
đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc
nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr. 7].
Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều của Luật DSVH có nêu tại Điều 11: “Di tích là các di
tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích
kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh”. Nội dung Nghị
định này cũng nêu rõ 04 loại hình di tích: di tích lịch sử, di tích kiến trúc
nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh.
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các khái niệm đó
đều được xác định đặc điểm chung: DTLSVH là những không
gian vật chất cụ thể, khách quan của quá khứ còn tồn tại đến ngày
nay, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập
thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử.
Từ những nội dung nêu trên, học viên quan niệm DTLSVH chứa
đựng hai yếu tố chính:


12

Một là: Di tích là một loại di sản văn hóa vật thể còn lại của lịch sử,
gắn với một địa điểm một không gian nhất định, có gắn kết với một cộng
đồng văn hóa nhất định. Nghĩa là di tích tồn tại ở nơi có liên quan đến việc
sinh ra, tồn tại (hoặc có một hay nhiều hoạt động), hoặc cũng có thể là nơi
một nhân vật nào đó qua đời sau đó được nhân dân tưởng nhớ, lập nên
chốn thờ phụng; hoặc có thể chỉ là nơi chôn cất một nhân vật tiêu biểu nào
đó, người có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân, được nhân dân biết ơn,
tưởng nhớ; thậm chí cũng có thể đó chỉ là những nơi có cảnh quan thiên
nhiên đẹp, mà một nhân vật tiêu biểu nào đó trong lịch sử đã từng nghỉ
chân, sau này được nhân dân biết ơn, tạo dựng lại những sinh hoạt đó tạo
nên một nét đẹp văn hóa, một phong tục, hoặc có thể là một lễ hội ở chính
địa điểm, không gian đó.
Thứ hai: DTLSVH được hình thành và tồn tại luôn gắn với không
gian nhất định và có tiến trình thời gian; DTLSVH được con người sáng tạo
ra và được các thế hệ con người bồi đắp, lưu truyền để tạo thành sản phẩm
mang kết tinh văn hóa của nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử xã hội. Mỗi
di tích đều tích hợp nhiều tầng, lớp văn hóa mang giá trị nghiên cứu cho dù
di tích đó được kiến tạo bằng chất liệu gì đi chăng nữa, được đan xen những
giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.
Như vậy cần khẳng định: DTLSVH là sản phẩm vật thể do con
người sáng tạo ra; mỗi DTLSVH tiềm ẩn nhiều giá trị và thông tin của
nhiều lĩnh vực khoa học. Mỗi DTLSVH có những thông tin sống động mà
các nguồn sử liệu không thể ghi chép đầy đủ được.
1.1.3. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hoá
1.1.3.1. Quản lý
Trong công trình Lý luận quản lý nhà nước, tác giả Mai Hữu Khuê
xác định:


13

Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể
vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và
các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển
của đối tượng theo những mục đích nhất định. Đây có thể là khái
niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý [35,
tr.14].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý” là việc chăm nom và
điều khiển các hoạt động trong một tổ chức ban quản lý nhân sự; trông
nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện; quản lý sổ sách…” [31, tr.688].
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác
nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
1.1.3.2. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước
trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý các
hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật.
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản
sau: Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật;
Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội;
Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá.
Như vậy quản lý nhà nước về DTLSVH là sự định hướng, tạo điều
kiện tổ chức điều hành của cơ quan đại diện cho Nhà nước trong việc bảo
vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích phát huy theo
chiều hướng tích cực.
Luật Di sản văn hóa năm 2001, 2009 đã chỉ rõ nội dung quản lý nhà
nước và cơ quan quản lý nhà nước tại điều 54 như sau:


14

Điều 54: Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về di sản văn hóa.
3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản
văn hóa.
4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa.
6. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hóa.
7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa.
8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu
nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [40,
tr.34,35].
Điều 55:
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa;
2. Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa;
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách
nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của
Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ


15

quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với
Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà
nước về di sản văn hóa;
4. Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền
hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa
ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [40, tr.35-36].
Như vậy, quản lý DTLSVH là quá trình tác động của chủ thể quản
lý (chính là hệ thống các cơ quan quản lý di tích) tới đối tượng quản lý (là
hệ thống DTLSVH). Để công tác quản lý có hiệu quả cần thông qua
phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoặc làm thay đổi tình
trạng hiện hữu. Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là DTLSVH thì
mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH phục vụ
quần chúng nhân dân và đáp ứng các yêu cầu của công cuộc xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.2.1. Các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước ban hành
Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, trong lúc phải đối phó với
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nhưng Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn không quên việc bảo vệ các DSVH của dân
tộc. Nhà nước ta chủ trương đặt toàn bộ các di tích dưới sự bảo hộ của pháp
luật. Chủ trương đó được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể trong Sắc lệnh số
65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ
học viện và bảo tồn di tích trên toàn cõi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký. Nội dung Sắc lệnh xác định toàn bộ DTLSVH là tài sản của nhân
dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu và các di tích khác
chưa được bảo tồn. Sắc lệnh đã khẳng định quan điểm và nhận thức đúng
đắn của Chính phủ đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích
trong công cuộc kiến thiết đất nước. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống


16

thực dân Pháp đã không cho phép chúng ta mở rộng hoạt động trong lĩnh
vực bảo vệ di tích của đất nước trong giai đoạn này.
Tiếp theo là hệ thống các văn bản:
Thông tư số 38-TT-TW ngày 28/6/1956 của Trung ương Đảng quy
định về việc bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh đề cập đến việc
nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh
trong các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân; đình chỉ ngay các
hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến các di tích; tiến hành phân
loại và xây dụng kế hoạch tu bổ các di tích
Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ
quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bản tồn di tích l à một văn bản
pháp lý quan trọng, có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói
riêng và bảo tồn, bảo tàng nói chung. Nghị định số 519-TTg ngày 29 tháng
10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quy định các luật lệ cơ bản
cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này. Nghị định gồm 7 mục, 32 điều
trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; mục III quy định về sưu tầm
và khai quật; mục IV quy định về bảo quản; mục V quy định về trùng tu,
sửa chữa; mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch
sử. Như vậy, từ năm 1957 cho tới năm 1984, Nghị định số 519-TTg của
Thủ tướng Chính phủ đã phát huy tốt tác dụng làm kim chỉ nam cho hoạt
động bảo vệ di tích.
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND ngày 04/04/1984 của Hội đồng Nhà
nước bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh là
bước tiến lớn của ngành bảo tồn, bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ
đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể. Nhờ có Pháp
lệnh và một cơ chế quản lý mới, với phương châm ‘‘nhà nước và nhân dân
cùng làm’’ đã góp phần cứu vãn sự hủy hoại của hàng trăm di tích, góp
phần ngăn chặn một phần những vi phạm về đất đai liên quan đến di tích.


17

Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định cụ thể: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát huy các DSVH dân tộc; chăm
lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác dụng
của các di tích lịch sử, cách mạng, các DSVH, các công trình nghệ thuật,
các danh lam thắng cảnh. Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di
tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998: “Xây dựng và
phát triền nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” khẳng
định: DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản
sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Bảo
tồn và phát huy giá trị các DSVH được coi là một trong mười nhiệm vụ cụ
thể trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa. Bản sắc dân tộc ở mỗi giai
đoạn lịch sử cũng được bồi đắp thêm nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa
bền vững, những tinh hoa kết đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể
hiện ở các DSVH bao giờ cũng là cái cốt lõi. Chính với ý nghĩa đó, Nghị
quyết nhấn mạnh phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả
văn hóa vật thể và phi vật thể.
Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật Di sản văn hóa năm 2009 ra đời đã tạo những cơ sở pháp lý để
triển khai một loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy
giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và
chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm,
những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người
có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các
Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong việc bảo
tồn DSVH. Tuy nhiên trong quá trình đưa Luật Di sản văn hóa áp dụng vào


18

thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như
giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, chưa bao quát
được mọi loại hình và tính chất của các di sản văn hóa…
Như vậy, trên phương diện quản lý nhà nước, Luật Di sản văn hóa là
văn bản pháp quy chính thức nhằm bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Theo
đó, tất cả các cấp quản lý, các tổ chức xã hội và cá nhân đều có quyền và có
trách nhiệm thực hiệu theo những điều mà luật đã đề ra. Quy hoạch tổng
thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê
duyệt số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích
ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020. Dự án này đóng
vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể về bảo tồn và
phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh làm thắng cảnh ở nước ta hiện
nay. Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ hướng
dẫn chi tiết Luật Di sản văn hóa; Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày
21/9/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi; bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa năm 2009.
Đây là những văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn và cụ
thể hóa những quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa
đổi, bổ xung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, đặc biệt là
những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý DTLSVH.
Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ Quy
định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo
quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh.
Nghị định nhằm hướng dẫn cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm
2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×