Tải bản đầy đủ

Khu vực Mậu dịch Tự do AFTA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
MÔN: KINH TẾ THƯƠNG MẠI ĐẠI CƯƠNG

Đề tài: Khu vực Mậu dịch Tự do AFTA
Giảng viên hướng dẫn: Ths Thái Thu Hương
Nhóm: 01
Lớp: 1714TECO0111

Hà Nội-2017
1


1. Lịch sử hình thành:

•Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trường
chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trước nhứng thách
thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực của toàn
hiệp hội, những thách thức đó là:
- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong
lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sự ủng

hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế.
- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khu vực Mậu
dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA sẽ trở thành các
khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị
trường này.
- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các
nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn
nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông Âu đã trở thành
những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành
viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực.
•Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, Hội nghị
Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự
do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp
định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ
thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối
với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước.
2. Nguyên tắc hoạt động:
•Phương thức ra quyết định: Tham vấn và Đồng thuận (consultation & concensus)
- Mọi vấn đề của ASEAN đều phải tham vấn tất cả các nước thành viên ASEAN và quyết
định chỉ được thông qua khi tất cả các nước thành viên đều nhất trí hoặc không phản
đối.Phương thức này đã được áp dụng lâu dài và trở thành một nguyên tắc “bất thành văn”
được các nước tôn trọng.
•Nguyên tắc trong quan hệ với các đối tác: trong triển khai quan hệ đối ngoại của
ASEAN, các quốc gia thành viên sẽ phối hợp và nỗ lực xây dựng lập trường chung
cũng như tiến hành các hoạt động chung trên cơ sở thống nhất và đoàn kết, tuân thủ các
mục tiêu và nguyên tắc đề ra trong Hiến chương (theo Điều 41 Hiến chương ASEAN).

2


-Tiệm tiến và thoải mái với tất cả các bên: hợp tác khu vực phải được tiến hành từng
bước, bảo đảm phù hợp với lợi ích, khả năng của các nước và tất cả đều có thể tham gia,
đóng góp, không thành viên nào bị “bỏ lại”. Điều này xuất phát từ thực tế rất đa dạng ở khu
vực, các nước khác nhau về chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển, điều kiện văn hóa,
lịch sử.
3.Tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam:
•Đối chiếu nội dung của AFTA cũng như những tác động có thể có của nó đối với các
nước thành viên nói chung, đối chiếu với tình hình cụ thể và tiến trình thực hiện AFTA của
Việt Nam, AFTA có thể có những tác động trên các mặt chính sau:
- Tác động đến thương mại
- Tác động đến đầu tư nước ngoài
- Tác động đến công nghiệp
- Tác động đến ngân sách nhà nước
3.1. Tác động đến thương mại:
3.1.1.Nhập khẩu:
-Trong những năm gần đây, hàng hóa từ ASEAN vào Việt Nam chiếm khoảng 25% kim
ngạch nhập khẩu (NK), trong đó nguyên vật liệu dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn. Các mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực hiện chương
trình thuế quan có hiệu lực chung (CEPT).
Do vậy, AFTA không có tác động trực tiếp tới việc NK những mặt hàng này.
-Ngoài ra, một số hàng NK có kim ngạch đáng kể ở Việt Nam như xăng dầu, xe máy... chưa
được đưa vào danh sách giảm thuế ngay nên trước mắt sẽ nằm ngoài phạm vi tác động của
AFTA.
-Về lâu dài, Việt Nam chắc chắn phải đưa thêm những mặt hàng từ danh mục loại trừ tạm
thời có thuế suất trên 20% vào diện cắt giảm ngay, và loại trừ dần các hàng rào phi thuế
quan (nhất là những hạn chế về số lượng nhập khẩu). Khi đó, rất có thể NK, nhất là những
mặt hàng tiêu dùng từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ tăng lên nếu những mặt hàng
cùng loại sản xuất trong nước không cạnh tranh lại được.
3.1.2.Xuất khẩu:
a,Xuất khẩu sang các nước ASEAN khác:
•Về lý thuyết và dài hạn, AFTA có tác động làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan.
Song trong vài năm tới, khả năng AFTA làm tăng kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam
sang các nước này không lớn do các nguyên nhân sau:
3


-Xét về cơ cấu hàng XK: Những năm gần đây, ASEAN thường chiếm khoảng 20-23%
kim ngạch XK của Việt Nam. Đây là một con số đáng kể. Nhưng những mặt hàng được
hưởng thuế suất CEPT lại chỉ chiếm gần 20% kim ngạch XK sang ASEAN, tương đương
với dưới 4% tổng kim ngạch XK của Việt Nam năm 2001. Và mức tăng XK của những mặt
hàng này sang các nước ASEAN khác cũng không lớn.Hơn nữa, cơ cấu hàng hóa của Việt
Nam và ASEAN khá tương đồng. Với trình độ thua kém hơn, Việt Nam chỉ có thể cạnh
tranh trên thị trường ASEAN nhờ tính độc đáo của chủng loại, mẫu mã và do đó, chỉ mang
tính bổ sung cho cơ cấu hàng hóa nước đối tác.
-Xét về bạn hàng: Có 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN được thực hiện
với Singapore. Phần lớn hàng Việt Nam xuất sang Singapore sẽ được tái xuất sang các nước
khác. Nhưng ở nước này, hệ thống thuế xuất nhập khẩu trước AFTA vốn đã thấp, gần như
bằng 0%. Do vậy, khi thực hiện CEPT trên toàn khối ASEAN, 1/3 kim ngạch xuất nhập
khẩu còn lại của Việt Nam với các nước ASEAN khác sẽ chưa làm thay đổi nhiều XK Việt
Nam nếu xét theo khía cạnh được hưởng ưu đãi thuế NK thấp.
Có thể kết luận rằng: Chỉ khi nào Việt Nam tạo được sự dịch chuyển cơ cấu sản xuất và
XK theo hướng tạo ra được nhiều chủng loại hàng hóa có sức cạnh tranh và nằm trong danh
mục cắt giảm của CEPT, các doanh nghiệp Việt Nam mới có thêm thuận lợi về yếu tố giá cả
khi muốn XK sang ASEAN.
b. Về phần XK sang các nước ngoài ASEAN:
•Về dài hạn, AFTA có tác động gián tiếp làm tăng kim ngạch XK của Việt Nam sang các
thị trường ngoài ASEAN do nhập được đầu vào cho sản xuất XK với giá rẻ hơn từ các nước
ASEAN. Mặt khác, với tư cách một thành viên của AFTA, Việt Nam có điều kiện để khai
thác những lợi thế mới trong quan hệ thương mại với nước lớn.Tuy vậy, cơ cấu sản phẩm
của các nước ASEAN xuất ra thị trường thế giới lại khá tương đồng với Việt Nam. Và họ
cũng được hưởng những lợi ích tương tự. Do đó, tham gia AFTA, Việt Nam tiếp tục phải
chấp nhận cạnh tranh rất quyết liệt với các thành viên khác trong hiệp hội không chỉ trên thị
trường khu vực. Cũng cần nói thêm rằng, việc Việt Nam tham gia AFTA và tổ chức Hợp tác
Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ( APEC ) tháng 11/1998 là những sự chứng minh, là
bước chuẩn bị, tập dượt để gia nhập WTO.
3.2. Tác động đến đầu tư nước ngoài:
3.2.1. Đầu tư từ các nước ASEAN khác:
•AFTA có tác động phân công lại các nguồn lực trong khu vực theo hướng hợp lý hóa.
Khi không còn bảo hộ, một số ngành công nghiệp của một số nước sẽ bộc lộ sự thua kém về
khả năng cạnh tranh, để tồn tại, hoặc để thu được nhiều lợi nhuận hơn, các nhà kinh doanh
trong những ngành này sẽ đầu tư sang các nước ASEAN khác có các yếu tố thuận lợi hơn,
trong đó có Việt Nam.

4


3.2.2. Đầu tư nước ngoài từ các nước khác:
•Về lý thuyết: Một khu vực thương mại tự do sẽ làm tăng đầu tư từ ngoài khu vực. Đó là
bởi các nhà đầu tư có thể sản xuất hàng hóa tại một hay một số nước và đưa ra tiêu thụ ở tất
cả các nước thành viên với mức thuế thấp và hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ. Khi các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước, họ sẽ có một thị trường tiềm năng rộng lớn hơn
nhiều lần nước đó.
-Áp dụng lý thuyết đó vào AFTA và Việt Nam: các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào
Việt Nam, họ sẽ không chỉ nghĩ đến một thị trường với 90 triệu dân, mà còn tính đến cả thị
trường ASEAN với trên 600 triệu người.
•Nhưng trên thực tế: Thuế chỉ là một trong rất nhiều yếu tố được xem xét để đi đến quyết
định đầu tư. Thuế thấp sẽ mất đi ý nghĩa thu hút đầu tư nước ngoài nếu không đi kèm với sự
ổn định chính trị, xã hội, luật đầu tư nước ngoài thông thoáng, nguồn lao động giá rẻ và có
tay nghề cao...
•Như vậy, để tận dụng được những cơ hội thu hút đầu tư từ các nước khác mà AFTA đem
lại, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện một cách đồng bộ và toàn diện môi trường đầu tư.
3.3. Tác động đến công nghiệp:
•Ở một mức độ nào đó, AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Trong
đó, một số ngành sẽ phát triển, một số ngành sẽ bị thu hẹp. Tuy nhiên AFTA cũng tạo cho
chúng ta điều kiện và thời gian để chuẩn bị và vươn lên để có thể đứng vững và phát triển vì
một số lý do sau:
- Thứ nhất: mọi thời hạn thực hiện và hoàn thành AFTA/CEPT đối với Việt Nam được cộng
thêm 3 năm;
- Thứ hai: cũng như các nước ASEAN khác, Việt Nam không cần phải đưa ngay một lúc tất
cả các danh mục hàng hóa vào chương trình giảm thuế. Những mặt hàng nào có tỷ trọng NK
cao và có khối lượng giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường nội địa có thể sẽ đưa vào giảm thuế
chậm hơn;
- Thứ ba: sau khi một mặt hàng được giảm thuế, các hàng rào phi thuế quan (nếu có đối với
mặt hàng đó) sau đó 5 năm mới phải xóa bỏ;
- Thứ tư: việc cắt giảm thuế NK đối với một số nguyên liệu, sản phẩm đầu vào sẽ làm giảm
chi phí sản xuất và do vậy, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho một số sản phẩm
công nghiệp.
•Vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà kinh doanh là làm
thế nào để tận dụng được những cơ hội và thời gian một cách có hiệu quả, định hướng cơ
cấu công nghiệp và mặt hàng kinh doanh như thế nào để có thể phát huy được lợi thế so
sánh của Việt Nam trong phân công lao động khu vực.

5


•Trên cơ sở định hướng phát triển công nghiệp theo cơ chế kinh tế mở, Nhà nước cần tạo
môi trường thuận lợi và đầu tư thích đáng, đồng thời áp dụng các biện pháp bảo hộ hợp lý
trong thời gian cho phép để các ngành có tiềm năng phát triển có thể cạnh tranh không
những trên thị trường trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, mọi sự
bảo hộ của Nhà nước đều có giới hạn. Để đứng vững và phát triển, các doanh nghiệp cần
phải khẩn trương nghiên cứu nhu cầu thị trường trong nước và khu vực, khả năng cạnh tranh
của các nước ASEAN trong cùng lĩnh vực để kịp thời điều chỉnh cơ cấu sản xuất, đổi mới
trang thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực quản lý khi sự bảo hộ không còn nữa, đặc
biệt trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam về cơ bản sẽ hoàn thành AFTA vào năm 2005.
3.4.Tác động đến ngân sách nhà nước:
•Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc chắn sẽ
tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam thực sự
cắt giảm thuế quan, tức là từ 1-7 năm. Theo số liệu những năm gần đây, NK từ các nước
ASEAN chiếm khoảng 20-23% kim ngạch NK của Việt Nam, trong khi đó, thuế NK (trừ
dầu thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số học đơn thuần,
khi cắt giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm.
•Về dài hạn, AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Như vậy, cơ sở để tính toán
rằng, phần giảm của thuế NK do thực hiện CEPT sẽ được bù lại bằng tăng thu do kim ngạch
buôn bán tăng và tăng thu từ các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế thu nhập công ty...Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lý thuyết, thực tế còn phụ thuộc vào
sự phát triển của sản xuất trong nước, hiệu quả của hệ thống thuế và bộ máy thu thuế.
Tóm lại, tham gia AFTA là bước đi tất yếu đầu tiên của Việt Nam trên con đường hội
nhập với khu vực và thế giới. Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới cũng như
nhiều thách thức to lớn. Cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau, đòi hỏi sự nỗ lực cả tầm vĩ
mô và vi mô để khai thác triệt để các cơ hội và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu
cực do các thách thức đưa đến.Không nên coi việc thực hiện AFTA như một quá trình hay
hành động riêng biệt, mà phải đặt nó trong lộ trình hội nhập và tự do hóa thương mại tổng
thể, trong đó, mục tiêu nhất quán được xác định bởi khuôn khổ WTO.

6


PHIẾU ĐÁNH GIÁ ĐIỂM CÁC THÀNH VIÊN
Môn: Kinh tế thương mại đại cương
Nhóm: 01
Lớp học phần: 1714TECO0111

STT

Họ và tên sinh viên

Nhiệm vụ

Số buổi
tham
gia họp
nhóm
5

Nhóm
đánh
giá

1

Nguyễn Thị Vân Anh

1.Lịch sử hình thành

2

Phan Thị Ngọc Ánh

5

9

3

Nguyễn Xuân Bách

3. Tác động đối với nền
kinh tế Việt Nam
2. Nguyên tắc hoạt động

5

9

4

Nguyễn Thị Ngọc
Châm

3. Tác động đối với nền
kinh tế Việt Nam

5

9

5

Nguyễn Đông Dương

Làm bản Powerpoint

5

9

6

Trần Thị Duyên

Làm bản Word

5

9

7

Vũ Thị Duyên

2. Nguyên tắc hoạt động

5

9

Giáo
viên
đánh
giá

9

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×