Tải bản đầy đủ

“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ 5 6 tuổi”

1
I.

TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ HỌC TÍCH CỰC HƠN
TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
“ Xung quanh ta có bao điều kỳ lạ
Mà sao ta biết chẳng được bao nhiêu”
Câu nói đó đã nói lên thế giới xung quanh ta rất bao la
rộng lớn, nó bao gồm tất cả các sự vật hiện tượng, cây cỏ, con vật, các mối quan
hệ giữa người với người, giữa người với vật, các vấn đề về tự nhiên và xã hội.
Chúng ta không thể đi đến hết tất cả mọi nơi, không thể tận mắt nhìn thấy hết
được các sự vật, hiện tượng nhưng con người luôn có khát vọng muốn được
khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh bởi vì đó chính là môi trường sống
của con người, nó lại là một kho tàng kiến thức vô tận ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của con người, cho nên con người luôn có nhu cầu khám phá thế
giới xung quanh thông qua các hoạt động để có những hiểu biết về thế giới, cải
tạo thế giới nhằm phục vụ cho chính cuộc sống của con người.
Đối với trẻ mầm non, nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh
đã xuất hiện. Đặc biệt đối với trẻ 3- 4 tuổi cái tuổi vừa mới được đến trường có
nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh rất lớn nhưng vì trẻ nhỏ

chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ chưa thể tự khám phá được về thế giới
xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia
vào các hoạt động nhằm cho trẻ làm quen, khám phá về môi trường xung quanh.
Khi trẻ được khám phá thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích luỹ được vốn sống,
vốn kinh nghiệm, trẻ tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng về tự nhiên và xã
hội, giúp trẻ được phát triển toàn diện về các mặt.
Thông qua việc cho trẻ làm quen khám phá môi trường xung quanh sẽ
giúp trẻ được phát triển toàn diện về các mặt, nhân cách của trẻ được hình thành
và phát triển. Đó là mục đích hàng đầu của ngành học mầm non nói riêng và
ngành giáo dục nói chung.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Tâm hồn trẻ rất ngây thơ và trong trắng, trẻ “Học mà chơi, chơi mà học”,
thế giới xung quanh trẻ với biết bao điều kì diệu và mới mẻ. Các câu hỏi “Vì sao
lại thế”, “Tại sao”,…luôn tồn tại trong tâm trí của trẻ vì vậy trẻ luôn khao khát
muốn biết, muốn tìm hiểu và khám phá.
- Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi cầm nắm các vật trên
tay, hay khi trẻ biết bước đi những bước đi chập chững trẻ đã muốn tìm hiểu
khám phá thế giới xung quanh. Ví dụ: Khi có một vật gì trẻ thích thì trẻ sẽ chú ý
nhìn vào vật đó.
Vì vậy hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh có tầm
quan trọng đặc biệt với sự phát triển tâm lý trẻ mầm non nói chung và trẻ 3-4
tuổi nói riêng. Cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xung quanh chính là
tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tích cực tìm tòi khám phá phát hiện các hiện tượng


2
sự vật xung quanh qua đó giúp trẻ được tiếp xúc với môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội, trẻ sẽ lĩnh hội những kiến thức sơ đẳng, những hiểu biết những
kinh nghiệm về thế giới xung quanh về các mối quan hệ giữa người với người,
giữa người với vật.Trên cơ sở đó trẻ hiểu đúng đắn về đối tượng, trẻ mạnh dạn
tự nói lên những hiểu biết về đối tượng.
- Nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ khám phá khoa học và
làm sao để những giờ học đó trở nên thú vị, không khô khan với trẻ nên tôi đã
chọn đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ học tích cực hơn trong hoạt động
khám phá khoa học cho trẻ 3- 4 tuổi”.
IV. CƠ SỞ THỰC TẾ:
1. Thuận lợi:
- Một số trẻ mạnh dạn, rất thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh
- Đa số phụ huynh của lớp còn trẻ nên rất quan tâm đến con cái của mình.
2. Khó khăn:


- Lớp có số lượng đông nên việc cho trẻ tìm tòi khám phá gặp nhiều khó
khăn, cô giáo không quan tâm hết được từng cháu trong một tiết học
- Trẻ 3-4 tuổi hiếu động chưa có nề nếp nên khó khăn trong việc quản lí
trẻ khi thực hiện các hoạt động trải nghiệm như: quan sát, làm thí nghiệm…
- Một số phụ huynh chưa quan tâm đến con mình đúng mức, cho cháu đi
học chưa đúng giờ.
V
. Nội dung nghiên cứu:
1. Biện pháp 1: Sử dụng tối da các phương pháp dạy học tích cực.
1.1 Nắm bắt khả năng nhận thức của trẻ:
- Năm nay, tôi chủ nhiệm lớp mẫu giáo bé cái
tuổi còn bú mẹ, khi đến trường các cháu rất bỡ ngỡ, rụt rè, e ngại, vì vậy trong
các giờ đón trẻ tôi gần gủi, âu yếm, quan tâm đến từng trẻ để có thể hiểu, nắm
bắt được đặc điểm của từng cháu. Từ đó tôi đã tạo ra hệ thống câu hỏi khi đến
đầu các chủ điểm tôi hỏi từng trẻ để nắm bắt khả năng nhận thức của trẻ đến
đâu, biết được những gì về chủ điểm sắp học để tôi đưa ra các tiết học phù hợp
với trẻ.
+ Ví dụ: Ở chủ điểm “Trường mầm non” đây là chủ điểm rất mới lạ đối
với trẻ vì lần đầu tiên trẻ đi học, tôi đã đặt các câu hỏi như:
- Con đi học ở trường gì nào?
- Ở trường con có đồ chơi gì?
- Con học lớp gì?
- Cô nào dạy con?
- Lớp con có đồ chơi gì ?
- Tết Trung thu có gì các con?...
+ Ở chủ điểm “Bé dễ thương” tôi đã đặt các câu hỏi như:
- Con tên gì?
- Con bao nhiêu tuổi?
- Con biết bạn này tên gì không?
- Con có biết tên các bạn trong lớp mình không?


3
- Mắt dùng để làm gì các con?
- Mũi dùng để làm gì nào?
+ Ở chủ điểm “Gia đình của bé” tôi đã đặt các câu hỏi như:
- Ba con tên gì? Ba con làm nghề gì?
- Mẹ con tên gì? Mẹ con làm nghề gì?
- Nhà con có ai kể cho cô nghe nào?
- Khi uống nước con dùng cái gì để uống nào?
- Khi ăn cơm con dùng cái gì nào?...
Tôi đã dùng các câu hỏi gợi mở này để làm một bài trắc nghiệm nhỏ cho
học sinh lớp tôi. Qua đó, tôi đã nắm bắt được khả năng nhận thức của từng cháu
tới đâu, từ đó tôi đưa ra các đề tài gần gũi mà trẻ chưa biết và phù hợp với trẻ.
Như ở chủ điểm “Trường mầm non” trẻ lớp tôi chưa biết nhiều về trường lớp,
còn rất mơ hồ về tết Trung thu nên tôi đã đặt tên đề tài “Trường mẫu giáo
Hương An thân yêu”, “ Lớp mẫu giáo bé mến thương”, “Vui hội Trung thu”….
1.2 Tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm, khám phá:
- Tôi thường cho trẻ trải nghiệm khám phá mọi nơi, mọi lúc. Chẳng hạn
vào đầu mỗi chủ đề tôi cho trẻ chơi các trò chơi, cầm nắm các đồ dùng, đồ chơi
liên quan đến chủ điểm, sau đó tôi đến trò chuyện, với trẻ về các trò chơi, hay
các đồ dùng đồ chơi trẻ đang chơi.
+ Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi cho trẻ chơi các trò chơi về
tiếng kêu, dáng đi các con vật. Sau đó tôi cho trẻ chơi vói các con vật bằng
nhựa. Khi trẻ đang chơi tôi đến trò chuyện với trẻ như “Con gì đây con?” nếu trẻ
không trả lời được tôi hỏi tiếp con gì mà kêu “Meo meo”. Khi đó trẻ sẽ nhớ lại
và trả lời là con mèo.
- Mỗi một ngày tôi cho trẻ hoạt động ngoài trời để khám phá môi trường
xung quanh trẻ như: cây, hoa, bầu trời,... qua đó trẻ có thể trải nghiệm, khám phá
thế giới xung quanh trẻ và giúp trẻ có một số kiến thức cho tiết học khám phá
tiếp theo. (hình minh họa số 1)
- Tôi còn cho trẻ trải nghiệm, khám phá qua các trò chơi như: Cửa hàng
giày, chiếc túi kì diệu, siêu thị của bé… Thông qua trò chơi này trẻ có thể lĩnh
hội lại các kiến thức đã học.
- Hoặc tôi xây dựng các mô hình, hoặc các đoạn phim về thế giới xung
quanh trẻ cho trẻ xem, từ đó trẻ được trải nghiệm khám phá và trẻ có thể nhớ rồi
hình dung lại khi vào tiết học.
Ví dụ: Tôi xây dựng mô hình nhà của bé (hình minh họa số 2), vườn rau
nhà bé, hoặc cho trẻ xem phim về thế giới động vật, …
1.3 Sử dụng hệ thống câu hỏi mở để phát huy tính tích cực về nhận
thức của trẻ:
- Đối với các hoạt động phát triển nhận thức, việc sử dụng hệ thống câu hỏi
mở là vô cùng quan trọng và cần thiết cho trẻ khi xây dựng kế hoạch cũng như
khi tổ chức thực hiện, chúng ta nên sử dụng các loại câu hỏi như:


4
+ Câu hỏi kích thích trẻ phỏng đoán, suy đoán diễn biến, kết quả của sự
vật, hiện tượng: Câu hỏi này thường bắt đầu bằng các cụm từ như : “Do đâu?”,
“Làm sao con biết?”, “Điều gì sẽ xảy ra?”, “Con sẽ làm thế nào?”, …
Ví dụ: Ở chủ điểm “Hiện tượng tự nhiên” với đề tài “Bé yêu mùa hè” tôi
sẽ đặt các các câu hỏi như:
- Khi mùa hè đến ba mẹ cho các con đi đâu?
- Khi được đi biển con sẽ làm gì?
- Điều gì sẽ xảy ra khi các con đi biển mà không có người lớn?
- Biển cho các con những con vật gì?
- Làm sao con biết ? Vậy các con phải làm gì để biển sạch hơn?
Hoặc ở tiết học về “Ích lợi của nước” tôi sẽ đặt các câu hỏi như:
- Khi ly uống nước bẩn các con sẽ làm gì?
- Khi uống thì các con uống nước gì?
- Con sẽ làm như thế nào khi nước uống bị bẩn?
+ Câu hỏi khuyến khích trẻ giải thích ý kiến, đánh giá về sự vật, hiện
tượng. Loại câu hỏi này thường bắt đầu bằng cụm từ như: “Tại sao?”, “Theo con
thì sẽ như thế nào?”, “Vì sao?”…
Ví dụ: Ở tiết học về mùa hè:
- Khi trời nóng con mặc áo quần như thế nào? Vì sao?
- Theo các con có nên mặc áo ấm vào mùa hè không? Tại sao?
- Khi đi dưới trời nắng các con phải làm gì? Vì sao?
Với những câu hỏi mở như vậy, giáo viên kích thích trẻ suy nghĩ và tìm
hiểu về sự vật, hiện tượng sâu hơn, hứng thú hơn; trẻ sẽ đưa ra nhiều tình huống
hơn, câu trả lời sẽ có nhiều cách lí giải, ngộ nghĩnh, đáng yêu và cũng thực tế
hơn.
1.4. Sử dụng các trò chơi mới trong giờ học:
- Trẻ mầm non “Học mà chơi, chơi mà học”. Sau thời gian trò chuyện,
đàm thoại với cô trẻ được hoạt động, được tham gia vào các trò chơi hứng thú.
Qua đó, trẻ không chỉ ngồi nghe cô nói và trả lời các câu hỏi của cô mà trẻ còn
có cơ hội để bộc lộ các hiểu biết của mình thông qua các trò chơi. Ngoài ra trò
chơi còn có tác dụng củng cố, bổ sung và phát triển thêm các tri thức mà trẻ vừa
lĩnh hội, tái tạo lại biểu tượng đã học thông qua những hoạt động thực tiễn. Do
đó trò chơi củng cố trong giờ hoạt động khám phá là rất quan trọng. Trò chơi
càng phong phú đa dạng bao nhiêu thì các tri thức trẻ lĩnh hội càng sâu sắc và
càng nhớ lâu bấy nhiêu. Dưói đây là một số trò chơi tôi đã tổ chức:
* Trò chơi 1: “Tìm nhà cho các con vật’’ sử dụng trong các hoạt động: Một
số con vật nuôi trong gia đình (gia cầm, gia súc ,vật nuôi nói chung)
+ Chuẩn bị: Bút mầu, bàn ghế, mỗi trẻ có một tờ giấy có vẽ hình giống
mẫu ở dưới.
+ Cách chơi: Trẻ ngồi theo bàn, mỗi trẻ có một tờ giấy giống mẫu ở dưới,
trẻ dùng bút nối con vật ở giữa tương ứng với ngôi nhà của chúng rồi tô màu.
Sau khi chơi xong cô nhận xét kết quả.
+ Luật chơi: Thi xem ai tìm được nhiều nhà cho con vật nhất.


5
* Trò chơi 2: “Ghép hình con cá’’(hình minh họa số 3) sử dụng trong hoạt
động “Tìm hiểu về con cá”
+ Chuẩn bị: Các chi tiết con vật như đầu, mình, đuôi, vây, nơi hoạt động,
thức ăn…2 bảng gắn, bàn để chi tiết.
+ Cách chơi: Chia làm hai đội, số lượng trẻ ở mỗi đội bằng nhau. Khi có
hiệu lệnh chơi lần lượt từng trẻ ở mỗi đội chạy lên tìm một chi tiết con vật của
đội mình gắn lên bảng .Kết thúc trò chơi đội nào ghép được nhiều chi tiết nhất là
đội thắng cuộc.
+ Luật chơi: Chơi theo luật tiếp sức, đội nào ghép được nhiều chi tiết nhất
là đội thắng cuộc
* Trò chơi 3: “Ong tìm ảnh’’(hình minh họa số 4) sử dụng trong các hoạt
động: các loại quả, các loại rau, thế giới động vật….
+ Chuẩn bị: Tranh vẽ các loại ra củ quả, hình ảnh về bác nông dân, con
vật. Tranh cắt rời của các loại rau củ quả, động vật,…
+ Cách chơi: Chia làm 2 đội, số trẻ ở mỗi đội bằng nhau. Khi có hiệu
lệnh bắt đầu, lần lượt từng trẻ ở mỗi đội chạy lên tìm một ô màu (hình minh họa
a) rồi gắn xuống dưới bảng theo đúng thứ tự. Sau khi ghép xong cô sẽ lật các ô
màu các con đã chọn để kiểm tra kết quả, nếu các con chọn được là một hình
ảnh nguyên (hình minh họa b) thì kết quả đó được cô tính và thưởng phần quà,
nếu các mảnh ghép lại mà không khớp với hình ảnh đã học (hình minh họa d)
thì không tính, nếu các mảnh ghép lại khớp thì kết quả này được tính và thưởng
phấn quà (hình minh họa c).
+ Luật chơi: Đội nào chọn đúng nhất là đội chiến thắng.
* Trò chơi 4: “Bàn tay vàng” (hình minh họa số 5) sử dụng trong hoạt
động: Một số loại rau, thế giới động vật……
+ Chuẩn bị: Một số loại rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả...
+ Cách chơi: Chia trẻ làm 2 đội, nhiệm vụ của mỗi đội phải dùng bạn tay
của mình đấm vỡ vào cảnh cửa của ô nếu cánh cửa đó có hình ảnh về động vật
thì được tính, nếu vỡ ô cửa mất lượt thì mất lượt chơi, nếu vỡ ô cửa thêm lượt sẽ
được thêm lượt chơi, nếu vỡ ô cửa hình ảnh khác sẽ không được tính sau thời
gian sẽ tính kết quả nếu đội nào chọn nhiều con vật hơn sẽ chiến thắng.
+ Luật chơi: Chơi theo luật tiếp sức .
* Trò chơi 5: “Chiếc nón kỳ diệu” sử dụng trong hoạt động: “Một số luật
bé biết”…
+ Chuẩn bị: Tranh ảnh về các biển báo giao thông.
+ Cách chơi: Chia trẻ làm 2 đội, nhiệm vụ của mỗi đội lên quay chiếc nón
nếu chiếc nón dừng ở tranh nào thì trẻ phải trả lời nội dung của bức bức tranh
đó. Trả lời đúng được thưởng một phần quà. Đội nào nhiều quà hơn sẽ thắng
cuộc.
+ Luật chơi: Nếu trả lời không được nhường quyền cho đội bạn
2. Biện pháp 2: Sử dụng đồng dao, ca dao, câu đố…
- Đồng dao là những bài hát dân gian có nội dung và hình thức phù hợp
với trẻ em. Đồng dao có lịch sử lâu đời, hình thành và phát triển cùng gia đình


6
và xã hội. Qua những bài đồng dao giúp các em có những cảm xúc tốt đẹp, giáo
dục các em trở thành những người có ích trong tương lai qua đôi mắt trẻ thơ,
thiên nhiên gắn bó với các em như “Chị lúa”, “Cô đậu nành”, “Anh dưa chuột”.
+ Trong chủ đề thế giới thực vật, tôi đã sử dụng bài đồng dao “Lúa ngô là
cô đậu nành” cung cấp thêm kiến thức cho trẻ về đặc điểm các loại quả khác
nhau. Trẻ rất dễ nhớ và hứng thú đọc qua đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho
trẻ.
Lúa ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô
Lúa ngô là cô đậu nành.
+ Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi dạy trẻ bài “Gà cục tác” ngắn gọn
nhưng trẻ biết những đặc điểm rõ nét về con gà, trẻ thuộc nhanh, cung cấp cho
trẻ hình ảnh về con gà rất sinh động.
Con gà cục tác, cục te
Hay đỗ đầu hè, hay chạy rông rông
Má gà thì đỏ hồng hồng
Cái mỏ thì nhọn, cái mồng thì tươi
Cái chân hay đạp, hay bươi
Cái cánh hay vỗ lên trời gió bay.
Bài “Làng chim” lại cung cấp cho trẻ tên gọi 24 loài chim với 24 động tác
khác nhau. Qua đó trẻ không chỉ biết được tên gọi mà còn biết được đặc điểm
vận động đặc trưng của 24 loài chim, làm giàu vốn hiểu biết, phát triển trí tưởng
tượng cho trẻ:
Hay chạy lon ton
Là gà mới nở
Cái mặt hay đỏ
Là con gà mào
Hay bơi dưói ao
Mẹ con nhà vịt
Hay la, hay hét
Là con bồ chao
Hay bổ, hay nhào
Là con bói cá…
+ Mặc khác, tôi còn sử dụng câu đố để kích thích tư duy, óc phán đoán
cho trẻ, làm phong phú vốn từ.
Ví dụ : Cho trẻ làm quen với con cua :
“ Con gì tám cẳng hai càng.
Đầu thì không có, bò ngang cả đời”
- Trẻ đoán ngay được đó là con cua, nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về
con cua được chính xác là con cua có hai càng to, có tám chân, lại bò ngang nữa.


7
+ Cho trẻ làm quen với con cá, tôi dùng câu đố:
“Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà bơi dưới hồ ”
- Trẻ trả lời đó là con cá nhưng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể:
có vây, có đuôi , có vẩy, môi trường sống của chúng… Từ đó trẻ có thể so sánh
xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau, có đặc điểm gì khác nhau?
Sau đó trẻ có thể phân nhóm .
- Tôi cho trẻ thi “Đố vui” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội
bạn.
“ Con gì ăn no
Bụng to mắt híp
Mồm kêu ụt ịt
Nằm phở phì phò”(Con lợn)
“Thường nằm đầu hè
Giữ nhà cho chủ
Mồm sủa gâu gâu
Đuôi thì vây vẩy” (Con chó)
“Quả gì không phải để ăn
Mà dùng để đá, để lăn, để chuyền” (Quả banh)
“Quả gì xanh, đỏ, tím vàng
Kết chùm bay bổng nhẹ nhàng trên không” (Quả bóng)
3. Biện pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin:
- Môi trường xung quanh trẻ rất rộng lớn và phong phú nhưng chúng ta lại
không có điều kiện cho trẻ tham quan, trải nghiệm. Thông qua công nghệ thông
tin tôi có thể cập nhật thông tin từ internet để download hình ảnh, video clip ứng
dụng vào dạy trẻ. Công nghệ thông tin là công cụ kịp thời giúp trẻ khám phá
môi trường xung quanh một cách nhanh nhất. Trẻ được chính xác hoá các biểu
tượng, hấp dẫn, cuốn hút trẻ vào giờ hoạt động hơn.
Ví dụ: Những động vật sống dưới biển, những con vật sống trong rừng
chúng ta không có điều kiện cho trẻ nhìn thấy trực tiếp nhưng khi ứng dụng
công nghệ thông tin tôi đã download đoạn phim về động vật sống dưới biển, hay
động vật sống trong rừng về rồi dạy cho trẻ, trẻ rất hứng thú. (hình minh họa số
6)
- Khi dạy về các hiện tượng tự nhiên tôi đã download các tiếng sấm, tiếng
mưa, gió… về cho trẻ trải nghiệm, khám phá từ đó trẻ có thể biết được các hiện
tượng tự nhiên đó và rất hứng thú khi được xem.
- Ở giờ hoạt động “Trò chuyện về ngày 30 tết” tôi không thể cho trẻ xem
hình ảnh bắn pháo hoa trực tiếp nên nhờ có công nghệ thông tin tôi có thể
download các hình ảnh, đoạn phim bắn pháo hoa về máy tính và cho trẻ xem trẻ
rất thích.


8
4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh:
- Phụ huynh thường không biết trẻ ở trường được học những gì và học
như thế nào. Lúc này tôi sẽ là sợi dây liên hệ quan trọng giữa trẻ và gia đình, tôi
sẽ dành thời gian trao đổi với phụ huynh trong các giờ đón, trả trẻ để phụ huynh
biết được hôm nay con đã học gì, con tiếp thu như thế nào, cần làm gì để con
nhớ bài tốt hơn… Trước mỗi hoạt động khám phá thì tôi nhờ phụ huynh kết hợp
giúp trẻ xem trước những hình ảnh, bày cho trẻ những điều cần thiêt, sau mỗi
giờ học tôi nhờ phụ huynh ôn lại kiến thức cho trẻ..... Lặp lại nhiều lần như cách
này sẽ tạo thành một thói quen tốt và là sự kết hợp tuyệt vời giữa gia đình, nhà
trường và bản thân trẻ. Làm trẻ sẽ luôn háo hức mỗi khi trở về nhà và kể với bố
mẹ những điều vừa khám phá .
+ Ví dụ: Khi tôi lên tiết dạy về “Nghề may” tôi sẽ nhờ phụ huynh giới
thiệu cho trẻ về những đồ dùng cần thiết của nghề may đặc biệt đối với những
phụ huynh làm nghề này thì tôi nhờ họ cho trẻ biết thêm về công việc, sản phẩm
của nghề.
- Trước mỗi giờ học cần đến những đồ dùng ở gia đình, tôi trao đổi với
phụ huynh và xin họ các loại chai, lọ, lịch cũ, cây xanh…và nhờ họ cùng tôi làm
đồ dùng đồ chơi phục vụ cho tiết học của trẻ.
+ Ví dụ: Ở chủ điểm “Thế giới động vật” tôi xin chai lọ của phụ huynh và
kết hợp với họ làm con cá, con hổ, con voi, con rùa…. ( hình minh họa số 7)
- Trao đổi với phụ huynh mua cho trẻ những quyển truyện, tranh về con
vật, cây cỏ … phù hợp với lứa tuổi để trẻ có được vốn kiến thức về thiên nhiên,
về xã hội phong phú.
VI. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
1. Đối với giáo viên:
- Giáo viên tự tin, vững vàng hơn trong các hoạt động dạy trẻ phát triển
nhận thức.
2. Đối với trẻ:
- Trẻ hứng thú, tích cực nhanh nhẹn và hoạt động theo nhóm hiệu quả
hơn.
- Trẻ cảm nhận được vẻ đẹp cũng như nắm bắt được một số đặc điểm qui
luật… của các sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh.
- Trẻ ý thức hơn với một số quy tắc xã hội; biết chia sẻ quan tâm, giúp đỡ
người khác, yêu con người, quê hương, đất nước, cuộc sống…
- Ngôn ngữ phát triển tích cực.
VII. KẾT LUẬN:
- Phát triển nhận thức cho trẻ thông qua hoạt động khám phá khoa học
không chỉ giúp cho trẻ có được một số kiến thức đơn giản về tự nhiên, xã hội;
biết được đặc điểm nổi bật của một số sự vật hiện tượng, một số qui luật của
cuộc sống…mà còn hình thành ở trẻ các kỹ năng, các thao tác tư duy một cách
tích cực nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Không chỉ vậy, phát triển
nhận thức còn giúp trẻ biết ứng xử trong cuộc sống, biết quan tâm, chia sẽ giúp
đỡ người khác, giúp trẻ gần gủi thân thiện hơn với môi trường tự nhiên và xã


9
hội. Chính vì vậy, việc phát triển nhận thức cho trẻ thông qua hoạt động khám
phá khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên.
VIII. KIẾN NGHỊ:
1.Về phía phòng giáo dục:
- Thường xuyên tổ chức các cuộc sinh hoạt chuyên môn, các lớp tập huấn
có các tiết dạy mẫu để giáo viên được tham dự trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
- Tiếp tục hỗ trợ đầu tư, tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cũng như trình độ tin học.
2.Về phía nhà trường:
- Tích cực làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để đồ dùng, đồ chơi phục
vụ cho hoạt động khám phá khoa học được phong phú, đa dạng hơn.
Hương An, ngày 20 tháng 3 năm
2015
Người viết
Nguyễn Thị Tới


10
IX. PHỤ LỤC: Hình ảnh minh họa


11

X. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Tâm lý học trẻ em
2. Chương trình giáo dục mầm non
3. Tài liệu về hướng dẫn tổ chức hoạt động khám phá khoa học
trong trường mầm non.


12

XI. MỤC LỤC
Trang
I. Tên đề tài………………………………………………………………1
II. Đặt vấn đề……………………………………………………………..1
III.Cơ sở lý luận…………………………………………………………..1
IV. Cơ sở thực tiễn………………………………………………….. ……2
V. Nội dung nghiên cứu…………………………………………………. 2
1. Biện pháp 1: Sử dụng tối đa các phương pháp dạy học…………...2
1.1 Nắm bắt khả năng nhận thức của trẻ……………………….. …….2
1.2 Tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm khám phá…………………………3
1.3 Sử dụng hệ thống câu hỏi mở để phát huy tính tích cực nhận thức
của trẻ……………………………………………………………...3
1.4 Sử dụng các trò chơi mới trong giờ học…………………………...4
2. Biện pháp 2: Sử dụng ca dao, đồng dao, câu đối………………….5
3. Biện pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin……………………...7
4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh…………………………7
VI. Kết quả đạt được……………………………………………… ……..8
VII. Kếtluận……………………………………………………………….8
VIII. Kiến nghị…………………………………………………… ……...9
IX. Phụ lục………………………………………………………………10
X. Tài liệu tham khảo……………………………………………………11
XI. Mục lục……………………………………………………………..12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×