Tải bản đầy đủ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN – PGD LÊ VIẾT THUẬT VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
---------***--------

BÁO CÁO THỰC TẬP GIỮA KHÓA
Chuyên ngành: Tài chính quốc tế
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ
SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
THƯƠNG TÍN – PGD LÊ VIẾT THUẬT - VINH

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Mai Hoa
Mã sinh viên: 1513310061
Lớp: Anh 4 – Khối 2 - TCNH
Khóa: 54
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Lương Bình

Hà Nội, tháng 7 năm 2018


MỤC LỤC




DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DN
DNNN
NHNN
NHTM
NHTW
NHTMCP
KQKD
KKH
KH
TCKT
TCTD
PGD
VND
USD
Vietbank Lê Viết Thuật

Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng trung ương
Ngân hàng thương mại cổ phần
Kết quả kinh doanh
Không kỳ hạn
Kỳ hạn
Tổ chức kinh tế
Tổ chức tín dụng
Phòng giao dịch
Đồng Việt Nam đồng
Đồng Đô-la Mỹ
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Thương Tín phòng giao dịch Lê Viết Thuật –
thành phố Vinh


DANH MỤC BẢNG BIỂU




6

LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do
đó hiệu quả hoạt động ngân hàng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm. Các
ngân hàng phải thường xuyên đối mặt với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm
củng cố tiềm lực tài chính và an toàn hoạt động trong nền kinh tế mở hiện nay.
Đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ngân hàng là nơi cung cấp vốn chính
để đầu tư phát triển kinh tế xã hội, vì vậy, hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn là
hoạt động quan trọng nhất của mỗi ngân hàng. Mục tiêu đặt ra là làm sao để ngân hàng
đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn. vì vậy trong quá
trình thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín PGD Lê Viết
Thuật –Vinh, em đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hoạt động huy động vốn và sử dụng
vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín phòng giao dịch
Lê Viết Thuật – Vinh” gắn liền lý thuyết và thực tiễn, phân tích và đưa ra các giải
pháp với mong muốn đề tài sẽ giải quyết được vấn đề còn tồn tại trong hoạt động huy
động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng này.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương chính:
Chương I - Lý thuyết chung về hiệu quả hoạt động huy động vốn và sử dụng
vốn tại Ngân hàng thương mại
Chương II – Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn tại
Vietbank Lê Viết Thuật
Chương III – Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và sử
dụng vốn tại Vietbank Lê Viết Thuật
Trong đề tài này em sử dụng những kiến thức về chuyên ngành Tài chính –
Ngân hàng đã được học tại trường Đại học Ngoại thương, cũng như tìm hiểu, phân tích
số liệu, bản báo cáo tài chính của ngân hàng thực tập. Do trình độ lý luận và kinh
nghiệm thực tế còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi có sai sót, em mong có sự đóng
góp ý kiến của thầy cô, các cán bộ ngân hàng, các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu
của em thêm hoàn thiện.


7

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ
DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
THƯƠNG TÍN
1.1.

Ngân hàng thương mại và các hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa

dạng các dịch vụ tài chính, với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng
các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm
thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Ngân hàng là một tổ chức cung cấp các dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Do vậy, việc xác định đúng các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu và thực hiện tốt
các dịch vụ đó sẽ góp phần đem lại thành công cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Hoạt động của NHTM phản ánh qua ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: Huy động
vốn, Sử dụng vốn và Nghiệp vụ trung gian. Trong bài báo cáo này sẽ chỉ chủ yếu phân
tích hai nghiệp vụ là Huy động vốn và sử dụng vốn.
1.2.

Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ hoạt động tạo vốn quan trọng hàng

đầu của các ngân hàng thương mại. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các ngân
hàng thương mại đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của
các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào ngân hàng. Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn
huy động được, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát
triển sản xuất, các mục tiêu phát triển kinh tế vùng, ngành, thành phần kinh tế, đáp ứng
nhu cầu vốn của xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2.1. Phương thức huy động vốn
1.2.1.1. Huy động từ các tổ chức kinh tế

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp bao giờ cũng có một bộ
phận vốn nhàn rỗi chưa có nhu cầu sử dụng hoặc thanh toán, các doanh nghiệp có thể
gửi các khoản tiền này vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ
hạn với các kỳ hạn khác nhau, đồng thời ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng một tài
khoản để đảm bảo có thể sử dụng thuận tiện trong quá trình thanh toán. Bên cạnh việc


8

huy động vốn bằng nội tệ, các ngân hàng thương mại cũng rất coi trọng việc huy động
nguồn ngoại tệ. Một số doanh nghiệp có các hoạt động xuất khẩu thì sẽ nắm giữ ngoại
tệ, ngược lại các doanh nghiệp nhập khẩu tất yếu sẽ cần dùng tới ngoại tệ. Ngân hàng
là trung gian tài chính cho các hoạt động này
1.2.1.2. Huy động vốn trong dân cư

Đây là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi
vào ngân hàng với mục đích sinh lời hoặc phục vụ cho mục đích thuận lợi trong thanh
toán. Gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Trên thực tế, tiền gửi của dân cư
luôn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Vì
vậy, ngân hàng thường cố gắng khai thác tốt nguồn vốn này bằng cách đa dạng hoá các
hình thức huy động: huy động bằng vàng, huy động tiền gửi có đảm bảo bằng vàng, tiết
kiệm xây dựng nhà ở, tiết kiệm gửi một nơi, lĩnh nhiều nơi… với lãi suất hợp lý.
1.2.1.3. Huy động vốn thông qua việc đi vay
 Phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu

Bên cạnh các phương thức nhận tiền gửi, các ngân hàng thương mại còn phát hành:
các chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định và trái phiếu là loại
phiếu nợ trung và dài hạn. Các ngân hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn so với
lãi suất tiền gửi huy động khi huy động bằng hình thức này nên nghiệp vụ này chỉ được
tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định
về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động để đảm bảo
chi phí huy động vốn.
 Vay Ngân hàng TW và các tổ chức tín dụng khác

Trong trường hợp bổ sung cho vốn hoạt động của mình mặc dù đã sử dụng hết số
vốn khả dụng, khi đó ngân hàng sẽ đi vay của ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức
tín dụng khác. Nghiệp vụ này thường được sử dụng khi cần bổ sung vốn ngắn hạn, bù
đắp vốn tạm thời trong thanh toán.
1.2.1.4. Các hình thức huy động vốn khác

Trong quá trình làm trung gian thanh toán, các ngân hàng thương mại cũng tạo
được một khoản vốn: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền séc bảo chi,


9

séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng nhận hối phiếu thương mại,
thông qua nghiệp vụ đại lý, các ngân hàng thương mại cũng thu hút được một số vốn
đáng kể trong quá trình thu chi hộ khách hàng, làm đại lý cho một tổ chức tín dụng
khác, nhận chuyển vốn cho các khách hàng hay một dự án đầu tư. Tất cả các khoản tiền
tạm thời dư thừa kia cũng được ngân hàng sử dụng cho mục đích kinh doanh tiền tệ
của mình.
1.2.2. Quan niệm về hiệu quả hoạt động huy động vốn đối với NHTM

Chúng ta đều biết tầm quan trọng của vốn đối với nền kinh tế, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, do đó đẩy mạnh hoạt động huy động vốn qua các ngân hàng là một
tất yếu. Nhưng số lượng vốn huy động được nhiều hay ít chỉ là một phần của vấn
đề. Để đánh giá được hiệu quả huy động vốn cần căn cứ vào nhiều yếu tố khác:
phương pháp để huy động vốn, chi phí huy động thực tế là bao nhiêu, khả năng khai
thác số vốn này phục vụ cho nền kinh tế như thế nào, lợi nhuận và rủi ro của ngân
hàng khi tiến hành huy động ra sao…Và để trả lời những câu hỏi này chúng ta cần
xem xét quan niệm về hiệu quả của huy động vốn.
Hiệu quả của hoạt động huy động vốn trong NHTM không đơn giản chỉ là số
lượng vốn huy động được phải lớn, chi phí huy động vốn phải ít mà còn phải xem xét
lợi ích khi sử dụng số vốn huy động đó cho các hoạt động cho vay. Vì vậy, một NHTM
muốn đạt hiệu quả huy động vốn cao thì khi thực hiện huy động vốn phải bám sát nhu
cầu cho vay, đầu tư,… để số vốn huy động được phù hợp, tương ứng về cơ cấu, kỳ hạn,
loại tiền với chi phí huy động vốn thấp mà vẫn duy trì được nguồn huy động vốn ổn
định, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, giảm rủi ro lãi suất, hạn chế rủi ro thanh khoản,
mang lại lợi nhuận cho NHTM.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn trong NHTM
1.2.3.1. Đánh giá qua chi phí nguồn lực bỏ ra:
 Khối lượng và cơ cấu:

Không huy động đủ vốn thì không thể coi là hiệu quả. Khối lượng vốn huy động
cần đạt đến quy mô yêu cầu của ngân hàng, bên cạnh đó cơ cấu vốn huy động cần đa
dạng, duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa vốn ngắn hạn và vốn dài hạn, giữa vốn nội tệ và


10

ngoại tệ, tránh cho việc mất cân bằng tài chính trong quá trình ngân hàng hoạt động
kinh doanh.
 Tốc độ tăng vốn huy động

Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần quy mô vốn lớn, nhưng để ngân hàng
hoạt động an toàn thì tốc độ tăng huy động vốn phải ổn định. Vì thế, ngân hàng phải dự
báo trước được dòng tiền gửi vào và rút ra trong năm để có kế hoạch cho vay hợp lý.
Tốc độ tăng huy động vốn = (
Nếu NHTM có kết quả tăng vốn từ 10% trở lên xếp loại A; từ 0%-10% xếp loại B;
dưới 0% xếp loại C.
 Một số chỉ tiêu khác
• Tỷ lệ thu nhập lãi cận biện (NIM)

NIM =
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động huy động vốn càng có hiệu quả


Tỷ lệ thanh khoản
Tỷ lệ thanh khoản =

1.2.3.2. Đánh giá khả năng huy động vốn phù hợp, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn
 Xu hướng biến đổi cơ cấu vốn huy động

Do đó sự biến đổi mạnh về cơ cấu vốn sẽ kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu cho
vay và đầu tư… kéo theo sự thay đổi lợi nhuận, rủi ro hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Xu thế biến đổi cơ cấu vốn huy động một phần phụ thuộc vào kế hoạch chủ quan
của ngân hàng nhưng nó cũng chịu rất nhiều yếu tố bên ngoài, điều này đòi hỏi ngân
hàng phải thường xuyên nghiên cứu và tiếp cận thị trường.
 Sự đa dạng của các hình thức huy động về thời hạn và các loại tiền

Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh mà mỗi ngân hàng sẽ áp dụng một hệ thống các sản
phẩm khác nhau trong quá trình huy động vốn. Số lượng các sản phẩm này tuỳ thuộc
vào mục tiêu chính sách, vào tình hình tài chính của từng ngân hàng trong mỗi thời kỳ
và cũng là một yếu tố phản ánh khả năng quản lý của ngân hàng. Việc đa dạng các sản
phẩm huy động về kỳ hạn và loại tiền với lãi suất khác biệt là nhằm đáp ứng, thoả mãn


11

các nhu cầu khác nhau của khách hàng, từ đó giúp ngân hàng tìm kiếm cơ cấu nguồn
vốn có chi phí thấp và phù hợp với nhu cầu sử dụng.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.4.1. Nhân tố khách quan

Môi trường hoạt động kinh doanh ngân hàng bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường
kinh tế và pháp lý. Về môi trường kinh tế, hoạt động huy động vốn bị ảnh hưởng bởi
các chỉ số chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng,
chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chu kì cũng như sự ổn định của nền kinh
tế vĩ mô,….Ví dụ như nếu đồng tiền trong nước trượt giá thì người dân có xu hướng
chuyển tiền mặt thành các dạng tài sản có tính bền hơn như vàng bạc, đá quý,…nhằm
tăng tính an toàn. Trong tình trạng tỷ lệ trượt giá cao hơn lãi suất huy động thì việc
ngân hàng có thể huy động vốn từ người dân gặp rất nhiều khó khăn.Về môi trường
pháp luật, NTHM luôn phải tuân theo chỉ thị của NHNN nhằm đáp ứng chính sách tiền
tệ cũng như chính sách tài khóa. Thay đổi về chính sách tiền tệ, lãi suất, tín dụng sẽ ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh và khả năng thu hút vốn của NHTM. Ngoài ra sự ổn
định về ngoại giao giữa các nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư từ nước ngoài
cũng như liên kết ngân hàng giữa các nước. Có thể nói, những yếu tố về kinh tế, pháp
luật là nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của NTHM.
Ngoài các nhân tố tác động trực tiếp trên thì có một số nhân tố như: phân bố dân cư,
thu nhập của người dân, môi trường văn hóa, tâm lý, thói quen, tập quán,…tác động
gián tiếp lên khả năng huy động vốn của NHTM.
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan
 Lãi suất huy động vốn

Nếu một công ty, cá nhân nào đó muốn gửi tiền vào ngân hàng thì thứ người ta cân
nhắc đầu tiên là lãi suất. Họ thường sẽ chọn gửi tiền vào ngân hàng có lãi suất cao nếu
phải chọn giữa các ngân hàng có cùng mức rủi ro và dịch vụ cung cấp. Lãi suất cao là
một nhân tố kích thích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp gửi tiền cho vay, đặc biệt là lãi
suất tiền gửi ngắn hạn do tiền gửi ngắn hạn chịu nhiều ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài.


12

Ngoài ra, lãi suất huy động cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn
của ngân hàng. Người dân thường cân nhắc lãi suất tiết kiệm với mức độ trượt giá và
khả năng sinh lời khi đầu tư tiền đó vào hoạt động khác để xem xét xem có nên gửi tiền
vào ngân hàng không. Ngược lại, các tổ chức, doanh nghiệp lại không xem trọng lãi
suất huy động lắm vì họ chỉ gửi tiền nhằm mục đích thanh toán. Vì thế, nguồn huy
động từ doanh nghiệp nhiều hay ít phải phụ thuộc vào công nghệ, kĩ thuật, cũng như
khả năng cho vay của ngân hàng đó do các doanh nghiệp, tổ chức phải quay vòng vốn
rất nhiều trong quá trình hoạt động kinh doanh.
 Các hình thức huy động vốn

Mỗi doang nghiệp, cá nhân gửi tiền đều có một mục đích khác nhau: tiết kiệm, giữ
hộ tiền, lấy lãi suất,…, cho nên mỗi người sẽ có nhu cầu gửi tiền và lấy lãi khác nhau.
NHTM nếu đưa ra càng được nhiều lựa chọn về kỳ hạn, lãi suất, dịch vụ đi kèm cho
khác hàng thì sẽ thu hút được càng nhiều những người gửi tiền, tối đa hóa được lợi ích
cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.
 Các dịch vụ cung ứng

Trong thời buổi khoa học, kỹ thuật như hiện nay, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng
phải đáp ứng ngày càng cao. Một ngân hàng có số lượng dịch vụ đa dạng, chất lượng
dịch vụ đảm bảo là một lợi thế cạnh tranh mạnh.
 Chính sách dành cho khách hàng của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn

Giờ đây khách hàng có nhiều lựa chọn ngân hàng thuận tiện mà mình sẽ sử dụng
hơn là chỉ xem ngân hàng là nơi cất giữ tiền và lấy lãi suất. Vì thế, mỗi ngân hàng phải
có chính sách, chiến lược để tiếp cận được khách hàng tiềm năng trong hoạt động huy
động vốn. Đầu tiên ngân hàng cần phải tìm hiểu thói quen, động cơ, tâm lý của những
người gửi tiền tại ngân hàng này cùng với những khách hàng mà ngân hàng tài trợ, cho
vay. Trên cơ sở thông tin khách hàng phục vụ cho việc huy động vốn và sử dụng vốn,
ngân hàng sẽ đưa ra những chính sách phù hợp liên quan đến sản phẩm và dịch vụ
ngân hàng, giá cả, lãi suất, tỷ lệ hoa hồng, chích sách về kỹ thuật, chính sách về dịch
vụ giao tiếp,… nhằm thu hút khách hàng mới và giữ vững được khách hàng cũ.
 Tài sản vô hình


13

Tài sản vô hình quan trọng nhất của một ngân hàng là uy tín của NHTM đó trong
hệ thống ngân hàng, uy tín làm việc hiệu quả của ban giám đốc cũng như ban quản trị.
Khách hàng thường tìm đến các ngân hàng có uy tín cao, thương hiệu lớn để giảm
thiểu rủi ro cho tài sản của mình. Vì thế những ngân hàng có uy tín thường huy động
được nhiều vốn hơn.
1.3.
Hoạt động sử dụng vốn
1.3.1. Phương thức sử dụng vốn
1.3.1.1. Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản trong hoạt động sử dụng vốn. Hoạt động
cho vay được phân loại theo nhiều hình thức, ví dụ như thời hạn, hình thức bảo đảm,
phương pháp bảo đảm, nguồn gốc khách hàng,…
Phân loại theo thời hạn có cho vay ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn. Cho
vay ngắn hạn là các khoản vay dưới 1 năm, thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài
trợ tạm thời hoặc xoay vòng vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các khoản
vay trong thời hạn như thế nào được coi là trung, dài hạn tùy vào mỗi quốc gia. Ở Việt
Nam, các khoản vay từ 1-3 năm là trung hạn và từ 3 năm trở lên là dài hạn. Các khoản
vay trung và dài hạn thường là các khoản vay lớn, dùng để đầu tư, mở rộng sản xuất,
mua tài sản cố định,…Các cá nhân, tổ chức thường thích các khoản vay trung và dài
hạn vì trong khoảng thời gian đó họ có thể an tâm sản xuất mà không phải lo về nguồn
vốn, các khoản vay trung và dài hạn thuận tiện hơn các khoản vay ngắn hạn và dễ thực
hiện hơn phát hành trái phiếu, cổ phiếu,..
Phân loại theo hình thức bảo đảm có cho vay có bảo đảm và cho vay không có
bảo đảm. Cho vay là có bảo đảm khi người cho vay cầm giữ vật thế chấp nào đó, có thể
là bất động sản, hàng hóa, máy móc, cổ phiếu,…Yêu cầu của tài sản bảo đảm là phải
bán được để phòng ngừa trường hợp người đi vay không trả được khoản nợ thì ngân
hàng có thể giảm bớt rủi ro, mất mát. Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không
bảo đảm là khoản vay dựa vào khả năng trả nợ, thu nhập trong tương lai, tình hình trả
nợ trước đây cùng sự tín nhiệm đạo đức của khách hàng. Thường thì những công ty có


14

số vốn lớn, hoạt động, tăng trưởng ổn định cùng những cá nhân có công ăn việc làm ổn
định sẽ được hưởng quyền cho vay không bảo đảm.
Phân loại theo phương thức hoàn trả có cho vay hoàn trả một lần và cho vay
hoàn trả nhiều lần. Cho vay hoàn trả một lần là các khoản vay chỉ hoàn trả khoản gốc
vào thời gian đáo hạn. Các khoản vay này thường là ngắn hạn. Còn các khoản vay hoàn
trả nhiều lần là khoản vay đòi hỏi hoàn trả theo từng thời điểm nhất định trong khoảng
thời gian cho vay, điều này giúp giảm gánh nặng trả nợ cho người đi vay cũng như tăng
hiệu quả sử dụng vốn cho NHTM.
1.3.1.2. Hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư là hoạt động chứng khoán giúp NHTM đa dạng hoạt động sử
dụng vốn. NHTM có thể sử dụng vốn để mua chứng khoản ngắn hạn của chính phủ
giúp cân bằng chi thường xuyên, góp phần điều hòa lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế.
Ngoài ra NHTM cũng có thể đầu tư bằng cách mua cổ phiếu và trái phiếu của doanh
nghiệp, qua đây NHTM cũng có thể tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp.
1.3.1.3. Hoạt động ngân quỹ

Hoạt động ngân quỹ là hoạt động chi trả đối với khách hàng, bao gồm: nghiệp
vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi; tiền trong quá trình thu nhận; nghiệp vụ về chứng khoản
ngắn hạn.
1.3.2.

Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Trong hoạt động sử dụng vốn, cho vay đóng vai trò quan trọng nhất, vì thế chỉ

tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn được phân tích theo hai chỉ tiêu cơ bản: quy mô cho
vay và chất lượng cho vay.
1.3.2.1. Quy mô cho vay
 Doanh số cho vay:

Là chỉ tiêu cơ bản đánh giá khái quát hiệu quả cho vay tại một thời điểm. Khi đánh
giá doanh số cho vay thì chưa có đánh giá về chất lượng các khoản vay nhưng đây là
chỉ tiêu cho biết khả năng cấp vốn của một ngân hàng đối với nền kinh tế trong một
thời kì.
 Doanh số thu nợ:


15

Là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn thực tế mà người vay đã trả cho Ngân hàng khi
đến thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng, nó được tính bằng cách cộng dồn các khoản
thu nợ trong một thời kỳ nhất định. Doanh số thu nợ càng lớn và tăng so với tổng cho
vay chứng tỏ cho vay của Ngân hàng càng ngày càng tốt.
 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế:

Là chỉ tiêu phản ánh vốn đầu tư hiện đang còn lại tại một thời điểm của Ngân hàng
mà Ngân hàng đã cho vay chưa thu về. Đồng thời chỉ tiêu này cũng phản ánh mối quan
hệ với doanh số cho vay với khả năng đáp ứng nguồn vốn của các NHTM đối với
những nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế. Dư nợ càng lớn phản ánh khả năng mở
rộng cho vay của Ngân hàng càng lớn, dư nợ thấp chứng tỏ khả năng cho vay của Ngân
hàng không được mở rộng, kém chất lượng.
Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay – Doanh số thu nợ
1.3.2.2. Chất lượng cho vay
 Hiệu suất sử dụng vốn trong hoạt động cho vay:
Chỉ tiêu này phản ánh Ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy
động. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì Ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn,
vốn huy động tham gia vào cho vay ít, khả năng huy động vốn của Ngân hàng chưa tốt,
nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì Ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào, đảm bảo
cho hoạt động cho vay, ngoài ra có thể sử dụng cho hoạt động đầu tư khác. Chỉ tiêu này
bằng 1, cho thấy vốn huy động được đủ cho hoạt động cho vay.
Hiệu suất sử dụng vốn = x 100%
 Hiệu quả sử dụng vốn:

Chỉ tiêu này cho biết, thu nhập mà Ngân hàng thu được từ việc cho vay đạt bao
nhiêu lần so với chi phí mà Ngân hàng đã bỏ ra. Chỉ tiêu này lớn hơn 1 cho thấy được
hiệu quả của việc sử dụng vốn cho vay là rất tốt, nhỏ hơn 1 nghĩa là hoạt động cho vay
chưa cao.
Hiệu quả sử dụng vốn = x100%
 Tỷ trọng nợ quá hạn/ Tổng thu nợ: Là chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hồi vốn
của một ngân hàng
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sử dụng vốn trong NHTM
1.3.4.1. Thẩm định tín dụng


16

Bất cứ một khoản vay nào cũng phải qua quá trình thẩm định tín dụng. Thông qua
thẩm định chúng ta có thể xác định được tính hiệu quả của khoản đầu tư đó, nhằm đưa
ra các biện pháp nhằm tăng chất lượng các khoản cho vay. Đặc biệt là các khoản vay
trung và dài hạn, có quy mô lớn và mang lại nhiều rủi ro, ngân hàng cần thẩm định để
đưa ra quyết định nên cho vay bao nhiêu, trong thời gian bao lâu là tốt nhất cho cả hai
bên.
1.3.4.2. Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong quá trình cho vay. Ngân hàng cần xác định
được khoản cho vay này sẽ có khả năng thu hồi vốn và mang lại lợi nhuận cho ngân
hàng chứ không phải là một khoản nợ khó đòi hay nợ xấu trong tương lai. Rất khó để
định lượng hay đánh giá rủi ro tín dụng vì đây là một rủi ro biến động liên tục và mang
nhiều tính chủ quan.
1.3.4.3. Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sử
dụng vốn.
Nếu lãi suất cho vay quá cao thì các cá nhân, tổ chức sẽ không đi vay ở ngân hàng
mà đi tìm các nơi cho vay khác bên ngoài với chi phí thấp hơn, mà trong lúc đó ngân
hàng lại đọng vốn, không thu được lợi nhuận mà vẫn phải chi trả chi phí hoạt động
kinh doanh thường xuyên, chi phí tiền gửi,…Vì vậy, lãi suất cho vay quá cao sẽ gây
ách tắc hoạt động cho vay.
Nếu lãi suất cho vay quá thấp thì nhu cầu cho vay của người dân tăng, ngân hàng
phải cấp tốc huy động vốn, “đi vay để cho vay” để có thể đáp ứng nhu cầu vốn vay lớn.
Nếu trong quá trình này gây ra lỗi, tiền tệ không lưu thông được, dẫn đến thanh toán
ngân hàng không được đáp ứng thì có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng, người dân rút
tiền do cảm thấy ngân hàng không còn uy tín.
1.3.4.4. Nhân tố con người.

Bất cứ một khâu công việc nào trong hoạt động của Ngân hàng nói chung và các
hoạt động sử dụng vốn nói riêng cho đầu tư phát triển của Ngân hàng đều do con người
thực hiện, con người đưa ra và quyết định. Mọi quyết định về đường lối, chính sách về


17

hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, việc thu thập thông tin, xử lý thông tin, quyết
định cho vay, quản lý món vay, tiến hành thu nợ đều do con người đảm nhiệm. Do vậy,
chất lượng sản phẩm trước tiên sẽ phụ thuộc vào người làm nó
Ngoài những nhân tố trên, hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng còn chịu tác động
của các yếu tố: chính sách kinh tế vĩ mô, những biến động về thị trường, điều kiện tự
nhiên, môi trường pháp lý, sự ổn định của chính trị trong nước…

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ
SỬ DỤNG VỐN TẠI VIETBANK LÊ VIẾT THUẬT
2.1.
Khái quát về Ngân hàng Vietbank – PGD Lê Viết Thuật – Vinh
2.1.1. Khái quát về Ngân hàng Vietbank
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín được thành lập vào tháng 12 năm
2006, có trụ sở chính tại 35 Trần Hưng Đạo, TP Sóc Trăng, là ngân hàng trẻ, năng động
và ra đời trong giai đoạn nền kinh tế bước đầu hội nhập quốc tế Ngân hàng TMCP Việt
Nam Thương Tín hiện có các cổ đông mạnh tiềm lực về tài chính, giàu kinh nghiệm
như là Công ty Đầu tư và Phát triển Hoa Lâm, Công ty TNHH Xây dựng Thương mại


18

Diệu Hiền, đặc biệt là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB). Sau 11 năm chính thức đi vào
hoạt động, số vốn điều lệ hoạt động hiện nay của Vietbank là 3249 tỷ đồng.
2.1.1.2.

Phạm vi hoạt động

Hoạt động chính trong năm của Ngân hàng là :
-

Cung cẩp các dịch vụ ngân hàng, bao gồm hoạt động huy động và nhận tiền gửi ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân khác nhau.

-

Hoạt động cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân khác
nhau trên cơ sở tính chất và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.

-

Thực hiện các giao dịch ngoại tệ và mua bán vàng miếng, các dịch vụ tài trợ thương
mại quốc tế.

-

Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác.

-

Thực hiện hoạt động bao thanh toán; cung ứng dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân
hàng, tài chính, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; mua bán trái phiếu Chính
phủ, trái phiếu doanh nghiệp; ủy thác cho vaỵ và nhận ủy thác cho vay; đại lý bảo
hiểm; cho thuê một phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc sở hữu của Ngân
hàng.

-

Cung ứng dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà
nước cho phép.
2.1.1.3.

Mạng lưới hoạt động
Ngân hàng có trụ sở chính đặt tại số 47 Trần Hưng Đạo, Phường 3, Thành phố

Sóc Trăng, Việt Nam. Tại ngàỵ 31 tháng 12 năm 2017, Ngân hàng có một (1) trụ sở
chính, mười ba (13) chi nhánh, bảy mươi mốt (71) phòng giao dịch và mười một (11)
quỹ tiết kiệm tại các tỉnh và thành phố trên cả nước.
2.1.2. Khái quát về Ngân hàng Vietbank – PGD Lê Viết Thuật – Vinh
2.1.2.1. Thông tin tổng quan về Vietbank Lê Viết Thuật
 Địa chỉ: 198 đường Lê Viết Thuật, Xã Hưng Lộc, Thành phố Vinh, Nghệ An.


19
 Số điện thoại: 0238 3736 969
 Số Fax: 0238 3946 969
 Website: http://www.vietbank.com.vn/
2.1.2.2. Địa bàn hoạt động và đặc điểm khách hàng

Phòng giao dịch Vietbank Lê Viết Thuật tọa lạt tại 198 đường Lê Viết Thuật, Xã
Hưng Lộc, Thành phố Vinh, Nghệ An
-

Khu dân cư mới và hầu hết hoạt động hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ là

nơi tập trung siêu thị metro, chợ…
-

Vị trí địa lý thuận lợi giao thông trên một địa bàn rộng lớn với sự đa dạng các

ngành nghề.
-

Cư dân ở đây hầu hết là hoạt động với ngành nghề mua bán bất động sản, đã

nghỉ hưu với tiền nhàn rỗi,…
Từ những điều kiện thuận lợi trên đã quyết định tính dồi dào của lượng tiền mặt
lưu thông tương ứng. Do đó, có thể nói rằng tiềm năng huy động vốn trong khu vực
chủ yếu từ Hộ kinh doanh cá thể, các nguồn vốn trong gửi tiết kiệm của cư dân.
2.2.
2.2.1.

Thực trạng huy động vốn tại Vietbank Lê Viết Thuật
Đánh giá chung về hoạt động huy động vốn

Nguồn vốn của Vietbank Lê Viết Thuật chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là vốn huy
động từ bên ngoài. Vietbank Lê Viết Thuật chủ yếu huy động vốn thông qua hình thức:
-

Tiền gửi của khách hàng: bao gồm tiền gửi của các tầng lớp dân cư và của

các tổ chức kinh tế khác.
-

Vay NHNN và các TCTD khác.

Để đạt được mục tiêu kinh doanh mà trực tiếp là tối đa hoá lợi nhuận, chỉ tiêu được
xác định trên cơ sở nguồn thu nhập và chi phí, PGD đã khai thác tối đa vốn huy động
từ bên ngoài và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn nhằm tăng cường quy mô tài sản sinh
lời. Để thấy được điều này, ta xét biến động nguồn vốn của PGD trong thời gian qua:
Bảng 1. Các hình thức huy động vốn tại Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)


20

Chỉ tiêu
2016
2017
Tăng trưởng
Tiền gửi của tổ chức kinh tế
70.959
63.993
-9,82%
Tiết kiệm dân cư
381.773
436.849
14,43%
Phát hành giấy tờ có giá
0
0
0,00%
Vay của TCTD khác
27.436
28.523
3,96%
Tổng
480.198
529.397
10,25%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank Lê Viết Thuật các năm 2016,2017)
Nhìn vào bảng trên ta có thấy quy mô huy động vốn của Vietbank Lê Viết Thuật
tăng mức khá trong một năm qua, tăng 10,25%, trong đó cơ cấu huy động vốn chủ yếu
là tiền tiết kiệm từ dân cư, chiếm hơn 80% tổng số vốn huy động, với mức tăng trưởng
khá, tốc độ tăng trưởng xếp loại A. Ngược lại với tiền tiết kiệm từ dân cư, tiền gửi từ
các tổ chứ kinh tế lại giảm đáng kể, ở mức 9,82%, xu hướng giảm xếp loại B. Điều này
xảy ra là do Vietbank đang còn là một ngân hàng có quy mô nhỏ, chưa có nhiều uy tín
cũng như kinh nghiệm huy động vốn từ các tổ chức kinh tế. Vì PGD chưa có nhu cầu
huy động thêm vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá nên những năm qua ngân hàng
này chưa từng huy động vốn qua phương thức này.
Bảng 2. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn tại Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu
2016
2017
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
0,78%
1,25%
Tỷ lệ thanh khoản nhanh
0,89
0,14
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank Lê Viết Thuật các năm 2016,2017)
Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tăng từ 0,78% trong năm
2016 lên 1,25% trong năm 2017. Chỉ tiêu này phản ảnh hiệu quả hoạt động huy động
vốn của PGD tương đối tốt, chi phí huy động thấp dẫn tới lợi nhuận tăng. Tuy nhiên, tỷ
lệ thanh khoản nhanh của ngân hàng là khá thấp, không đủ để đáp ứng nhu cầu an toàn
vốn trong ngắn hạn. Hơn nữa, trong năm 2017, tỷ lệ này còn giảm mạnh do tài sản
ngắn hạn từ tài khoản tiền gửi trong các TCTD giảm hơn 20 tỷ.
2.2.2.

Phân tích kết quả huy động vốn theo loại tiền tệ
Giống như rất nhiều ngân hàng khác ở Việt Nam, nếu phân chia hình thức huy

động vốn theo loại tiền thì huy động vốn bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều


21

so với huy động vốn bằng ngoại tệ ( chủ yêu bằng USD). Ta có thể nhìn vào bảng số
liệu sau đây:
Bảng 3. Huy động vốn theo loại tiền
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu
Nguồn vốn huy động
- Nội tệ VND
- Ngoại tệ USD

2016

2017

Số dư
Tỷ trọng
Số dư
Tỷ trọng
452.732
100%
500.842
100%
435.601
96,2%
491.533
98,14%
17.131
3,8%
9.309
1,86%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank các năm 2016,2017)

Nhìn vào bảng trên, ta thấy tỷ trọng nội tệ luôn ở trong mức cao, từ 96,2% đến
98,14%. Do hoạt động kinh doanh của PGD chưa phát triển về nghiệp vụ thanh toán
quốc tế nên lượng vốn huy động ngoại tệ có thể xem là ít ỏi so với các PGD khác trong
hệ thống ngân hàng.
2.2.2.1. Huy động vốn nội tệ

Bảng 4. Huy động vốn nội tệ của Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)

Tiền gửi KKH của các TCKT
Tiền gửi tiết kiệm KKH của dân cư
Tiền gửi có KH của TCKT

Số dư
53.894
26.724
26.533

%
12,37%
6,13%
6,1%

2017
Số dư
%
45.716
9,3%
17.333
3,52%
29.476
6,01%

Tiền gửi tiết kiệm có KH của dân cư

328.450

75,4%

399.007

Chỉ tiêu

2016

81,17%

Tổng
435.601
100%
491.533
100%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank Lê Viết Thuật các năm 2016,2017)
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư : Đây là nguồn tiền này có qui mô, cơ cấu lớn
nhất trong tổng nguồn huy động nội tệ, tỷ trọng dao động từ 80% – 85% và có xu
hướng tăng về cơ cấu tiền gửi có kỳ hạn. Việc thu hút được nguồn vốn này làm tăng
quy mô và hiệu quả cho Vietbank Lê Viết Thuật. Trong 2 năm trở lại đây tốc độ nguồn
tăng ở mức tốt, tầm 12.84%, có được điều này là do Vietbank Lê Viết Thuật đánh giá


22

đây là khách hàng cốt lõi của ngân hàng. Tiền gửi dân cư là nguồn vốn ổn định nhất vì
vậy có thể sử dụng để tăng trưởng tín dụng và đầu tư dài hạn. Kỳ hạn tiền gửi danh
nghĩa của người dân thường ngắn (kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng) nhưng kỳ hạn thực tế
trung bình lại dài, tính ổn định cao, là nguồn chính để ngân hàng cho vay trung và dài
hạn và tăng hệ số sử dụng vốn. Điều này đã làm tăng khả năng sử dụng vốn, khả năng
dịch chuyển kỳ hạn dư nợ, kết quả kinh doanh và sức cạnh tranh.
+ Tiền gửi của các TCKT: Tiền gửi của các TCKT chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn
nhưng trong các năm gần đây số huy động này giảm khá đáng kể. Năm 2017, vốn huy
động ngắn hạn từ các TCKT giảm từ 54 tỷ năm 2016 xuống 46 tỷ trong năm 2017.
2.2.2.2. Huy động vốn ngoại tệ

So với nguồn vốn nội tệ, nguồn vốn ngoại tệ có tỷ trọng nhỏ hơn nhiều và có xu
hướng giảm trong thời gian qua.
Bảng 5. Huy động vốn ngoại tệ của Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)
2017
Số dư
%
Số dư
%
Tiền gửi KKH của TCKT
5.482
32%
2.662
28,6%
Tiền gửi tiết kiệm KKH của dân cư
1.405
8,2%
735
8%
Tiền gửi có KH của TCKT
1.970
11,5%
754
8%
Tiền gửi tiết kiệm có KH của dân cư
8.274
48,3%
5.157
55,4%
Tổng
17.131
100%
9.309
100%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank Lê Viết Thuật các năm 2016,2017)
Chỉ tiêu

2016

+ Tiền gửi bằng ngoại tệ cuả các tầng lớp dân cư: Cũng như tiền gửi nội tệ,
nguồn vốn ngoại tệ huy động từ các tầng lớp dân cư chỉ tập trung vào loại hình tiền gửi
có kỳ hạn do người dân có nhu cầu gửi tiền để hưởng lãi suất cao. Tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn chiếm tỷ trọng không đáng kể. Hình thức huy động này có mức tăng
trưởng khá ổn định trong thời gian qua. Do đó, cơ cấu nguồn tiền gửi này có xu hướng
tăng trong giai đoạn này.
+ Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức kinh tế: Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên đây là nguồn tiền gửi có chi phí thấp do các


23

TCKT gửi tiền tại PGD Lê Viết Thuật duy trì các hình thức gửi tiền không kỳ hạn phục
vụ cho hoạt động thanh toán hoặc gửi với kỳ hạn ngắn (từ 1-3 tháng).
Dựa vào tình hình trên, PGD Lê Viết Thuật cần đẩy mạnh hơn nữa để phát triển
kênh huy động vốn bằng ngoại tệ trong thời buổi kinh tế hội nhập như hiện nay. Ngoài
việc thiết kế các gói tiền gửi ngoại tệ thì nên phát triển thêm dịch vụ thanh toán quốc
tế, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng,
2.3.
Thực trạng sử dụng vốn tại Vietbank Lê Viết Thuật
2.3.1. Phân tích kết quả hoạt động cho vay
2.3.1.1. Tình hình dư nợ

Dư nợ cho vay là chỉ tiêu xác thực để đánh giá về quy mô hoạt động cho vay
của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Các Ngân hàng có mức dư nợ cao thường là các
Ngân hàng có quy mô hoạt động rộng, nguồn vốn mạnh và đa dạng. Qua tình hình dư
nợ ta có thể thấy được Ngân hàng đã sử dụng vốn có hiệu quả hay chưa, đồng thời ta
còn biết được các khoản phải thu trong tương lai cùa Ngân hàng như thế nào.
 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng và loại hình doanh nghiệp

Bảng 6. Dư nợ theo đối tượng khách hàng tại Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu

2016

2017

Số tiền
%
Số tiền
%
Tổng
404.963
100
472.357
100
Doanh nghiệp
251.077
62
315.440
66,78
- DNNN
14.984
3,7
25.507
5,4
- DN nước ngoài
6.074
1,5
7.558
1,6
- DN trong nước
230.019
56,8
282.375
59,78
Cá nhân
153.886
38
189.982
40,22
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank Lê Viết Thuật các năm 2016,2017)
Nhìn vào bảng trên ta thấy:
Dư nợ ngân hàng trong năm 2017 tăng ở mức 16,8%, tăng trưởng ở mức tốt. Dư nợ
cho vay của thành phần kinh tế doanh nghiệp nhà nước có xu thế tăng mạnh cả số
lượng lẫn tỷ trọng, tăng gần 2 lần số với dư nợ năm 2016. Nguyên nhân do thương hiệu


24

Vietbank đang dần có tạo được uy tín, tìm được những khác hàng làm ăn có hiệu quả
và những khách hàng lớn thường xuyên cho ngân hàng.
Dư nợ cho đối tượng doanh nghiệp tư nhân trong nước và cá nhân chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong những năm qua và đều có mức tăng đều đặn, doanh nghiệp tư nhân
trong nước tăng 22% và khách hàng cá nhân tăng 23,4% trong năm 2017. Đây là một
dấu hiệu đáng mừng cho thấy mức chi tiêu của người dân đang tăng dần, nguyên nhân
do chu kỳ của nền kinh tế đang đi lên, môi trường kinh tế ổn định, các sản phẩm tiêu
dùng đều tăng về cả chất lượng lẫn số lượng.
 Dư nợ cho vay theo thời gian

Bảng 7. Dư nợ theo thời gian của Vietbank Lê Viết Thuật
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu

2016

2017

Số tiền
%
Số tiền
%
Tổng
404.963
100
472.357
100
Ngắn hạn
184.071
45,45
161.671
34,23
Trung hạn
83.242
20,56
58.369
12,36
Dài hạn
137.649
33,99
252.318
53,42
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank các năm 2016,2017)
Đối với cho vay ngắn hạn, khách hàng thường dùng để bổ sung thiếu hụt vốn tạm
thời trong sản xuất kinh doanh cũng như trong tiêu dùng. Những khoản vay này có thời
hạn ngắn nên tính quay vòng vốn cao hơn nhưng không mang tính ổn định. Trong năm
2017 ta có thể thấy rõ dư nợ ngắn hạn giảm cả về số lượng lẫn tỷ trọng, chứng tỏ nhu
cầu vay vốn để quay vòng chi tiêu thường xuyên của khách hàng giảm khá mạnh, ở
mức 12,5%. So với khoản huy động vốn ngắn hạn của Vietbank Lê Viết Thuật, khoảng
362 tỷ đồng thì dư nợ ngắn hạn là khá ít.
Đối với cho vay trung hạn có sự giảm mạnh, khoàng gần 30% về số lượng. Ngược
lại, trong năm 2017, dư nợ dài hạn tăng mạnh mẽ, tăng 83% so với năm 2016, khoản
cho vay này có thời gian sử dụng và hoàn trả khá lâu nên tính thanh khoản rất thấp, rủi
ro mang lại do biến động của thị trường và của chính khách hàng là rất lớn. Nếu không
có ràng buộc mạnh mẽ để đảm bảo an toàn cho ngân hàng thì dễ trở thành nợ quá hạn,


25

nợ xấu. Trong bảng báo cáo tài chính quý 2, năm 2018 đã nêu rõ tỷ lệ nợ xấu tại thời
điểm quý 2/2018 đã tăng 41% so với năm 2017. Nguyên do của có thể bắt nguồn từ
công tác cho vay còn chưa chặt chẽ, cho vay dài hạn tăng mạnh trong vài năm trở lại
đây, chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ cho vay. Dư nợ cho vay trung và dài hạn tăng
chứng tỏ khách hàng càng ngày càng tin tưởng vào chính sách, tiện ích mà ngân hàng
mang lại nhưng bên cạnh đó ngân hàng cũng phải không ngừng hoàn thiện dịch vụ,
nâng cao trình độ cán bộ thẩm định, tín dụng để đảm bảo các khoản vay mang lại
doanh thu cho ngân hàng.
2.3.1.2. Tình hình sử dụng vốn
 Hiệu suất sử dụng vốn

Bảng 8. Hiệu suất sử dụng vốn tại Vietbank
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu
2016
2017
Tổng dư nợ cho vay
404.963
472.357
- Ngắn hạn
184.071
161.671
- Trung, dài hạn
220.892
310.686
Tổng nguồn vốn huy động
452.732
500.842
- Ngắn hạn
362.186
431.732
- Trung, dài hạn
90.546
69.110
Hiệu suất sử dụng vốn chung (%)
89,45
94,31
Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn (%)
50,82
37,45
Hiệu suất sử dụng vốn trung, dài hạn (%)
243,95
449,56
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietbank các năm 2016,2017)
Trong năm 2017, hiệu suất sử dụng vốn chung tăng, từ 89,45% lên 94,31%, cho
thấy tình hình khả quan trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên, hiệu suất sử
dụng vốn ngắn hạn khá thấp, hơn nữa, tỷ lệ này còn giảm từ 50,82% xuống 37,45%
trong năm 2017. Điều này cho thấy nguồn vốn ngắn hạn mà ngân hàng huy động được
không những đáp ứng được cho vay ngắn hạn mà còn tài trợ được cho vay trung, dài
hạn. Hiệu suất sử dụng vốn cho vay trung, dài hạn rất cao, và còn tăng mạnh trong năm
2017, lên tới 449,56%. Điều này cho thấy rằng ngân hàng đã dùng nguồn vốn ngắn hạn
với chi phí thấp để tài trợ cho vay trung, dài hạn. Ở mức tỷ lệ cao như thế này, cho


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×