Tải bản đầy đủ

XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN TỪ 3 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG
CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN
TỪ 3 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ THU TRANG
Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Niên khóa: 2006 - 2010

Tháng 8/2010


XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ VÀ TẦN SỐ CHO ĂN TRONG ƯƠNG
CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides) GIAI ĐOẠN
TỪ 3 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

Tác giả


LÊ THỊ THU TRANG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:
Ngô Văn Ngọc

Tháng 8 năm 2010
i


LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ
nhiệm Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành khóa học
này.
Các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá
trình học tập tại trường.
Thầy Ngô Văn Ngọc đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho
chúng tôi hoàn thành khóa luận.
Anh Võ Thanh Liêm, anh Ngô Đăng Lâm, anh Đặng Phúc Thiện và các bạn tại
Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM đã giúp đỡ
chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tập thể lớp DH06NT đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi trong thời gian qua.
Xin gửi lòng biết ơn đến gia đình đã tạo mọi điều kiện, hỗ trợ vật chất lẫn tinh
thần cho chúng tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và khóa học này.
Do kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế và đây là lần đầu tiên thực hiện đề
tài nên chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng
góp, phê bình của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.

ii


TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Xác định mật độ và tần số cho ăn trong ương cá lăng nha
(Mystus wyckioides) giai đoạn từ 3 đến 30 ngày tuổi” được tiến hành tại Trại Thực
Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày
15/04/2010 đến ngày 13/06/2010.


Thí nghiệm được thực hiện trong hệ thống nước tuần hoàn khép kín, gồm 6
nghiệm thức (NT), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với
2 yếu tố về mật độ ương và tần số cho ăn. Cụ thể là:
 NT 1: mật độ 4 con/L, cho ăn 4 lần/ngày
 NT 2: mật độ 4 con/L, cho ăn 5 lần/ngày
 NT 3: mật độ 6 con/L, cho ăn 4 lần/ngày
 NT 4: mật độ 6 con/L, cho ăn 5 lần/ngày
 NT 5: mật độ 8 con/L, cho ăn 4 lần/ngày
 NT 6: mật độ 8 con/L, cho ăn 5 lần/ngày
Kết quả thu được như sau:
 Về chiều dài:
Chiều dài trung bình của cá ở NT 2 sai khác rất có ý nghĩa về mặt thống kê so
với các NT còn lại (P < 0,001). NT 2 cho kết quả tăng trưởng chiều dài tốt nhất
(3,83 ± 0,05 cm). Chiều dài trung bình của cá ở NT 1 là 3,55 ± 0,05 cm, NT 3 là 3,44
± 0,05 cm, NT 4 là 3,55 ± 0,05 cm, NT 5 là 3,53 ± 0,04 cm và NT 6 là 3,49 ± 0,05 cm.
 Về trọng lượng:
Chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (P < 0,001) giữa
trọng lượng trung bình của cá ở NT 2 (0,56 ± 0,02 g) với các NT 1 (0,46 ± 0,02 g),
NT 3 (0,41 ± 0,02 g), NT 4 (0,46 ± 0,02 g), NT 5 (0,42 ± 0,01 g) và NT 6
(0,44 ± 0,02 g). NT 2 với tần số cho ăn 5 lần/ngày và mật độ ương 4 con/L cho tăng
trọng cao nhất.
Kết quả cuối thí nghiệm cho thấy tần số cho ăn và mật độ ương ảnh hưởng đến
tăng trưởng của cá lăng nha.

iii


 Tỷ lệ sống:
Tỷ lệ sống trung bình ở các NT dao động từ 79,58 ± 12,04 % (NT 6) đến
93,55 ± 1,41 % (NT 1) và sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).
Như vậy, trong thí nghiệm này với cùng điều kiện môi trường sống, thức ăn,
phương pháp chăm sóc, quản lý, nhưng mật độ ương khác nhau (4; 6; 8 con/L) và tần
số cho ăn khác nhau (4; 5 lần/ngày) đã không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá
lăng nha.
 Tỷ lệ phân đàn:
Tỷ lệ phân đàn trung bình theo chiều dài dao động từ 10,19 ± 0,20 % (NT 5)
đến 13,69 ± 1,47 % (NT 1) và sai khác giữa các NT không có ý nghĩa thống kê
(P > 0,05).
Tỷ lệ phân đàn trung bình theo trọng lượng ở các NT sai khác không có ý nghĩa
thống kê (P > 0,05), dao động từ 29,32 ± 0,49 % (NT 5) đến 36,66 ± 3,51 % (NT 1).
Tần số cho ăn và mật độ ương khác nhau đã không ảnh hưởng đến tỷ lệ phân
đàn về chiều dài và trọng lượng của cá lăng nha trong thí nghiệm này.

iv


MỤC LỤC
Trang
Trang tựa

i

Lời cảm tạ

ii

Tóm tắt

iii

Mục lục

v

Danh sách các bảng

viii

Danh sách các hình và đồ thị

ix

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu đề tài

2

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1. Đặc điểm sinh học cá lăng nha

3

2.1.1 Phân loại

3

2.1.2 Phân bố

3

2.1.3 Đặc điểm hình thái

4

2.1.4 Tập tính sống

4

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

4

2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng

5

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

5

2.2. Thức Ăn Cho Cá Lăng Nha

6

2.2.1 Moina

6

2.2.2 Trùn chỉ (Tubiflex tubiflex)

7

2.2.3 Thức ăn tự chế

7

2.3. Ảnh hưởng của tần số cho ăn lên sự sinh trưởng của cá

8

2.4. Giới Thiệu Hệ Thống Nước Tuần Hoàn Khép Kín

9

2.4.1 Nguyên lý hoạt động của màng lọc sinh học

9

2.4.2 Các quá trình sinh hóa xảy ra trong lọc sinh học

9

2.4.2.1 Sự khoáng hóa

10

2.4.2.2 Sự nitrate hóa

10
v


2.4.2.3 Sự khử nitrate

10

CHƯƠNG 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

12

3.1. Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài

12

3.2. Đối Tượng Nghiên Cứu

12

3.3. Vật Liệu, Trang Thiết Bị

12

3.3.1 Hệ thống nước tuần hoàn khép kín

12

3.3.1.1 Mô tả hệ thống tuần hoàn khép kín

12

3.3.1.2 Cách vận hành

14

3.3.2 Các vật liệu và trang thiết bị khác

15

3.4. Bố Trí Thí Nghiệm

15

3.5. Chuẩn Bị Bể Ương Và Thức Ăn

17

3.5.1 Chuẩn bị bể ương

17

3.5.2 Chuẩn bị thức ăn

17

3.6. Chăm Sóc, Quản Lý Cá Thí Nghiệm

17

3.7. Các chỉ tiêu theo dõi

18

3.8. Phương Pháp Xử Lý Số Liệu

20

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

21

4.1. Các Yếu Tố Môi Trường Tác Động Lên Sự Tăng Trưởng Của Cá

21

4.1.1 Nhiệt độ

21

4.1.2 Độ pH của nước

22

4.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO)

23

4.1.4 Hàm lượng ammonia (NH3) trong nước

24

4.2. Sự Tăng Trưởng Của Cá Thí Nghiệm

25

4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài

25

4.2.2 Tăng trưởng về trọng lượng

30

4.3. Tỷ Lệ Sống Của Cá Lăng Nha Thí Nghiệm

35

4.4. Tỷ Lệ Phân Đàn Của Cá Thí Nghiệm

36

4.4.1 Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài

36

4.4.2 Tỷ lệ phân đàn theo trọng lượng

36

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

38

5.1. Kết Luận

38
vi


5.2. Đề Nghị

38

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

vii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng

Nội dung

Trang

Bảng 2.1 Thành phần hóa học của Moina macrocopa được biểu diễn theo
phần trăm khối lượng tươi

6

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ

7

Bảng 3.1 Công suất và thể tích nước của hệ thống tuần hoàn

14

Bảng 3.2 Yếu tố thí nghiệm của các NT

16

Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

16

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong quá trình thí nghiệm

21

Bảng 4.2 Chiều dài trung bình (cm) của cá lăng nha qua các lần kiểm tra

27

Bảng 4.3 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của cá ở các NT

28

Bảng 4.4 Mức tăng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) của cá ở các NT

29

Bảng 4.5 Trọng lượng trung bình (g) của cá lăng nha qua các lần kiểm tra

31

Bảng 4.6 Tỷ lệ tăng trọng tương đối (%) của các NT

32

Bảng 4.7 Mức tăng trọng tuyệt đối (g/ngày) của cá ở các NT

33

Bảng 4.8 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm ở các NT

35

Bảng 4.9 Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài (%) của cá thí nghiệm ở các NT

36

Bảng 4.10 Tỷ lệ phân đàn theo trọng lượng (%) của cá ở các NT

37

viii


DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình

Nội dung

Trang

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống tuần hoàn khép kín

12

Hình 3.2 Mặt cắt ngang của bể lọc sinh học

13

Hình 3.3 Mặt cắt đứng của bể lọc sinh học

14

Hình 3.4 Cách vận hành của hệ thống nước tuần hoàn khép kín

15

Đồ thị

Nội dung

Trang

Đồ thị 4.1 Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm

22

Đồ thị 4.2 Biến động pH trong quá trình thí nghiệm

23

Đồ thị 4.3 Biến động DO trong quá trình thí nghiệm

24

Đồ thị 4.4 Chiều dài trung bình của cá ở các NT trong quá trình thí nghiệm

27

Đồ thị 4.5 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối của các NT

28

Đồ thị 4.6 Mức tăng chiều dài tuyệt đối của cá thí nghiệm ở các NT

29

Đồ thị 4.7 Trọng lượng trung bình của cá lăng nha ở các NT trong thời gian
thí nghiệm

31

Đồ thị 4.8 Tỷ lệ tăng trọng tương đối của cá ở các NT

33

Đồ thị 4.9 Mức tăng trọng tuyệt đối của cá ở các NT

34

ix


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt Vấn Đề
Trong những năm gần đây, cá lăng nha (Mystus wyckioides) không còn là đối
tượng nuôi xa lạ đối với những người nuôi thủy sản Việt Nam. Cá lăng nha là một
trong những loài cá nước ngọt có giá bán cao trên thị trường nhờ vào chất lượng thịt
thơm ngon, cơ thịt trắng, chắc, ít xương dăm. Cá còn có kích thước lớn, tốc độ tăng
trưởng nhanh. Cá lăng nha là đối tượng nuôi đem lại hiệu quả kinh tế khá cao cho
người nuôi thủy sản.
Nguồn cá lăng nha giống và thương phẩm trước đây chủ yếu được thu ngoài tự
nhiên nhưng sản lượng ngày càng thấp, không đủ đáp ứng cho nghề nuôi cá lăng nha
thương phẩm và nhu cầu tiêu dùng.
Năm 2005, Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình đã nghiên cứu sản xuất giống cá
lăng nha thành công tại Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM và đã chuyển giao công
nghệ cho tỉnh An Giang (2006), giúp người nuôi chủ động được nguồn giống.
Cũng như tất cả các loài thủy sản khác, để nuôi đạt hiệu quả, có năng suất và
lợi nhuận cao thì phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: chất lượng nước, con giống, khí
hậu, thức ăn, phương pháp quản lý, chăm sóc… Trong đó, con giống là nhân tố rất
quan trọng. Để sản xuất được con giống có chất lượng cao với chi phí thấp thì phải
tìm ra các thông số kỹ thuật (kỹ thuật sinh sản, thức ăn, số lần cho ăn, mật độ ương,
chất lượng nước…) cho phù hợp.
Đáp ứng yêu cầu thực tế trên, được sự cho phép của Khoa Thủy Sản Trường
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Xác định mật độ và tần số cho ăn trong ương cá lăng nha (Mystus wyckioides) giai
đoạn từ 3 đến 30 ngày tuổi”.

1


1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ phân đàn của cá lăng nha khi
ương ở các mật độ khác nhau với các tần số cho ăn khác nhau trong hệ thống nước
tuần hoàn khép kín. Qua đó tìm ra mật độ ương và tần số cho ăn thích hợp trong việc
ương cá lăng nha giai đoạn cá bột 3 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi nhằm đem lại hiệu quả
kinh tế cao trong sản xuất giống cá lăng nha.

2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Lăng Nha
2.1.1 Phân loại
Cá lăng nha thuộc:
Ngành: Chordata
Ngành phụ: Vertebrata
Lớp: Osteichthyesss
Bộ: Siluriformes
Họ: Bagridae
Giống: Mystus
Loài: Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949
Tên tiếng Anh: Asian red-tailed Catfish
Tên Việt Nam: Cá lăng nha hay cá lăng đuôi đỏ
2.1.2 Phân bố
Theo Rainboth (1996), cá lăng nha phân bố rộng rãi ở các thủy vật tự nhiên
thuộc Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Chúng phân bố chủ yếu ở lưu vực các sông
lớn từ thượng nguồn đến tận vùng cửa sông thuộc lưu vực sông Mekong và Salween,
đôi khi chúng được tìm thấy ở vùng biển hồ (thuộc Tonlé Sap) và các lưu vực thuộc
vùng hạ lưu sông Mekong (trích dẫn bởi Ngô Văn Ngọc, 2007).
Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố rộng rãi ở các sông rạch thuộc miền Nam,
phân bố ở các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông
Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây từ thượng nguồn đến vùng cửa sông và có nhiều ở
các hồ lớn như hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng, chúng thường sống ở những nơi nước chảy
chậm và sâu (Mai Đình Yên và ctv., 1992).

3


2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá lăng nha có thân dài, đầu dẹp ngang, số lược mang 11 – 15, đuôi dẹp bên.
Có 4 đôi râu: một đôi râu mũi kéo dài tới mắt, hai đôi râu cằm, một đôi râu hàm trên
kéo dài đến giữa vây hậu môn. Miệng ở dưới, rộng, hướng ra phía trước. Môi trên dày
và nhô hơn môi dưới, hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn. Khoảng cách hai
ổ mắt rộng, khe mang rộng, màng mang tách khỏi eo mang. Vây đuôi phân thùy sâu,
mép thùy trên dài hơn mép thùy dưới. Vây lưng và vây ngực có tia cứng, tia cứng vây
ngực to, khỏe, phía sau có răng cưa nhưng tia cứng ở vây lưng nhỏ và được bao phủ
bởi một lớp da và không có răng cưa. Thân có màu xám hoặc xanh đen, vây đuôi và
mép các vây như vây lưng, vây ngực, vây bụng và vây hậu môn có màu đỏ. Râu hàm
trên của cá có màu trắng đục và to (Chaux và Fang, 1949; trích bởi Lê Đại Quan,
2004).
2.1.4 Tập tính sống
Cá lăng nha sống tầng đáy, sống thành đàn nơi có nước chảy nhẹ. Cá thích tối,
hoạt động và bắt mồi về đêm, thích chui rúc trong các bụi rậm, hốc đá.
Môi trường sống thích hợp cho cá lăng nha:
 Nhiệt độ: 24 – 34 oC ( tốt nhất 28 – 32 oC)
 pH: 6 – 8 (tốt nhất 6,5 – 7,5)
 Hàm lượng DO: > 3 mg/l
 Độ mặn: 0 – 7 ppt
Cá không có cơ quan hô hấp phụ nên khá nhạy cảm với hàm lượng DO trong
nước.
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Để cá đạt tăng trưởng tốt thì ngoài yếu tố di truyền còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như điều kiện môi trường sống, tình trạng sức khỏe, thời gian sống và lượng
thức ăn.
Theo FAO (1996), ngoài tự nhiên, cá trưởng thành thường có kích thước
khoảng 50 cm, đôi khi bắt gặp những cá thể dài đến 70 cm (trích bởi Ngô Văn Ngọc,
2007).

4


Trong lòng hồ Trị An (Đồng Nai) thỉnh thoảng ngư dân bắt được những cá thể
có trọng lượng đến 10 kg. Vào cuối tháng 04/2005, một ngư dân đã bắt được một cá
cái nặng 18 kg trong lòng hồ Trị An (Ngô Văn Ngọc, 2007).
Cá lăng nha sau 1 năm nuôi đạt 1,1 – 1,4 kg/con, cá tăng trọng nhanh vào năm
thứ hai.
2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Rainboth (1996), cá lăng nha là một loài cá dữ (trích bởi Ngô Văn Ngọc,
2007).
Cá lăng có bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình, miệng rộng, răng hàm sắc,
nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài thân là 89,35 %. Phân tích 25
mẫu thức ăn trong ruột cá, chỉ số no đầy bằng 1,18, thành phần thức ăn chính là động
vật (Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998; trích bởi Đào Dương Thanh và Đặng Thị
Quyên Trinh, 2004).
Cá 3 ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng, đã biết ăn các loài phiêu sinh động vật.
Cá 5 ngày tuổi, ngoài phiêu sinh động vật, cá còn ăn được trùn chỉ.
Cá 20 ngày tuổi ăn ấu trùng côn trùng, tôm tép con, thịt cá và thức ăn viên.
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
Có thể phân biệt giới tính của cá lăng nha qua những đặc điểm bên ngoài cơ thể
như: cá đực có gai sinh dục dài và nhọn ở đầu mút, khi thành thục đầu mút ửng hồng;
cá cái có phần bụng to và bè ra hai bên nếu nhìn thẳng từ trên xuống, có lỗ sinh dục
tròn màu hồng và hơi lồi ra.
Cá lăng có chiều dài từ 30 cm trở lên có thể tham gia sinh sản. Cá vào bờ sau
khi nước lên, mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 7 và chỉ sinh sản một lần trong năm
(Mai Thị Kim Dung, 1998).
Trong điều kiện nhân tạo, mùa vụ sinh sản của cá lăng nha từ tháng 3 đến tháng
10 hằng năm. Vào chính vụ sinh sản (tháng 5 – 7), việc kích thích cá lăng nha sinh sản
tự nhiên đạt kết quả cao (Ngô Văn Ngọc, 2007).
Cá đẻ trứng dính vào các vật thể chìm trong nước.
Theo Ngô Văn Ngọc (2008):
 Tuổi thành thục của cá lăng nha là 3 tuổi.
 Sức sinh sản thực tế: 15.000 – 20.000 trứng/kg cá cái.
5


 Thời gian tái thành thục: 2 – 2,5 tháng.
 Thời gian phát triển phôi 24 – 26 giờ (28 – 32 oC).
2.2 Thức Ăn Cho Cá Lăng Nha
Thức ăn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng
của cá trong quá trình ương nuôi. Cá tăng trưởng tốt khi được cung cấp thức ăn có giá
trị dinh dưỡng cao và phù hợp với tập tính ăn, giai đoạn phát triển, nhu cầu và kích cỡ
miệng của cá.
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng 2 loại thức ăn cho cá lăng nha thí nghiệm:
 Thức ăn tươi sống: Moina, trùn chỉ.
 Thức ăn tự chế.
2.2.1 Moina
Moina macrocopa còn gọi là bobo hay trứng nước, thuộc nhóm giáp xác bậc
thấp Entomostraca, kích thước cơ thể từ 0,7 – 1 mm, sống chủ yếu ở các ao, hồ có
dòng chảy chậm hay đầm lầy có nhiều chất hữu cơ.
Chúng có khả năng thích nghi với nguồn nước kém chất lượng, thiếu thức ăn,
thiếu oxy hoặc khô hạn, phát triển với số lượng lớn trong nước ô nhiễm.
Gía trị dinh dưỡng của Moina macrocopa phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức
ăn, hàm lượng protein ở Moina macrocopa cao, chiếm khoảng 67 – 78 % trọng lượng
khô, hàm lượng lipid từ 11 – 27 %, cá thể trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn cá thể
còn non.
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của Moina macrocopa được biểu diễn theo
phần trăm khối lượng tươi (nguồn: Trần Văn Vỹ, 1995)
Thành phần

Nước

Đạm

Mỡ

Đường

Tro

Tỷ lệ (%)

90

5

0,7

0,1

1,7

(trích bởi Trần Thị Thanh Trúc, 2009)
Với kích thước nhỏ, di chuyển thụ động nên rất thích hợp với cỡ miệng và tập
tính bắt mồi của cá bột, khả năng chịu đựng tốt, dễ tìm, sẵn có, giá thành rẻ, sử dụng
Moina làm thức ăn cho cá bột đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất cá giống.
Song nhược điểm của thức ăn tươi sống này là hàm lượng protein thấp và khả năng
cạnh tranh oxy với cá nếu mật độ quá dày.

6


2.2.2 Trùn chỉ (Tubiflex tubiflex)
Trùn chỉ là loại thức ăn được sử dụng phổ biến trong các trại sản xuất giống.
Chúng có kích thước nhỏ, có đường kính khoảng 0,1 – 0,3 mm, hình sợi mảnh, dài
nên thích hợp cho cá con và các loài cá có kích thước nhỏ.
Môi trường sống của chúng là những nơi có nhiều chất cặn bã lắng tụ, vật chất
lơ lửng, nơi có nguồn thức ăn dồi dào, những nơi nước chảy liên tục như cống rảnh,
ao, hồ, sông. Trùn chỉ có thể tồn tại trong môi trường bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng,
thiếu oxy nhờ vào khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin hay trong điều kiện môi
trường khắc nghiệt như hạn hán, thiếu thức ăn chúng vẫn sống sót do khả năng hình
thành nang bảo vệ.
Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ biểu diễn theo phần trăm khối lượng tươi
được trình bày ở Bảng 2.2.
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ (nguồn: Nguyễn Ngọc Diễm,
2005)
Thành phần

Đạm

Mỡ

Vật chất khô

Năng lượng

Tỉ lệ (%)

8,92

2

13,48

0,7 kcal/g

2.2.3 Thức ăn tự chế
Thành phần thức ăn tự chế gồm cá tạp, bột cá, bột đậu nành, bột đậu phộng,
cám gạo…, phối trộn với chất kết dính, vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa… Các
nguyên liệu phối trộn cần được tính toán hợp lý nhằm đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng
đồng thời đảm bảo vệ sinh, hạn chế gây ô nhiễm môi trường do thức ăn thừa.
Để việc sử dụng thức ăn tự chế biến cho cá đạt hiệu quả cao cần chú ý các vấn
đề sau:
 Nguyên liệu phối trộn phải đảm bảo chất lượng, sử dụng cá tạp tươi, bột cá,
bột đậu nành, cám gạo… không bị nấm mốc, hư hại.
 Không được sử dụng các hóa chất, chất kháng sinh trong danh mục cấm sử
dụng.
 Khu vực phối trộn thức ăn phải được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi chế
biến thức ăn.
 Thức ăn sau khi chế biến phải được bảo quản đúng phương pháp.
7


2.3 Ảnh Hưởng Của Tần Số Cho Ăn Lên Sự Sinh Trưởng Của Cá
Nhiều tác giả nghiên cứu trên các loài cá khác nhau đã cho thấy sự ảnh hưởng
rõ rệt của tần số cho ăn lên sự sinh trưởng của cá. Có thể cho cá ăn một đến nhiều lần
trong ngày, song để đạt tăng trưởng tốt nhất, tần số cho ăn phải thay đổi tùy theo
giống loài, giai đoạn phát triển, môi trường nuôi và chất lượng thức ăn.
Cá ở giai đoạn ấu trùng hay cá giống có tần số cho ăn nhiều lần hơn cá trưởng
thành (4 – 6 lần so với 2 – 3 lần), do kích thước dạ dày của cá giống nhỏ chứa ít thức
ăn hơn (Lê Thanh Hùng, 2008).
Singh và Srivastava (1984) thực hiện thí nghiệm về tần số cho ăn trên cá
Hereopneustes fossilis ở kích cỡ 6,84 – 8,83 g với các nghiệm thức 1, 2, 3 và 4 lần ăn
trong một ngày. Mỗi nghiệm thức lặp lại 5 lần. Tổng số cá nuôi là 100 con. Sau một
tháng nuôi, kết quả tăng trọng tốt nhất là 2 lần ăn/ngày (Đồng Thị Hồng Diệp, 2008).
Tung Shiau (1991) chỉ ra rằng cho cá rô phi đỏ ăn 6 lần/ngày thì cân nặng của
chúng tăng nhanh hơn so với cho ăn 2 lần/ngày; Siraj và ctv (1988) đạt được sự tăng
trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) tốt hơn khi cho cá rô phi đỏ ăn 2 – 3
lần/ngày (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009).
Theo Lê Thanh Hùng (2008), cùng một kích cỡ nhưng số lần cho ăn tăng lên sẽ
giúp cá tăng trưởng nhanh hơn và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn vì:
 Khi số lần cho ăn tăng, lượng thức ăn cá lấy vào sẽ nhiều hơn. Cho ăn 1 – 2
lần, lượng thức ăn của một lần quá nhiều, cá không ăn hết, nếu chia nhỏ ra cá sẽ tiêu
thụ hết.
 Về phương diện sinh lý tiêu hóa, cùng một lượng thức ăn lấy vào hàng
ngày, nhưng khi số lần cho ăn nhiều hơn, hiệu quả tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tăng
hơn, do nhịp sản suất các enzyme tiêu hóa và thời gian thức ăn lưu trữ trong đường
tiêu hóa.
Theo Lovell (1976), việc cung cấp thức ăn với tần số quá cao thì cũng không
có lợi, cá có thể không ăn nữa, thức ăn dư thừa và chất thải sẽ làm giảm chất lượng
nước (Đồng Thị Hồng Diệp, 2008).

8


Trong sản xuất, người nuôi cá da trơn Mỹ cho cá ăn 8 – 10 lần/ngày khi cá bắt
đầu ăn thức ăn, số lần cho ăn giảm xuống còn 2 – 3 lần/ngày khi cá đạt trọng lượng
100 g trở lên (Lê Thanh Hùng, 2008).
2.4 Giới Thiệu Hệ Thống Nước Tuần Hoàn Khép Kín
Hệ thống nước tuần hoàn khép kín được thiết kế nhằm hạn chế thay nước, giảm
chi phí sản xuất, giảm nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh từ bên ngoài. Hiện nay, hệ thống
này được áp dụng rất phổ biến trong các trại sản xuất giống, các hệ thống nuôi.
Hệ thống nước tuần hoàn khép kín chỉ hoạt động hiệu quả nhất khi hội đủ các
yếu tố: sục khí, loại bỏ vật chất lơ lửng, lọc sinh học để loại bỏ các khí độc như
ammonia, nitrite và tăng cường hệ đệm (McGee và Cichra, 2000; trích bởi Nguyễn
Chí Tâm, 2008).
2.4.1 Nguyên lý hoạt động của màng lọc sinh học
Nguyên lý của phương pháp lọc sinh học là dựa trên quá trình hoạt động của vi
sinh vật ở màng lọc sinh học, oxy hóa các chất bẩn hữu cơ có trong nước. Các màng
sinh học là tập thể các vi sinh vật hiếu khí, kị khí và kị khí tùy ý. Các vi sinh vật hiếu
khí tập trung phần lớn ở mặt ngoài của màng sinh học. Ở đây chúng phát triển và gắn
vào giá mang là các vật liệu lọc (được gọi là sinh trưởng gắn kết hay sinh trưởng dính
bám) (Trịnh Ngọc Tuấn, 2005; trích bởi Nguyễn Chí Tâm, 2008).
Ammonia hình thành từ sự bài tiết của cá, sự phân hủy các vật chất hữu cơ.
Ammonia độc được chuyển thành dạng ít độc hơn là nitrite nhờ vi khuẩn
Nitrosomonas và sau đó chuyển thành dạng không độc nitrate nhờ vi khuẩn
Nitrobacter.
Quá trình nitrate hóa đòi hỏi oxygen do đó cần phải sục khí cho hệ thống nếu
không sẽ mất tác dụng. Hơn nữa quá trình còn sinh ra H+ làm giảm pH nên cần phải
sử dụng chất tăng cường hệ đệm (McGee và Cichra, 2000; trích bởi Nguyễn Chí Tâm,
2008).
2.4.2 Các quá trình sinh hóa xảy ra trong lọc sinh học
Theo Nguyễn Việt Thắng (1996) (trích bởi Nguyễn Chí Tâm, 2008), trong lọc
sinh học xảy ra ba quá trình sinh hóa là sự khoáng hóa, sự nitrate hóa và sự khử
nitrate.

9


2.4.2.1 Sự khoáng hóa
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình lọc sinh học. Sự khoáng hóa được thực hiện
bởi các nhóm vi sinh vật dị dưỡng và tự dưỡng. Chất hữu cơ nhiễm bẩn trong nước
thải bị oxy hóa bởi quần thể vi sinh vật ở màng sinh học. Các chất hữu cơ trước hết bị
phân hủy bởi vi sinh vật hiếu khí. Các vi khuẩn này chuyển các vật chất hữu cơ thành
ammonia.
Sự phân giải urea để tạo thành ammonia:
O=C—(NH2)2 + H2O

Vi khuẩn

CO2 + 2NH3

2.4.2.2 Sự nitrate hóa
Quá trình này gồm hai giai đoạn: chuyển hóa ammonia thành nitrite và chuyển
nitrite thành nitrate.
Giai đoạn nitrite hóa:
+

Nitrosomonas

-

NH4 + OH + 3/2O2

H+ + NO2- + 2H2O + năng lượng

Vi khuẩn tham gia trong giai đoạn chuyển hóa này là Nitrosomonas,
Nitrocystis, Nitrosolobus, Nitrospira.
Giai đoạn nitrate hóa:
NO2- + 1/2O2

Nitrobacter

NO3- + năng lượng

Vi khuẩn tham gia vào giai đoạn này gồm các vi khuẩn như Nitrobacter,
Nitrospira, Nitrococcus.
2.4.2.3 Sự khử nitrate
Sau khi bị phân hủy bởi các vi khuẩn hiếu khí, nước hết oxy sẽ thấm sâu vào
trong và bị phân hủy bởi các vi khuẩn kị khí nằm bên trong màng sinh học. Quá này
cũng xảy ra ở bể lọc thiếu oxy bởi những vi khuẩn kị khí bắt buộc hoặc các vi khuẩn
hiếu khí chuyển sang kị khí khi thiếu oxy. Kết quả của quá trình này là chuyển nitơ về
dạng oxy hóa thấp hơn như N2O, N2.
10


Vi khuẩn chủ yếu tham gia vào sự khử nitrate như: Pseudomonas denitrificans,
Ps. acruginosa, Ps. fluorescens, Ps. stutzeri, Bacillus licheforsmis, Micrococcus
denitrificans. Một số vi khuẩn tự dưỡng hóa năng cũng có khả năng thực hiện quá
trình này như: Thiobacillus denitrificans, Hydrogenomonas agilis.

11


Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Đề tài được thực hiện từ ngày 15/04/2010 đến ngày 13/06/2010 tại Trại Thực
Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.
3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá lăng nha bột 3 ngày tuổi, được sản xuất tại Trại
Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM.
3.3 Vật Liệu, Trang Thiết Bị
3.3.1 Hệ thống nước tuần hoàn khép kín
3.3.1.1 Mô tả hệ thống tuần hoàn khép kín

Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống tuần hoàn khép kín (Nguyễn Chí Tâm, 2008)
Hệ thống tuần hoàn khép kín gồm:
 20 bể composite, mỗi bể có đường kính 80 cm, chiều sâu 81 cm, đặt cách
mặt đất 103 cm.
 Ống cấp nước đã xử lý vào bể nuôi.
 Ống dẫn nước chưa xử lý vào bể lọc.

12


 Bể lọc sinh học.
 Máy thổi khí.
 Máy bơm chìm.
 Bộ sưởi nhiệt.
Bể lọc sinh học được chia làm 3 ngăn bởi hai tấm lọc bằng ván gỗ có khe hở và
được bao bởi một lớp bông, gồm có ngăn chứa nước chưa xử lý, ngăn chứa nước đang
xử lý và ngăn chứa nước đã xử lý. Ngăn chứa nước chưa xử lý tiếp nhận nước và chất
thải từ hệ thống bể nuôi. Qua quá trình lọc cơ học bởi tấm lọc, các chất thải rắn được
giữ lại, nước ở ngăn này sẽ lưu thông qua ngăn xử lý. Ở đây, sẽ xảy ra quá trình lọc
sinh học bởi những vi sinh vật phát triển trên các giá thể. Các giá thể là những tấm
nhựa PVC có bề mặt sần sùi nhằm tăng diện tích bề mặt của giá thể. Để đảm bảo cho
sự phát triển và tăng sinh của vi sinh vật, hệ thống sục khí ở ngăn xử lý phải hoạt động
liên tục nhằm cung cấp oxy cho hệ vi sinh vật. Sau đó, nước đã xử lý sẽ đi qua tấm lọc
đến ngăn chứa nước đã xử lý. Ở đây nước sẽ được cung cấp vào hệ thống bể nuôi bởi
một máy bơm chìm.

Hình 3.2: Mặt cắt ngang của bể lọc sinh học (Nguyễn Chí Tâm, 2008)

13


Hình 3.3: Mặt cắt đứng của bể lọc sinh học (Nguyễn Chí Tâm, 2008)
Công suất và thể tích của hệ thống tuần hoàn được trình bày theo Bảng 3.1.
Bảng 3.1: Công suất và thể tích của hệ thống tuần hoàn
STT

1
2
3
4
5
6

Số lượng
(bể hoặc
cái)

Bộ phận
Bể lọc sinh học:
- Ngăn chưa xử lý
- Ngăn xử lý (lọc sinh học)
- Ngăn đã xử lý
Tấm lọc cơ học
Bể nuôi
Giá thể (màng sinh học)
Máy bơm chìm
Máy thổi khí

Diện
tích
(m2)

1
2
20
3
1
1

Thể
tích
(m3)
2
0,35
1,3
0,35

Công
suất
(W)

1,15
0,2
500
750

3.3.1.2 Cách vận hành
Nước từ hồ Đất được bơm lên các bể chứa nước của trại. Tại đây nước được xử
lý bằng Chlorine sau đó được cấp trực tiếp vào hệ thống bể nuôi, bể lọc của hệ thống
tuần hoàn khép kín. Nước từ hệ thống bể nuôi sẽ tự chảy trong hệ thống để vào ngăn
chứa nước chưa xử lý của bể lọc dựa vào sự chênh lệch về cao trình giữa hệ thống bể
nuôi và bể lọc. Đồng thời, máy bơm chìm ở ngăn chứa nước đã xử lý cũng hoạt động
để bơm cấp nước mới lên hệ thống bể nuôi.
Nước chảy liên tục từ hệ thống bể nuôi xuống bể lọc, rồi từ bể lọc nước đã qua
xử lý được bơm lên lại hệ thống bể nuôi tạo thành vòng tuần hoàn khép kín như
14


Hình 3.4. Các chất thải rắn như phân, thức ăn thừa lắng dưới đáy các bể nuôi sẽ được
loại bỏ bằng cách siphon để đảm bảo chất lượng nước ổn định, đáp ứng yêu cầu cho
sự phát triển của cá thí nghiệm.

Hình 3.4: Cách vận hành của hệ thống nước tuần hoàn khép kín
3.3.2 Các vật liệu và trang thiết bị khác
 Thau, vợt, xô, muỗng, chén, giấy kẻ ô li.
 Cân điện tử một số lẻ.
 Cân điện tử hai số lẻ.
 Cân đồng hồ loại 1 kg.
 Máy đo pH, máy đo DO, nhiệt kế.
 Ống dùng siphon chất bẩn, bàn chải.
 Máy bơm chìm, máy thổi khí, máy phát điện.
 Soda (NaHCO3) được sử dụng để tăng pH.
3.4 Bố Trí Thí Nghiệm
Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức (NT), mỗi NT lặp lại 3 lần được bố trí hoàn
toàn ngẫu nhiên với 2 yếu tố về mật độ ương và số lần cho ăn được trình bày theo
Bảng 3.2.

15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×