Tải bản đầy đủ

HOÀN THIỆN PHUONG THUC THANH TOAN QUOC TE BANG LC TẠI NGÂN HÀNG BIDV CHI NHÁNH TRÀNG AN

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM,
CHI NHÁNH TRÀNG AN

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

1


BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM,
CHI NHÁNH TRÀNG AN


Họ và tên sinh viên : Nguyễn Hải Linh
Giáo viên hướng dẫn : Vũ Việt Ninh
Lớp : CQ51/08.03
Mã sinh viên: 135D3402010536

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

2


MỤC LỤC

3


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
T
T
1
2

Chữ viết tắt
BCT
DN

3

ICC

4

L/C

5

NH ĐT&PT

6
7
8
9
10
11
12
13

NH
NHNN
NHTM
QHQT
TDCT
TT
TTD
TTQT

14

UCP600

15

SWIFT

Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh
Company
International Chamber of
Commerce
Letter of Credit

Bank
Commercial Bank
Documentary Credit
Payment
International Payment
Uniform Customs and Practice
for Documentary Credit No600
Society Worldwide
International Finance
Telecommunication

16

URC522

The ICC Uniform Rules

17
18

USD
WTO

United State Dollar
World Trade Organization

4

Tiếng Việt
Bộ chứng từ
Doanh nghiệp
Phòng Thương mại Quốc tế
Thư tín dụng
Ngân hàng Đầu tư và phát
triển
Ngân hàng
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Quan hệ quốc tế
Tín dụng chứng từ
Thanh toán
Tín dụng thư
Thanh toán quốc tế
Quy tắc thực hành thống nhất
về tín dụng chứng từ 600
Tổ chức viễn thông tài chính
liên ngân hàng quôc tế
Tập quán thực hành ngân
hàng thực tế thống nhất 522
Đồng đôla
Tổ chức Thương mại Thế giới


DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG, BIỂU ĐỒ
1.Sơ đồ :
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ.
2.Bảng :
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NH ĐT&PT Tràng An.
Bảng 2.2: Tình hình cho vay của NH ĐT&PT Tràng An.
Bảng 2.3: Tình hình kinh doanh ngoại hối của NH ĐT&PT Tràng An.
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của NH ĐT&PT Tràng An
Bảng 2.5: Kết quả thanh toán L/C năm 2014 – 2016.
Bảng 2.6: Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C xuất khẩu năm 2014 –
2016.
Bảng 2.7: Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C nhập khẩu năm 2014 –
2016.
3.Biểu đồ :
Biểu đồ 2.1: Tình hình kinh doanh ngoại hối của NH ĐT&PT Tràng An .
Biểu đồ 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh 2014 – 2016.
Biểu đồ 2.3: Kết quả thanh toán L/C năm 2014 – 2016.
Biểu đồ 2.4:Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C xuất khẩu năm 2014 –
2016 theo số món.
Biểu đồ 2.5: Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C xuất khẩu năm 2014 –
2016 theo doanh số.
Biểu đồ 2.6: Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C nhập khẩu năm 2014 –
2016 theo số món.
Biểu đồ 2.7: Tình hình cung cấp dịch vụ TT bằng L/C nhập khẩu năm 2014 –
2016 theo doanh số

5


LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu thề kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc gia
đang ra sức phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, hợp tác, trong
bối cảnh đó thanh toán quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong
nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và
các quan hệ tài chính tín dụng quốc tế khác. Hoạt động thanh toán quốc tế ngày
càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động
kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều
đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là
con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước. Việt Nam
không nằm ngoài xu thế trên, và ngày nay thì thanh toán quốc tế là một dịch vụ
ngày càng trở nên quan trọng. Các ngân hàng thương mại Việt Nam, là một mắt
xích quan trọng thúc đẩy hoạt kinh doanh, đồng thời còn hỗ trợ và thúc đẩy hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp phát triển. Thanh toán
quốc tế ra đời dựa trên nền tảng của thương mại quốc tế, là khâu quan trọng
trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc
các quốc gia khác nhau, và để hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng,
an toàn, chính xác, giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá, tiền tệ giữa
người mua và người bán một cách trôi chảy, hiệu quá thì mỗi nước phải tự lựa
chọn cho mình một phương thức thanh toán quốc tế phù hợp. Trong đó nổi bật
nhất là phương thức Thư tín dụng vì nó đảm bảo được an toàn cho bên xuất khẩu
và bên nhập khẩu, đây là phương thức thanh toán được sử dụng nhiều nhất vì thế
để mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thì phần nhiều là nói đến
mở rộng phương thức Thư tín dụng. Sau thời gian thực tập tại NH ĐT&PT chi
nhánh Tràng An, bên cạnh những thành tựu đạt được trong hoạt động thanh toán
quốc tế thì BIDV chi nhánh Tràng An còn gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt
6


động thanh toán quốc tế của mình, nên đề tài “Hoàn thiện phương thức thanh
toán quốc tế bằng L/C tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi
nhánh Tràng An” đã được em lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện dịch vụ thanh toán quốc tế
bằng thư tín dụng tại NH ĐT&PT Tràng An.
Để đạt được các mục đích trên cần thực hiện các nhiệm vụ:
-Xây dựng lí luận cơ bản về hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế bằng thư
tín dụng tại ngân hàng thương mại
-Phân tích thực trạng thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ tại NH ĐT&PT
chi nhánh Tràng An
-Đánh giá giải pháp hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế bằng thư tín
dụng tại NH ĐT&PT chi nhánh Tràng An
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Lý luận và thực tiễn về TTQT và TTQT bằng thư tín dụng.
- Giải pháp hoàn thiện dịch vụ TTQT bằng thư tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển chi nhánh Tràng An
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Hoàn thiện dịch vụ tín dụng chứng từ tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Tràng An.
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2014 đến 2016.
- Không gian: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi
nhánh Tràng An.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kế thừa và vận dụng kết quả của các nghiên cứu khoa học đi
trước.

7


Bên cạnh đó, luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu, phân tích,
tổng hợp, phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối để đánh giá chiều hướng
phát triển.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện dịch vụ tín dụng chứng từ tại
NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng tại
ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Tràng An.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế bằng thư
tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Tràng
An.

8


Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
QUỐC TẾ BẮNG THƯ TÍN DỤNG
1.1. Thanh toán quốc tế và các phương thức thanh toán quốc tế
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ
kinh tế, chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình
thành nên các khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước là
khác nhau. Các mối quan hệ tiền tệ này ngày một phong phú đa dạng với quy
mô ngày càng lớn. Trong các mối quan hệ quốc tế, các đối tác ở các nước khác
nhau, do vậy có sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc
thanh toán không thể tiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tổ chức
trung gian, đó là các ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp
nơi trên thế giới, hình thành nên phương thức thanh toán quốc tế.
Như vậy, “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và
quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh
tế giữa các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc
tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.”
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ
vào cuối thế kỷ 20, khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền
quốc tế ngày càng gia tăng. Từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán
qua ngân hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc
sử dụng đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. Thanh toán quốc tế đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nên kinh tế của các quốc
gia hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của thanh toán quốc tế
- Liên quan đến nhiều chủ thể ở nhiều quốc gia, có vị trí địa lý xa cách và
ít có thông tin đầy đủ về các đối tác nên rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
1


- Liên quan đến rất nhiều hoạt đông mua – bán hàng hóa (cả hữu hình và
vô hình), dịch vụ và các hoạt động phi kinh tế nên rất đa dạng, phức tạp, nhiều
họat động khó kiểm định, kiểm tra, giám sát.
- Trong mỗi hoạt động thanh toán quốc tế đều liên quan đến nhiều bên nên
đòi hỏi phải quy định rõ ràng, minh bạch trách nhiểm của các bên có liên quan
trong từng hoạt động, trong mỗi hợp đồng.
- Chịu tác động của nhiều quy định pháp lý của các quốc gia có liên quan,
của các luật quốc tế và thông lệ quốc tế nên cần quy định rõ ràng trong từng hoạt
động chịu sự chi phối của hệ cơ sở pháp lý nào để tránh xảy ra tranh chấp và rủi
ro trong thanh toán quốc tế.
- Hệ thống thanh toán quốc tế ngày càng phát triển phong phú, đa dạng
đáp ứng yêu cầu của giao thương quốc tế và thanh toán quốc tế điển tử ngày
càng có vai trò quan trọng trong hệ thống thanh toán quốc tế.
1.1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán quốc tế là cách thức mà thông qua đó người nhập
khẩu trả tiền để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ, còn người xuất khẩu giao hàng
hoặc thực hiện các dịch vụ để nhận tiền. Việc trả tiền và nhận tiền này được thực
hiện thông qua ngân hàng. Có nhiều phương thức thanh toán quốc tế đang được
sử dụng hiện nay như: chuyển tiền, nhờ thu, ghi sổ, tín dụng chứng từ. Tùy từng
điều kiện cụ thể, các bên sẽ thỏa thuận với nhau để sử dụng phương thức thanh
toán phù hợp với quan hệ thương mại và thanh toán giữa họ.
1.1.3.1. Phương thức chuyển tiền.
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (Người mua,
Nhà nhập khẩu,...) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả một số tiền nhất
định cho người hưởng lợi (Người bán, Nhà xuất khẩu,...) ở một địa điểm nhất
định và trong một thời gian nhất định.
Để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền, ngân hàng có thể sử dụng một trong
các cách sau: chuyển tiền bằng thư và chuyển tiền bằng điện.
2


Chuyển tiền bằng thư: Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách
gửi thư ra lệnh cho ngân hàng thanh toán yêu cầu trả tiền cho người nhận. Với
hình thức này thì phí mà ngân hàng áp dụng cho dịch vụ chuyển tiền là thấp do
dịch vụ chuyển tiền bằng thư tốn nhiều thời gian và có thế trong quá trình vận
chuyển có thể bị thất lạc do không đảm bảo an toàn.
Chuyển tiền bằng điện: Ngân hàng chuyển tiền sẽ điện đến ngân hàng trả
tiền yêu cầu ngân hàng này thanh toán cho người thụ hưởng thông qua mạng
SWIFT. Đây là dịch vụ chuyển tiền hiện đại, nhanh chóng, chính xác và dễ thực
hiện. Do đó mức phí áp dụng cho dịch vụ này là rất cao.
Phương thức thanh toán chuyển tiền có ưu điểm là thủ tục đơn giản,
nhanh gọn. Tuy nhiên, đây cũng là phương thức thanh toán chứa đựng nhiều rủi
ro. Nếu là thanh toán trước thì người mua không chỉ bị đọng vốn mà còn không
được đảm bảo về số lượng và chất lượng hàng hóa. Còn nếu thanh toán sau thì
người bán có thể bị rủi ro không được thanh toán hoặc trì hoãn thành mặc dù đã
giao đủ hàng cho người mua. Do những hạn chế như trên nên phương thức này
thường chỉ áp dụng cho các đối tác làm ăn lâu dài, có uy tín và tin cậy lẫn nhau.
1.1.3.2 Phương thức nhờ thu.
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi
giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ ủy thác cho ngân hàng phục
vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ do người bán lập.
Căn cứ vào cách thức yêu cầu thanh toán của bên bán có thể phân biệt
thành hải hình thức nhờ thu, đó là thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Nhờ thu phiếu trơn: Ngân hàng chỉ thực hiện dịch vụ thu hộ tiền của
người mua căn cứ theo chứng từ tài chính mà người bán lập ra (khi người bán đã
giao hàng hóa hay cung ứng dịch vụ cho người mua). Còn chứng từ thương mại
khác sẽ gửi thẳng cho người mua thông qua nhân hàng.
Nhờ thu kèm chứng từ: Là dịch vụ ngân hàng trao BCT cho người bán để
nhận hàng khi người bán đã chuyển giao hàng hóa cho người mua, người mua sẽ
trả tiền hay chấp nhận trả tiền.
3


Với dịch vụ nhờ thu, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ còn
không có trách nhiệm đến việc thanh toán tiền của người mua. Đối với phương
thức nhờ thu, rủi ro vẫn luôn là vấn đề cần quan tâm của bên bán. Vì vậy
phương thức này cũng thường chỉ áp dụng trong quan hệ bạn hàng làm ăn lâu
dài, tín nhiệm lẫn nhau.
1.1.3.3. Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng
Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là phương thức thanh toán quốc
tế được sử dụng khá rộng rãi hiện nay, là phương thức ưu việt trong các phương
thức thanh toán quốc tế. Phương thức này đảm bảo quyền lợi tương đối cho cả
người mua và người bán, do đó góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương,
nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của các nước. Tùy theo thói quen
và thông lệ từng nước mà được gọi với nhiều tên khác nhau như: Tín dụng
chứng từ (Document Letter of Credit), Thư tín dụng, L/C.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ sẽ được trình bày cụ thể hơn ở
mục 1.2 sau đây.
1.2. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1. Khái niệm
Theo điều 2 UCP600: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất
kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc
chắn và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi
xuất trình phù hợp”.
Phương thức tín dụng chứng từ có đặc trưng là ngân hàng và các bên
liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ mà không dựa trên hàng hoá
hoặc dịch vụ, nghĩa là ngân hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán là
hoàn toàn dựa vào việc kiểm tra bộ chứng từ chứ không phải là trực tiếp
kiểm tra hiện trạng hàng hoá.
Phương thức tín dụng chứng từ được điều chỉnh bởi “Quy tắc và thực
hành thống nhất về tín dụng chứng từ”, số xuất bản 600 – UCP 600 của
4


phòng thương mại quốc tế ICC. Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tùy,
hoàn toàn do các chuyên gia thuộc khu vực tư nhân soạn thảo, ra đời nhằm
làm giảm sự bất đồng giữa các bên thuộc các quốc gia khác nhau trong
thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là quy tắc này áp dụng cho bất kỳ tín
dụng chứng từ nào có nội dung chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc quy tắc
này.
Trong phương thức tín dụng chứng từ, thư tín dụng (L/C – Letter of
credit) được coi là một phương tiện thanh toán, một văn bản pháp lý quan
trọng trong phương thức thanh toán TDCT. Đó là bức thư do một ngân hàng
lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người nhập khẩu, trong đó thể
hiện cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu họ xuất
trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện
của L/C.
Thư tín dụng được lập ra trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên
khi L/C đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với các hợp đồng đó. Đó là
vì khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào các chứng từ được quy định
trong L/C chứ không căn cứ vào hợp đồng. Điều 4 của UCP 600 ghi: “Về
bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc
các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng. Các ngân hàng không
liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín
dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó”.
Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và
bên bán vì trong phương thức này, ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ,
trả hộ mà còn là chủ thể đứng ra bảo đảm cho bên xuất khẩu nhận được số
tiền tương ứng với hàng hoá mà họ cung cấp; đồng thời, bảo đảm cho bên
nhập khẩu nhận được hàng hoá tương ứng với số tiền mà họ phải chi trả.
1.2.2. Nội dung của thư tín dụng
Như đã nói ở trên, thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng
thương mại nhưng khi đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng đó.
5


Ngân hàng chấp nhận hay từ chối thanh toán hoàn toàn dựa vào việc đối chiếu
bộ chứng từ do người xuất khẩu xuất trình với các điều kiện và điều khoản quy
định trong thư tín dụng. Do những đặc điểm như vậy nên mỗi thư tín dụng
thường có các nội dung chủ yếu sau:
Số hiệu L/C
Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó, nhằm tạo điều kiện thuận
lợi trong việc trao đổi chứng từ, điện tín trong việc thực hiện L/C, hoặc để ghi
vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán L/C.
Địa điểm và ngày mở L/C
Địa điểm mở L/C là nơi ngân hàng phát hành L/C viết cam kết cho người
xuất khẩu. Địa điểm này rất quan trọng vì nó liên quan đến việc tham chiếu luật
lệ áp dụng để giải quyết những bất đồng, tranh chấp xảy ra.
Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C
với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, và cũng là
căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện việc mở
thư tín dụng đúng thời hạn mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng không, là
mốc phát sinh trách nhiệm không hủy ngang của nhà nhập khẩu trong việc hoàn
trả cho NHPH thanh toán L/C.
Loại thư tín dụng
Mỗi loại thư tín dụng có tính chất, nội dung khác nhau; quy định quyền
lợi, nghĩa vụ của các bên liên quan tới L/C khác nhau. Vì vậy, khi mở L/C,
người yêu cầu mở phải xác định rõ loại L/C cần mở.
Tên, địa chỉ của những người có liên quan
Các thương nhân: bao gồm những người nhập khẩu, người yêu cầu mở
L/C, người xuất khẩu, người hưởng lợi L/C.
Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ: bao gồm
ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác
nhận và các cơ quan tổ chức có liên quan khác (nếu có).
Số tiền của thư tín dụng
6


Số tiền trên thư tín dụng phải được ghi vừa bằng số, vừa bằng chữ và phải
thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải được ghi cụ thể, chính xác. Trong
thư tín dụng không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối vì như vậy có thể
gây khó khăn cho việc giao hàng và nhận tiền của bên bán. Do đó, nên ghi số
tiền theo một giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được.
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng
Đây là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất
khẩu, nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và
phù hợp với những điều quy định trong thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu
lực của L/C. Việc xác định thời hạn này phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được
trùng với ngày hết hạn của L/C.
- Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một khoảng thời gian hợp lý,
được tính tối thiểu bằng tổng số ngày cần có để thông báo L/C, số ngày lưu L/C
ở ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu.
- Ngày hết hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một khoảng thời gian
hợp lý, bao gồm số ngày cần thiết để nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ và chuyển
tới ngân hàng thông báo, số ngày ngân hàng thông báo kiểm tra chứng từ và số
ngày chuyển chứng từ tới ngân hàng phát hành.
Thời hạn trả tiền của L/C
Thời hạn trả tiền được quy định trong L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả
tiền về sau và điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng thương
mại giữa các bên. Nếu là trả tiền ngay thì thời hạn trả tiền phải nằm trong thời
hạn hiệu lực của L/C. Nếu là trả chậm thì thời hạn trả tiền có thể nằm ngoài thời
hạn hiệu lực của L/C.
Tuy nhiên, hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong
thời hạn hiệu lực của L/C.
Thời hạn giao hàng
7


Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng cũng do hợp đồng thương
mại quy định. Đó là thời hạn quy định bên xuất khẩu phải chuyển chuyển giao
xong hàng hoá cho bên nhập khẩu kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực.
Những nội dung liên quan đến hàng hoá
Nội dung này bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách
phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…
Những nội dung về vận tải, giao hàng hóa
Bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR...), nơi gửi và nơi
giao hàng, cách vận chuyển và nơi trả hàng,... Ngoài nội dung này thì trong L/C
cũng quy định là “Hàng hóa có được phép chuyển tải hay không?” – vì hàng hóa
dễ bị tổn thất trong quá trình chuyển tải thì L/C cấm chuyển tải.
Các chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
Đây là nội dung rất quan trọng của thư tín dụng, vì bộ chứng từ thanh toán
là căn cứ để ngân hàng kiểm tra việc hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá
đúng như L/C quy định của người xuất khẩu, từ đó tiến hành trả tiền hay chấp
nhận trả tiền cho người hưởng lợi.
Thông thường, bộ chứng từ bao gồm:
-

Hối phiếu thương mại (Commercial Bill of Exchange)
Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice)
Vận đơn (Bill of Lading)
Chứng nhận bảo hiểm (Insurance Policy)
Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)
Chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality)
Danh sách đóng gói (Packing List)
Chứng nhận kiểm nghiệm (Inspection Certificate)
Trong thư tín dụng còn quy định số lượng bản chứng từ thuộc mỗi loại và

có thể có yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ.
Cam kết của ngân hàng mở L/C
Đây là nội dung ràng buộc trách nhiệm mang tính pháp lý của ngân hàng mở
L/C đối với khách hàng của mình, là cam kết trả tiền bằng uy tín của chính ngân hàng.

8


Cam kết này là một cam kết có điều kiện, nghĩa là ngân hàng chỉ thực hiện cam kết với
điều kiện các quy định trong L/C được người xuất khẩu thực hiện đầy đủ.

Chữ kí của ngân hàng mở L/C
Nếu L/C được mở bằng thư thì cuối L/C phải có chữ ký của người đại diện có
thẩm quyền của ngân hàng phát hành. Chữ ký này phải đúng với chữ ký đã được thông
báo cho ngân hàng thông báo L/C trong thoả thuận đại lý giữa hai ngân hàng. Còn nếu
L/C được mở bằng điện thì chữ ký sẽ được thay bằng Testkey.

1.2.3. Phân loại L/C
Căn cứ vào công dụng của thư tín dụng, L/C được chia thành các dạng
sau:
Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Đây là loại L/C mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị ngân hàng
mở L/C sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người
hưởng lợi biết. Việc này đương nhiên phải diễn ra trước khi thư tín dụng được
thanh toán.
Thư tín dụng có thể huỷ ngang không đảm bảo quyền lợi cho người xuất
khẩu.Trong khi đó, người nhập khẩu lại có sự thuận lợi, chủ động trong hoạt
động kinh doanh của mình do có thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ L/C trước khi
việc thanh toán được thực hiện. Như vậy, loại L/C này thuộc loại cam kết không
bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Do đó, nó ít được sử dụng trong thực tế và
thường chỉ được sử dụng trong quan hệ thương mại giữa công ty mẹ và công ty
con, giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)
Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mà sau khi đã được
phát hành thì ngân hàng phát hành chỉ có thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ nó
trên cơ sở sự thoả thuận của các bên có liên quan. Điều này có nghĩa là nếu
không có sự đồng ý của người xuất khẩu thì ngân hàng phát hành không được
phép chỉnh sửa nội dung của L/C theo yêu cầu đơn phương của người nhập
khẩu.
9


Ngược với L/C hủy ngang, thư tín dụng không thể huỷ ngang thể hiện sự
ràng buộc trách nhiệm pháp lý của ngân hàng phát hành đối với cam kết thanh
toán của nó với người nhập khẩu. Do đó, loại thư tín dụng này đảm bảo được
quyền lợi cho người xuất khẩu và được áp dụng rất phổ biến trong thương mại
quốc tế.
Tuy nhiên, một L/C không thể hủy ngang không có nghĩa là không thể
hủy bỏ. Trong trường hợp các bên cùng nhày đồng ý hủy bỏ L/C thì nó được
công nhận không còn giá trị thực hiện. Song sau khi thỏa thuận với người thụ
hưởng về hủy bỏ L/C, người mở phải thương lượng với NHPH, ngân hàng này
liên hệ với NHXN (nếu có) để có được xác thực đồng ý hủy bỏ L/C. Như vậy,
một L/C muốn được hủy bỏ phải được sự đồng thuận của người thụ hưởng,
NHPH và NHXN (nếu có). Thông thường, yêu cầu hủy bỏ L/C phát sinh từ
người mở vì họ cần giải tỏa tiền ký quỹ tại NHPH trước thời hạn hiệu lực. Đối
với người thụ hưởng, việc không giao hàng của họ đồng nghĩa với việc hủy bỏ
L/C. Đó là lý do người mua yêu cầu người bán phát hành “Bảo hành thực hiện
hợp đồng” nhắm tránh những thiệt hại do phía người bán “hủy ngang” L/C,
nghĩa là không giao hàng hoặc không có hàng giao như thỏa thuận.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang, có xác nhận (Confirmed Irrevocable
L/C)
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác có uy tín
hơn, gọi là ngân hàng xác nhận, đứng ra đảm bảo thanh toán tiền cho người thụ
hưởng, theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thư tín dụng đó. Yêu cầu xác nhận
L/C không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu
của người hưởng lợi khi họ không tin tưởng vào tình hình tài chính và uy tín của
ngân hàng phát hành hoặc lo lắng về khả năng an toàn ở nước người nhập khẩu.
Việc lựa chọn ngân hàng xác nhận là tuỳ theo thỏa thuận giữa người xuất khẩu,
người nhập khẩu và ngân hàng phát hành L/C.
Với loại thư tín dụng này, có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho
người hưởng lợi nên đây là loại thư tín dụng rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán.
10


Khi ngân hàng xác nhận đã trả tiền cho người hưởng lợi thì ngân hàng này có
quyền truy đòi số tiền đã thanh toán từ ngân hàng phát hành. Do vậy, để đảm
bảo an toàn, ngân hàng xác nhận thường yêu cầu ngân hàng phát hành phải ký
quỹ, có khi bằng 100% giá trị L/C, tại ngân hàng xác nhận.
Việc trả phí xác nhận tùy thuộc vào thoả thuận giữa các bên. Về nguyên
tắc, người nhập khẩu phải trả phí xác nhận, nhưng trên thực tế, người xuất khẩu
mới là người phải chịu khoản phí này.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without
recourse L/C)
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định sau khi
người thụ hưởng đã được trả tiền thì ngân hàng phát hành không có quyền đòi
lại số tiền đó trong bất kỳ trường hợp nào.
Với loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu miễn
truy đòi người ký phát (Without recourse to drawers) và trong thư tín dụng cũng
phải được ghi như vậy.
Ngoài ra, L/C còn bao gồm một số dạng đặc biệt khác như:
Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định ngân
hàng trả tiền có thể trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một
hoặc nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Loại L/C này được sử dụng trong trường hợp người hưởng lợi đầu tiên
không tự cung cấp được hàng hoá mà chỉ là trung gian môi giới giữa người cung
cấp hàng hoá và người mua cuối cùng. Như vậy loại L/C này giúp cho người
xuất khẩu có thể cung cấp hàng hoá cho đối tác mà không cần đến vốn của
mình.
Với thư tín dụng chuyển nhượng, việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện
một lần, nghĩa là người hưởng lợi thứ hai không được chuyển nhượng cho người
hưởng lợi thứ ba. Phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên trả.
Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)
11


Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết
thời hạn hiệu lực thì sẽ tự động khôi phục khôi phục lại giá trị như cũ và tiếp tục
được sử dụng như vậy cho tới khi hết tổng giá trị L/C. L/C tuần hoàn cần chỉ rõ
ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng , số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.
Có thể phân biệt hai dạng tuần hoàn:
Tuần hoàn có tích luỹ (Cumulative Revolving L/C)
Là loại L/C tuần hoàn cho phép cộng thêm số tiền của L/C trước chưa sử
dụng hết vào giá trị của L/C ở vòng tuần hoàn sau
Tuần hoàn không tích luỹ (Non – cumulative Revolving L/C)
Là loại L/C tuần hoàn không cho phép cộng dồn số dư của L/C trước vào
giá trị của L/C sau khi L/C trước chưa sử dụng hết.
Về cách thức tuần hoàn, có ba phương pháp tuần hoàn sau:
Tuần hoàn tự động: L/C giai đoạn trước hết thời hạn thì L/C giai đoạn sau
tự động có giá trị mà không cần có sự thông báo của ngân hàng phát hành.
Tuần hoàn không tự động: L/C giai đoạn sau chỉ có hiệu lực thanh toán
khi ngân hàng phát hành thông báo cho người bán.
Tuần hoàn hạn chế: Nếu sau một vài ngày kể từ ngày L/C cũ hết hạn hiệu
lực hoặc đã sử dụng hết mà ngân hàng phát hành không có ý kiến gì thì L/C kế
tiếp tự động có giá trị hiệu lực.
L/C tuần hoàn chỉ được sử dụng trong việc mua bán hàng hoá với số
lượng đều đặn và nhiều lần trong năm, do có thể xảy ra những biến động không
tốt trên thị trường tiêu thụ mặt hàng đó dẫn đến người nhập khẩu vẫn phải tiếp
tục nhận hàng trong khi hàng hoá bị ứ đọng. Mặt khác, trong một khoảng thời
gian dài, tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể bị xấu đi, gây ra rủi ro
cho ngân hàng phát hành.
Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C)
Đây là loại L/C được mở ra dựa trên cơ sở một L/C khác đã được mở
trước đó; nghĩa là sau khi nhận được một L/C (L/C gốc) do người nhập khẩu mở

12


cho mình, người xuất khẩu dùng L/C này làm căn cứ để mở một L/C khác (L/C
giáp lưng) cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C gốc.
Lý do của việc dùng L/C giáp lưng là người hưởng lợi thứ nhất không thể
tự mình cung cấp hàng hoá mà chỉ đóng vai trò như một người trung gian để
hưởng hoa hồng. Tuy nhiên, nó khác với L/C chuyển nhượng ở chỗ L/C gốc và
L/C giáp lung hoàn toàn độc lập với nhau, tức là trách nhiệm thanh toán cho bộ
chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng thuộc về ngân hàng phát hành l/C giáp lưng.
Do đó, quyền lợi của người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng)
sẽ được đảm bảo hơn.
Như đã nói ở trên, người hưởng lợi thứ nhất đóng vai trò như một người
trung gian để hưởng hoa hồng. Do đó, giá trị L/C giáp lưng thường nhỏ hơn L/C
gốc và phần chênh lệch này để bù đắp chi phí phát sinh và hoa hồng. Thời hạn
giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc. Số chứng từ của L/C giáp
lưng phải nhiểu hơn L/C gốc.
Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)
Đây là loại thư tín dụng do người nhập khẩu yêu cầu người xuất khẩu,
thông qua ngân hàng phục vụ họ mở cho người nhập khẩu hưởng; theo đó ngân
hàng phát hành L/C dự phòng cam kết sẽ bồi hoàn cho người nhập khẩu về
những thiệt hại do người xuất khẩu không thực hiện được nghĩa vụ của họ. Như
vậy, đối với L/C dự phòng, việc xuất trình chứng từ nhằm mục đích chứng minh
việc người xuất khẩu vi phạm hợp đồng thương mại và gây thiệt hại cho người
nhập khẩu để ngân hàng mở L/C dự phòng thanh toán tiền cho người nhập khẩu.
Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C)
Là loại L/C có một điều khoản đặc biệt, cho phép người thụ hưởng được
ứng trước một số tiền nhất định trong tổng số tiền của thư tín dụng đã mở để có
thể sản xuất hàng hoá và giao hàng theo quy định trong L/C. Người hưởng lợi
phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng mà họ đã nhận tiền ứng trước và phải
hoàn trả lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời gian
quy định.
13


1.2.4. Các bên tham gia quá trình thanh toán
Thành phần tham gia vào quá trình thanh toán bằng phương thức tín dụng
chứng từ bao gồm:
Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant for L/C)
Là người mua, người nhập khẩu hàng hoá. Người yêu cầu mở thư tín
dụng có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo
L/C mà họ yêu cầu mở. Họ cũng có quyền hoàn trả toàn bộ hay một phần số tiền
của L/C nếu xét thấy bộ chứng từ không phù hợp với điều kiện, điều khoản của
L/C.
Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank or Opening Bank)
Là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, phát hành thư tín dụng theo
yêu cầu của người nhập khẩu. Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm kiểm tra
bộ chứng từ do người xuất khẩu xuất trình và thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán cho một xuất trình phù hợp.
Ngân hàng thông báo (Avising bank)
Là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo thư tín dụng
cho người hưởng lợi một cách trực tiếp hoặc thông báo cho một ngân hàng khác.
Ngân hàng này có thể là chi nhánh hoặc ngân hàng đại lý cho ngân hàng phát
hành, thường ở tại nước người hưởng lợi.
Người hưởng lợi (Beneficiary)
Là người được hưởng số tiền thanh toán hoặc sở hữu hối phiếu đã có chấp
nhận thanh toán. Người hưởng lợi có thể là người xuất khẩu, người bán hay bất
cứ người nào mà người xuất khẩu chỉ định.
Ngoài các thành phần trên, tuỳ theo điều kiện cụ thể trong thực tế, có thể
có một số ngân hàng khác tham gia quá trình thanh toán:
Ngân hàng xác nhận (Confirming bank)
Là ngân hàng đứng ra nhận trách nhiệm sẽ cùng ngân hàng mở thư tín
dụng đảm bảo việc trả tiền cho người xuất khẩu khi nhận được xuất trình phù
hợp. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín.
14


Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank)
Là ngân hàng được chỉ định trong thư tín dụng để thực hiện việc thanh
toán, chiết khấu hoặc chấp nhận bộ chứng từ hợp lệ của người xuất khẩu. Tuỳ
theo nhiệm vụ được chỉ định mà ngân hàng này có thể được gọi là ngân hàng chỉ
định thanh toán (Nominated paying bank), ngân hàng chỉ định chiết khấu
(Nominated negotiating bank), hay ngân hàng chỉ định chấp nhận (Nominated
accepting bank).
1.2.5. Quy trình thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ
Nhà xuất khẩu
(Exporter)
(4) Thông báo LC
Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)

(3) Phát hành
LC

(6’) Bộ chứng từ
(7)
Xuất
trình

(6)
Trả
tiền

Ngân hàng thu hộ
(Collecting Bank)

(2) Đơn mở LC
(1) Hợp đồng
ngoại thương

Ngân hàng chuyển
chứng từ
(Remitting Bank)
(6’) Bộ chứng từ

(8) Đòi tiền
(5) Giao hàng

Nhà nhập khẩu
(Importer)

Chú thích:
(1) Hai bên ký kết hợp đồng, điều khoản áp dụng phương thức L/C.
(2) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng
phục vụ mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
15


(3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý, ngân hàng phát hành mở
L/C và thông qua ngân hàng đại lý để thông báo cho người xuất khẩu hưởng.
(4) Ngân hàng thông báo thông báo L/C bằng văn bản cho người xuất
khẩu.
(5) Căn cứ vào các nội dung, điều kiện và điều khoản của L/C, người
xuất khẩu tiến hành giao hàng.
(6), (6’) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hoá,
chứng từ thanh toán theo yêu cầu L/C gửi về ngân hàng phát hành để yêu
cầu thanh toán.
(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra kỹ các chứng từ nhận được nếu thấy
phù hợp với các điều kiện và điều khoản ghi trong L/C thì tiến hành thanh
toán cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu.
(8) Ngân hàng phát hành đòi tiền người nhập khẩu và giao bộ chứng
từ cho người nhập khẩu sau khi đã nhận tiền hoặc chấp nhận trả tiền.

16


Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
BẰNG THƯ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TRÀNG AN
2.1. Giới thiệu chung về NH ĐT&PT VN chi nhánh Tràng An
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH ĐT&PT VN chi nhánh Tràng
An
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tràng An
có trụ sở tại số 11 phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội,
được thành lập theo quyết định số 1911/QĐ-HĐQT ngày 21/10/2016.
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Tràng An là Chi nhánh
cấp 1, trực thuộc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, là đại diện
pháp nhân của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, có con dấu, có
bảng tổng kết tài sản, hạch toán phụ thuộc trong hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam.
Kể từ khi thành lập đến nay chi nhánh luôn tập trung hoàn thành tốt việc
nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong quản trị điều hành, kiện toàn bộ máy cán bộ
cấp quản lý, bố trí cán bộ chủ chốt và nhân sự cho các điểm giao dịch mới. Tạo
dựng được khung pháp lý trong quản trị điều hành thông qua các cơ chế, quy
trình hoạt động và tác nghiệp, cơ chế phân cấp ủy quyền đảm bảo được tính hiệu
quả và an toàn trong hoạt động của chi nhánh. Thực hiện rõ ràng và minh bạch
công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và phân cấp trong phần lớn các lĩnh vực
nghiệp vụ.
Sau những ngày đầu ổn định tổ chức, Ban Giám đốc chi nhánh đã bắt tay
ngay vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh tại chi nhánh. Chi
nhánh đã quan tâm đến việc nâng cao các dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng,
khẳng định được vị trí, uy tín của mình, tạo niềm tin cho khách hàng vào một
chi nhánh ngân hàng vững mạnh. Cùng với việc mở rộng mạng lưới giao dịch và
các phòng ban chuyên môn đã tạo thuận lợi cho chi nhánh trong việc phát triển
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×