Tải bản đầy đủ

Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm điển hình

Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm điển hình
a) Khí sắc trầm cảm: Vẻ mặt buồn bã, lo âu đau khổ, buồn rầu vô hạn. Khí sắc
trầm cảm thường gặp là buồn rầu uể oải, chân tay rã rời, cảm giác khó chịu, bất an,
đuối sức trước cuộc sống, luôn cảm thấy đau khổ, nét mặt ủ rũ mệt mỏi, họ thấy quá
khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một màu đen tối, ảm đạm, thê thảm, cảm thấy mình
bị thất bại, hỏng việc, bất lực, tự đánh giá bản thân thấp kém, không có khả năng, là
ngõ cụt. Các biểu hiện trầm cảm thường xuất hiện từ từ hơn là đột ngột, như bắt đầu
bằng một vài biểu hiện rầu rĩ, ủ ê trước khi bệnh nhân có thể nói về nỗi buồn của
mình.
Thường có phản ứng quá mức với những vấn đề không quan trọng, những sự
việc, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày thường là nhỏ nhặt không đáng kể
nhưng lại được bệnh nhân nghiền ngẫm, suy nghĩ và lo lắng, người bệnh trở nên
quá sợ sệt, rụt rè, nghi ngờ, không quyết đoán, mất nghị lực,vô cảm, mất năng
lượng, tất cả bị sụp đổ và chỉ là bất hạnh
Do sự thích ứng của cảm xúc kém cho nên bệnh nhân không có khả năng đáp
ứng với những kích thích của môi trưỡng xung quanh như: Không có khả năng cảm
nhận được những sự việc vui vẻ, những sự việc buồn cũng không làm bệnh nhân
khó chịu hơn. Không có khả năng chứng minh được sự mong muốn, hài lòng, làm
việc chóng mệt mỏi, không cảm thấy niềm vui và hạnh phúc, buồn rầu, bi quan, cho
là bạc mệnh. Tất cả những mặc cảm này cùng với hiện tại bị bao phủ bởi nỗi buồn
không giải thích được, một sự đau khổ vô biên có thể dẫn tới hội chứng Cotard và

có nguy cơ tự sát. Không có gì có thể so sánh được với nỗi đau trầm cảm khi nỗi
đau này lại xuất hiện đột ngột từ sự thất vọng.
Dù là nguyên nhân nào thì trầm cảm cũng thường biểu hiện: mất hứng thú, không
quan tâm tới những sở thích, không quan tâm đến cuộc sống, mất sự thanh thản, có
tới 60% trầm cảm có ý định tự sát và 15% có hành vi tự sát .
b) Tư duy bị ức chế: Quá trình liên tưởng chậm chạp, khó chuyển chủ đề, hồi ức
xuất hiện khó khăn, dòng tư duy bị ngừng trệ, khó diễn đạt ý nghĩ của mình thành
lời nói, ít hoặc không nói. Cảm giác xấu hổ, không xứng đáng, các ý nghĩ tự ti, hèn
kém, không bằng bạn bè. Cho là mình không có khả năng suy nghĩ. Khi bệnh nặng
hơn sẽ cho là mình có phẩm chất xấu, phạm nhiều tội lỗi, ý nghĩ bị thiệt hại, hoặc
bị truy hại hoặc có thể xuất hiện hoang tưởng: tự buộc tội, bị tội ( hoang tưởng điển
hình của trầm cảm ), nghi bệnh, bị hại, bị xâm nhập... Có thể có hoang tưởng phủ
định, cho là mình sẽ bị đày ở địa ngục. Sự bi quan trầm cảm thường có những ý
nghĩ không thể chữa khỏi được và có thể dẫn tới tự sát.. ảo giác thường gặp là ảo
thanh ra lệnh, hoặc ảo khứu (ngửi thấy mùi rất khó chịu, hôi thối, hôi tanh (ảo giác
điển hình của trầm cảm).
c) Hành vi bị ức chế: Chậm chạp tâm thần vận động đi từ giảm nhiệt tình, giảm
niềm tin trong cuộc sống. Luôn phàn nàn mất nghị lực, cảm thấy nhanh chóng bị
kiệt sức khi làm một việc gì đó, cảm thấy mệt nhọc, đuối sức thường tăng vào buổi
sáng. Giảm nhiệt tình, mất dần các sở thích trước kia.


Bệnh nhân ngồi hàng giờ, ít đi lại hoặc nằm im một chỗ ở những nơi yên tĩnh,
kín đáo, không muốn tiếp xúc với ai. Trên cơ sở hoạt động bị ức chế có thể xuất
hiện cơn buồn sâu sắc, thất vọng nặng nề và đột ngột la hét, thổn thức, cầu xin,
khóc lóc thảm thiết, cũng có thể đột nhiên tự sát hoặc tấn công người khác (trạng
thái kích động trầm cảm).
d) Triệu chứng cơ thể : Bệnh thường nặng vào buổi sáng.
* Giảm trọng lượng: đôi khi nặng nề, có thể mất tới 10 kg trong một vài tuần có
liên quan trực tiếp đến chán ăn, ăn không thấy ngon, khi nặng có thể sẽ từ chối ăn
* Rối loạn giấc ngủ: thường gặp là mất ngủ, khó ngủ lại, thức dậy trong đêm
thường gặp do ác mộng, thức dậy sớm.
* Rối loạn tình dục: 7% dân số nam có rối loạn về sự cương cứng, thậm chí liệt
dương, 30% nữ ( từ 18-29 tuổi) thậm chí lãnh đạm.
* Rối loạn kinh nguyệt: Nhiều người bệnh có rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh
e) Hành vi tự sát và các rối loạn hành vi khác: Có tới 80% bệnh nhân trầm cảm có
ý định tự sát do vậy cần hết sức chú ý và theo dõi họ để kịp thời phát hiện hành vi
của họ.
Tự sát có thể là một suy nghĩ chín chắn được chuẩn bị cẩn thận hoặc một xung
động tự sát. Đôi khi trầm cảm kín đáo mà chúng ta khó nhận thấy được đã dẫn


bệnh nhân đến với hành vi tự sát. Từ chối ăn, một số có hành vi tự huỷ hoại thân
thể thường là sự che đậy cho hành vi tự sát.
f) Rối loạn nhận thức: Giảm tập trung chú ý. Người trầm cảm thường có nhận
thức sai lầm cho là không chữa khỏi, cho là hèn kém nên thường dẫn đến tự ti mặc
cảm hoặc cảm thấy ân hận tội lỗi, những chi tiết không quan trọng nhưng lại mang
đến cho người bệnh một cảm giác nặng nề, và đánh giá quá mức khiến họ cảm
thấy như bị trù đập, bị ghét bỏ...
g) Các biểu hiện lo âu : Lo âu có thể gặp tới 85 % ở bệnh nhân trầm cảm, biểu
hiện là:
Lo âu về mặt cơ thể: cảm tưởng như họng bị khít chặt, khó nuốt, đau rát lưỡi,
đau đầu, cảm thấy nóng hay lạnh, trống ngực, mồ hôi, nôn, ỉa chảy, khó ngủ vì
nghiền ngẫm lo âu, thức giấc trong đêm do ác mộng.
- Những rối loạn sinh dục tiết niệu: cảm giác nóng khi đi tiểu, đau tầng sinh môn,
mất kinh hoặc loạn kinh.
- Những rối loạn tiêu hoá: ỉa chảy, táo bón dai dẳng, chán ăn, nôn, buồn nôn, đầy
hơi.
- Các rối loạn tim mạch, hồi hộp trống ngực, mạch nhanh, đau vùng trước tim, khó
thở.
2


- Các rối loạn cảm giác bản thể: Co quắp, run cơ, đau đầu, chóng mặt, dị cảm.

3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×