Tải bản đầy đủ

Đánh giá kết quả diệt mối bằng phương pháp diệt mối lây nhiễm tại khu bảo tồn thiên nhiên phja oắc – phja đén huyện nguyên bình tỉnh cao bằng

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

SẦM THỊ HOÀI THƯ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DIỆT MỐI BẰNG PHƯƠNG PHÁP DIỆT
MỐI LÂY NHIỄM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHJA OẮC –
PHJA ĐÉN, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Nông lâm Kết hợp
Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học


: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

SẦM THỊ HOÀI THƯ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DIỆT MỐI BẰNG PHƯƠNG PHÁP DIỆT
MỐI LÂY NHIỄM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHJA OẮC
PHJA ĐÉN, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Nông lâm Kết hợp

Lớp

: K46 NLKH

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Việt Hưng

Thái Nguyên, năm 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là
trung thực. Giáo viên hướng dẫn đã trực tiếp hướng dẫn làm thí nghiệm và
trình bày khoá luận.
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2018

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên

Ths. Nguyễn Việt Hưng

Sầm Thị Hoài Thư

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN


ii

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành là quá trình học tập nghiên cứu và
tích lũy kinh nghiệm của bản thân. Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, còn có sự giảng dạy tận tình của các thầy cô giáo trong môi
trường đại học.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo khoa Lâm
nghiệp và trường đại học Nông lâm Thái Nguyên cũng như đại học Thái
Nguyên đã tạo mọi thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này.
Để được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng
sâu sắc tới Ths.Nguyễn Việt Hưng – Thầy đã hết sức nhiệt tình hướng dẫn
tôi làm đề tài và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Khóa luận thành công, không thể không nhắc đến sự giúp đỡ của lãnh
đạo khu bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc - Phja Đén đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi thu thập số liệu và hoạt động nghiên cứu tại địa bàn...
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời
gian thực tập và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế. Vì vậy bản khóa luận này
không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý
chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn để khóa luận tốt nghiệp
của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên

Sầm Thị Hoài Thư


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề .................................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ....................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 4
2.1.1. Đặc điểm sinh học của mối ..................................................................... 5
2.1.2. Mối phá hoại rừng ................................................................................. 15
2.2. Tình hình các nghiên cứu trong nước và ngoài nước .............................. 17
2.2.1. Nghiên cứu ở trong nước ...................................................................... 17
2.2.2. Nghiên cứu ngoài nước ......................................................................... 17
2.3. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu ................ 21
2.3.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 21
2.3.2. Đặc điểm địa hình địa mạo ................................................................... 22
2.3.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn .................................................................. 22
2.3.4. Đặc điểm hệ động thực vật ................................................................... 24
2.3.5. Dân số, dân tộc và phân bố dân cư ....................................................... 26
2.3.6. Kinh tế ................................................................................................... 26
2.3.7. Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương........ 27


iv

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 29
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 29
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài ........................................................... 29
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................... 29
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 31
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 31
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 31
3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu ................................................................. 31
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa......................................................... 31
PHẦN 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC .............................................. 34
4.1. Thực trạng mối hại gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc - Phja Đén ... 34
4.1.1. Điều tra, khảo sát mức độ mối hại rừng đợt I (02/2018) ...................... 35
4.1.2. Điều tra, khảo sát mức độ mối hại rừng đợt II (03/2018) ..................... 36
4.1.3. Điều tra, khảo sát mức độ mối hại rừng đợt III (04/2018) ................... 37
4.2. Đánh giá hiệu quả của chế phẩm diệt mối bằng phương pháp diệt mối lây
nhiễm ............................................................................................................... 39
4.2.1. Quy trình điều tra khảo sát mối............................................................. 39
4.2.2. Kết quả thử nghiệm của chế phẩm diệt mối bằng phương pháp diệt mối
lây nhiễm ......................................................................................................... 43
PHẦN 5 KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 48
5.1. Kết luận .................................................................................................... 48
5.2. Kiến Nghị ................................................................................................. 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 50


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Điều tra mức độ hại do mối ở rừng đợt I (02/2018) ....................... 35
Bảng 4.2: Điều tra mức độ hại do mối ở rừng đợt II (03/2018) ..................... 36
Bảng 4.3: Điều tra mức độ hại do mối ở rừng đợt III (04/2018) .................... 37
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp mức độ mối hại qua 3 đợt khảo sát ........................ 38
Bảng 4.5: Bảng kết quả thử nghiệm của chế phẩm diệt mối bằng phương
pháp diệt mối lây nhiễm.................................................................. 44


vi

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Mối vua mối chúa ............................................................................. 8
Hình 2.2. Mối cánh............................................................................................ 9
Hình 2.3. Mối lính ............................................................................................. 9
Hình 2.4. Mối thợ ............................................................................................ 10
Hình 4.1. Hình ảnh ụ mối và cây bị mối phá hoại trong OTC tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Phja Oắc - Phja........................................................... 35
Hình 4.2. Biểu đồ mức độ hại do mối ở rừng qua 3 đợt điều tra khảo sát...... 38
Hình 4.3. Lập OTC khảo sát mối .................................................................... 39
Hình 4.4. Đặt hộp nhử mối.............................................................................. 40
Hình 4.5. Kiểm tra hộp nhử mối ..................................................................... 41
Hình 4.6. Rắc chế phẩm diệt mối .................................................................... 43
Hình 4.7. Tổ mối sau khi bị tiêu diệt .............................................................. 47


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bộ mối (Isoptera) hay còn gọi là bộ cánh đều thuộc lớp côn trùng
(Isecta) là nhóm côn trùng đa hình thái; trong các cá thể của một đàn có sự
phân chia đẳng cấp và phân công chức năng rõ rệt, hiện biết có 2.858 loài, đại
bộ phận phân bố ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới. Chúng sống dạng tập đoàn
có tổ chức cao (Vũ Quang Mạnh và cs, 1993) [5].
Côn trùng bộ cánh đều có các đặc điểm như có hai cánh mỏng, cấu tạo
hai cánh giống nhau và kích thước gần bằng nhau. Cánh mối chỉ có ở các cá
thể sinh sản trước khi giao hoan, sau giao hoan đôi cánh đó rụng mất. Còn
các cá thể ở các đẳng cấp khác như mối lính, mối thợ đều không có cánh.
Cơ quan miệng của chúng có dạng kiểu nghiền (Vũ Quang Mạnh và cs,
1993) [5].
Sâu bọ thuộc bộ cánh đều phát triển theo kiểu biến thái không hoàn
toàn. Trong tổ mối xuất hiện các đẳng cấp khác nhau bao gồm mối vua,
mối chúa, mối lính, mối thợ, mối cánh. Tuy nhiên trong đặc điểm phân loại
hình thái của mối người ta xác định hình thái phân loại của mối lính. Mối
lính có hàm với hệ thống răng phức tạp, có mắt đơn và tấm lưng ngực
trước chỉ có một thuỳ, túi tinh chúng còn số lượng nhiều và phân nhánh,
chưa có sự phân hoá cao, sự phân công chưa rõ rệt. Trong tự nhiên, mối
tham gia vào các quá trình phân huỷ các chất hữu cơ có nguồn gốc xenlulo
để tạo thành các đường và các hợp chất đơn giản trong chu trình chuyển
hoá vật chất, chúng được ví như đội quân làm vệ sinh khổng lồ trong các
khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới ẩm chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp, nhưng những năm gần đây


2

hiệu quả sản xuất nông nghiệp bị giảm sút mà nguyên nhân chủ yếu là do
côn trùng có hại gây ra (Lê Văn Nông, 1999) [6].
Mối được xếp vào một trong những loại gây hại mạnh nhất, chúng làm
phá huỷ các kho tang bến bãi, cây trồng chính….ở các tỉnh phía Nam, nhiều
nơi như Tây Nguyên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị…Các công trình thuỷ
lợi và thuỷ điện đang xây dựng ngày càng nhiều. Ở những nơi đó giống mối
microtermes rất nguy hiểm. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhiều công trình xậy dựng công nghiêp, công trình thể thao xây dựng
ngày càng nhiều; những dự án phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế
lớn đang xúc tiến mạnh mẽ trong đó các loại mối có sức gây hại rất lớn đến
các công trình. Ngoài ra mối còn là loài côn trùng gây hại chính cho rừng ở
nước ta hiện nay.
Để chất lượng các công trình ngày một tốt hơn, con người đã tích cực
tìm kiếm các biện pháp phòng chống mối khác nhau. Trong đó, có biện pháp
sử dụng thuốc trừ sâu hóa học chúng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ các sản phẩm làm từ gỗ, các công trình công nghiệp, dự án cây lâm nghiệp.
Tuy nhiên các biện pháp hóa học ngày càng bộc lộ nhiều khuyết điểm như: ô
nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, con người bị ngộ độc. Do đó, các
nhà khoa học đã đưa ra các biện pháp phòng trừ mối bằng các biện pháp kiểm
soát sinh học: nghiên cứu sử dụng nấm, vi khuẩn, virus…các hợp chất có
nguồn gốc tự nhiên có khả năng phòng trừ mối hiệu quả an toàn.
Hiện nay, diệt mối có rất nhiều phương pháp như: Phương pháp thủ công
được lưu truyền trong dân gian (sử dụng xu quang để bẫy bắt mối giống chia
đàn, phương pháp đào và tiêu diệt mối vua, mối chúa) phương pháp bão hòa,
phương pháp hóa sinh, phương pháp phun…v.v. Trong đó mối hại gỗ rừng rất
phù hợp với phương pháp diệt mối lây nhiễm.


3

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
kết quả diệt mối bằng phương pháp diệt mối lây nhiễm tại khu bảo tồn
thiên nhiên Phja Oắc – Phja Đén, Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng phát triển của mối tại khu bảo tồn thiên nhiên
Phja Oắc – Phja Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Đánh giá được kết quả của chế phẩm diệt mối trong quy trình diệt mối
bằng phương pháp lây nhiễm tại khu bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc – Phja
Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học: Thu thập được
kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, học được cách xử lý số liệu, củng cố lý
thuyết đã học và biết cách thực hiện một đề tài và là tài liệu tham khảo cho
các nhà khoa học khác trong công tác phòng trừ mối gây hại cây rừng. Đề tài
là cơ sở khoa học quan trọng trong công tác phòng trừ mối gây hại cây rừng
và bảo quản bằng chế phẩm diệt mối nói riêng. Giúp tôi học tập được phương
pháp nghiên cứu khoa học, phát huy tốt tinh thần độc lập sáng tạo trong học
tập và nghiên cứu khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Ý nghĩa trong thực tế sản xuất: làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng
chế phẩm vào thực tiễn sản xuất góp phần nâng cao khả năng diệt mốt bằng
phương pháp diệt mối lây nhiễm để khắc phục các hậu quả do mối gây ra để
giảm thiểu tiệt hại cho người dân.
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho các địa phương và Ban quản lý Khu
bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc – Phja Đén trong công tác phòng trừ mối.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và vi sinh vật chung
sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi và gắn kết với
nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tiêu cực hay tích cực vào một
thành phần hay yếu tố nào đó có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng tới cả hệ
sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con người với những tác
động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi, dùng thuốc trừ sâu…không những
gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến khả
năng xuất hiện và phát dịch của bệnh hại.
Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao,
không có vi sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân
bằng. Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện sâu bệnh hại rừng tự nhiên thuần loài
và cũng có trường hợp phải can thiệp để giảm thiểu ảnh hưởng của sâu bệnh
hại. Mặc dù vậy, việc diệt trừ sâu bệnh hại rừng ở đây là ít có ý nghĩa.
Đối với hệ sinh thái rừng trồng tính ổn định và bền vững kém. Vì vậy,
rất dễ bị tổn thương khi bị các tác động bất lợi, do đó việc phòng trừ sâu
bệnh hại là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng
như tồn tại của cây rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006) [2].
Mối là nhóm côn trùng có “tính xã hội” cao, sinh sản, phát triển mạnh.
Chúng hợp thành các vương quốc sớm nhất. Đôi khi người ta gọi mối là
“kiến trắng” nhưng thực tế chúng chẳng có họ hàng gì với kiến (thậm chí
chúng còn tấn công lẫn nhau), chúng chỉ có quan hệ: đều là côn trùng. Mối
được phân loại như bộ cánh đều (danh pháp khoa học: Isoptera), tuy nhiên
dựa trên chứng cứ AND, người ta thấy có sự cho một giả thuyết gần 120 năm


5

trước, nguyên thuỷ dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần
gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Cryptocercur). Điều này đã dẫn tới việc
một số tác giả đề xuất mối được phân loại như là họ duy nhất, gọi là
Termitidae, trong phạm vi bộ Blattodea, một bộ chứa các loài gián. Tuy
nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi
mối vẫn có tên khoa học là Isoptera, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong
gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các loài mối.
Trên thế giới người ta đã giám định trên 2700 loài mối, các loài có đặc
điểm khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ chìm dưới đất, có loài làm tổ
trên mặt đất, có loài làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên
ăn gỗ khô, có loài chuyên ăn gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp mui,
có loài không đắp mui khi đi kiếm ăn.
Ở Việt Nam phát hiện ra 106 loài mối. Trong đó có một số nhóm gây
hại thường gặp là các giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes,
Microtermes, Hypotermes, Cryptotermes. Giữa các loài chỉ khác nhau về
hình thái, số lượng cá thể, cấu trúc…song chúng đều sống trong quần thể
(Lê Văn Nông và cs) [7].
Mối là loài côn trùng gây hại nặng cho các công trình làm từ gỗ, bên
cạnh đó chúng còn gây hại cho kể cả những cây gỗ còn tươi ở rừng trồng.
Trong rừng tư nhiên, mối làm nhiệm vụ phân hủy cành khô, lá rụng, nó đóng
vai trò sinh vật có lợi.
2.1.1. Đặc điểm sinh học của mối
2.1.1.1 Tổ mối
Mỗi loài mối đều có cấu tạo tổ khác nhau. Mối thường làm tổ trong
thân cây, gốc cây hay làm tổ trong đất. Tổ mối có loài đơn giản chỉ là những
khe rỗng ở trong gỗ hay những tập đoàn nhỏ trong đất, có loài cấu tạo hết sức
phức tạp.


6

Tổ mối được mối thợ làm từ đất trộn với nước bọt và phân. Tổ mối
được bao bọc bởi một lớp tường bên ngoài rất cứng. Giữa những bức tường
này bố trí các đường dẫn cho phép không khí có thể lưu thông được.
Cấu tạo tổ mối từ trên xuống :
- Phía trên cùng là một lớp rắn chắc dày từ 30 - 60cm, trong lớp này có
nhiều khoang thông khí đường giao thông và vườn cây nấm, lớp này có chức
năng che mưa che nắng cho tổ.
- Ở giữa là trung tâm của tổ, khoang này rộng hình quả lê. Phía trên là
những cột đất giống như thạch nhũ, phía dưới là những lớp đất giống như
thạch nhũ, sâu hơn nữa là những lớp đất mỏng xếp chồng lên nhau tạo thành
những buồng ngăn để điều hòa tiểu khí hậu trong tổ và mối thợ đi lại.
- Ở gần đáy tổ có một khối đất mịn trong rỗng có vách dày cỡ 1cm đó
là nơi mối chúa và mối vua ở.
- Trong tổ mối còn có phòng chứa cỏ rác và những khoang bằng phẳng
là nơi để mối con đến nhận thức ăn do mối thợ mang đến.
- Ngoài tổ chính một số loại mối còn có tổ phụ, khi gặp điều kiện bất
lợi mối thường di chuyển từ tổ chính đến tổ phụ ở. Tổ mối có tác dụng vừa
bảo vệ vừa điều hòa khí hậu đảm bảo cuộc sống thích hợp cho mối.
Hoàng cung của tổ mối là một khối đất mịn, rắn chắc hình bầu dục,
thường nằm lệch về một bên trong khoang trung tâm. Trên bề mặt và trên
thành hoàng cung có các cửa ra vào, có mối lính làm nhiệm vụ canh gác.
Chiều rộng của hoàng cung dao động trong khoảng từ 6 - 15cm. Trong hoàng
cung có mối chúa và mối vua nằm trên nền đáy đất phẳng của hoàng cung.
Sống trong hoàng cung thường chỉ có mối vua và mối chúa nhưng khi giải
phẫu tổ, cũng bắt gặp một vua hai chúa hoặc không có mối vua mối chúa (có
thể đã di chuyển, thay đổi tổ chính trong quá trình tăng trưởng, kích thước
hoàng cung cũ không còn thích hợp cho mối chúa).


7

2.1.1.2. Thức ăn của mối
Nguồn thức ăn của mối chủ yếu là các sản phẩm thực vật, trong đó
thành phần quan trọng nhất là chất xơ (xenlulô). Chúng còn ăn nấm được
trong tổ, có khi chúng ăn cả da của đồng loại lột xác, thi thể của đồng loại
trong một tổ mối. Vì vậy, đối tượng bị mối gây hại rất đa dạng.
- Thực vật sống: Nhiều loài mối lấy thức ăn từ cây sống, vào mùa khô
hạn cây sống cung cấp nước cho mối, đặc biệt các lá cây non ở một số cây
như: bạch đàn, sắn, keo, chè,….
- Thực vật khô: Ruột của loài mối nhà tiêu hóa được chất xơ nên ngoài
gỗ, tre, nứa, tất cả các sản phẩm chế biến từ thực vật như giấy, vải,…đều bị
chúng phá hại. Trên đường tìm nguồn thức ăn mối có thể đục qua nhiều loại
vật liệu khác nhau như tường xây, cao su, xốp, gỗ, đồng thời mang theo đất và
độ ẩm làm máy móc thiết bị hư hỏng. Các loại mối khác nhau thường ăn chất
xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau. Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng và gỗ
bồ đề còn nguyên vẹn, còn một số khác lại thích ăn những loại gỗ hơi mục
(Nguyễn Thị Tuyên, 2011) [16].
2.1.1.3. Hình thái và chức năng của các dạng mối
Mối là loại côn trùng có kích thước thân thể nhỏ, mềm, râu đầu hình
chuỗi hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt, lông đuôi ngắn.
Trong một tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các
thành phần: mối vua, mối chúa, mối giống, mối lính và mối thợ. Mỗi thành
phần lại có các đặc điểm hình thái và đảm nhận các chức năng khác nhau.
- Mối vua, mối chúa
Trong tổ cũng chỉ có 1 mối vua, cá biệt có 2 - 3 mối vua. Mối vua làm
nhiệm vụ thụ tinh cho mối chúa. Nó cũng được mối thợ chăm sóc chu đáo
nhưng hình thái không biến đổi mà giống như mối cánh đực bình thường
(Phạm Ngọc Anh, 1967) [1].


8

Mỗi tổ mối chỉ có một mối chúa, cá biệt có 2 - 3 mối chúa. Mối chúa
làm nhiệm vụ sinh sản, giao phối với mối vua để duy trì nòi giống. Do được
chăm sóc chu đáo nên hình thái của nó biến đổi nhiều, bụng có thể lớn gấp
250 - 300 lần đầu. Mỗi ngày mối chúa có thể đẻ hàng triệu trứng một ngày
đêm (Trần Công Loanh và cs, 1997) [4].
Trứng mối có màu trắng, chiều dài từ 0,4 - 2mm, tùy từng loại mối mà
trứng có hình dạng khác nhau.

Hình 2.1. Mối vua mối chúa

- Mối giống
Mối giống gồm hai loại: mối giống có cánh và mối giống không cánh (Trần
Công Loanh và cs, 1997) [4].
+ Mối giống có cánh: Đây là thành phần chiếm số lượng đông trong
quần thể. Hình thái ít biến đổi có hai đôi cánh màng dài bằng nhau, lưng của
chúng có màu nâu đen và bụng có màu trắng đục. Đây là đối tượng chia đàn
và phát triển nòi giống.
+ Mối giống không có cánh: Loại này thì chiếm số lượng ít trong quần
thể. Chức năng của chúng là các mối vua, mối chúa bổ sung đề phòng trong
trường hợp mối vua hoặc mối chúa bị chết thì chúng sẽ được bồi dưỡng đặc
biệt để thay thế.


9

Hình 2.2. Mối cánh

- Mối lính
Mối lính phân hóa từ mối thợ. Mối lính có bộ phận đầu và hàm răng
phát triển. Đầu có màu nâu hồng có hạch độc, mỗi khi chiến đấu tiết ra chất
sữa màu trắng có tính axit. Chức năng chủ yếu của mối lính là canh gác và tấn
công, canh phòng, báo động, trinh sát bảo vệ mối lao động đi kiếm ăn. Khi
gặp tiếng động lạ bất thường mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời cũng
báo động cho quần thể trong đàn. Chính vì thế, hình dạng mối lính có nhiều
biến đổi: đầu to, chân dài gần bằng ½ cơ thể.

Hình 2.3. Mối lính


10

- Mối thợ
Mối thợ có màu trắng sữa không đồng đều từ đầu đến bụng, cơ thể nhỏ,
các chi phát triển. Mối thợ chiếm 85% số cá thể trong đàn, mối thợ làm rất
nhiều nhiệm vụ: xây đắp, đắp đường mui, vận chuyển nước, thức ăn, chăm
sóc mối vua, mối chúa, mối lính, mối non...do vậy chúng chiếm số lượng
nhiều nhất trong tổ mối. Cơ quan sinh dục của mối thợ không phát triển. Về
hình thái, mối thợ gần giống mối con, miệng gặm nhai hướng xuống dưới
(Trần Công Loanh và cs, 1997) [4].

Hình 2.4. Mối thợ

2.1.1.4. Sự chia đàn và hình thành tổ mối
Mối thường chia đàn vào tháng 3 đến tháng 8 nhưng mạnh nhất vào
khoảng thời gian từ tháng 4, 5, 6. Mối thường chia đàn vào thời gian khoảng
từ 16 - 22h, đặc biệt vào những ngày trời mưa giông. Khi bay ra khỏi tổ
chúng bay theo hướng gió, bay cao và có tính hướng quang rất mạnh. Sau đó
mối giống có cánh cái phát ra tín hiệu dụ mối giống đực, mối giống đực bay
đến dùng râu môi cọ vào lưng. Mối cái nhận được tín hiệu mối giống cái rụng
cánh, mối giống đực rụng cánh, chúng cắn đuôi nhau đi tìm xây tổ mới (Trần
Công Loanh và cs, 1997) [4].


11

Sự phân chia đàn và hình thành tổ mới của mối có thể xảy ra hai tình huống.
• Tình huống thứ nhất
Mối cánh bay ra khỏi tổ để đi tìm một lãnh địa mới. Hàng năm cứ vào
mùa mưa (lúc giao thời hoặc chiều tối) ta thấy mối cánh ở đâu đó bay ra hàng
đàn với số lượng rất lớn, chúng tìm những chỗ có ánh sáng bay lượn cho đến
khi rụng cánh. Sau 10 - 15 phút bay thì rụng cánh, một con đực tìm một con
cái, cắn đuôi, con cái sẽ dẫn đi tìm nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch
và tìm được các vết nứt do lún hoặc một điểm thích hợp chúng sẽ tạo ra một
tổ mới. Mối cái bắt đầu đẻ một số ít trứng sau đó trứng nở thành mối con (mối
thợ, mối lính, mối dự bị, mối cánh) và từ đó trật tự trong tổ mối được hình
thành. Mối cái sau này trở thành mối chúa và mối đực trở thành mối vua. Ở
giai đoạn ban đầu chúng phải chăm sóc và lo cho lũ con ăn, nhưng sau đó một
thời gian công việc này sẽ do mối thợ hoặc mối non lớn đảm nhiệm, một đôi
mối rụng cánh lập tổ, mới đầu chỉ đẻ 10 - 20 trứng/ngày, nhưng vài năm sau
con số này có thể là 1000 trứng /ngày hoặc hơn thế.
• Tình huống thứ 2
Trong quá trình sinh sống, mối thường có xây sẵn một số tổ phụ. Khi
mà tổ mối đủ lớn, số thành viên đông quá thì trong số các thành viên đó có
mối hậu bị cùng một số mối lính và mối thợ phát triển một trong các tổ phụ để
thành tổ chính, mối hậu bị lúc này trở thành mối vua và mối chúa (tổ có mối
vua và mối chúa nằm trong đó). Hoặc tại các tổ phụ nơi mối thợ đưa trứng
vào chăm sóc, một vài trứng được mối chúa ấn định làm mối vua va mối chúa
mới. Tình huống này loài mối gỗ ẩm thực hiện nhiều nhất, vì thế tốc độ phát
tán của loài mối gỗ ẩm rất lớn.


12

2.1.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
Mối thường xâm nhập vào công trình theo ba cách thức cơ bản sau:
+ Xâm nhập từ dưới đất lên và các vùng lân cận vào công trình đây là
cách xâm phổ biến nhất và hay gặp nhất. Theo cách thức này, mối sẽ từ các tổ
có sẵn trong đất nền công trình hoặc các từ các khu vực lân cận xâm nhập vào
công trình thông qua các hệ thống đường đất liên tục nối từ tổ mối đến nơi có
nguồn thức ăn.
+ Xâm nhập bằng “đường không”: Khi mối trưởng thành (khoảng 3 - 4
năm tuổi), chúng mọc cánh và bay ra ngoài tổ (còn gọi là hiện tượng vũ hóa thường xuất hiện khi trời sắp mưa hoặc giông). Sau khi rụng cánh, một trong
số cặp mối đó sẽ kết thành đôi và chui vào những nơi kín đáo như khuôn, khe
cửa, khu vực ẩm thấp,…ở trên các tầng để thiết lập tổ mối mới.
+ Xâm nhập qua đường lây nhiễm: Mối xâm nhập vào các công trình
qua việc vận chuyển các đồ dùng đã bị nhiễm mối như: bàn, ghế, giường, tủ,
khung cửa,… từ công trình này sang công trình khác.
2.1.1.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối
Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới mối bao gồm các yếu tố chủ yếu
như: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng và gió, thổ nhưỡng (đất), thức ăn
(thực vật), thiên địch.
+ Nhiệt độ:
Sự trao đổi nhiệt được coi là quá trình năng lượng chủ yếu và trước tiên
trong quan hệ giữa cơ thể và môi trường. Vì mối là động vật có thân nhiệt
không ổn định nên mọi thay đổi của nhiệt độ môi trường sống dù có cao hay
thấp cũng đều làm cho nhiệt độ cơ thể mối bị biến đổi. Nhiệt độ thích hợp
nhất cho loài mối hoạt động là từ 20 - 300C. Khi nhiệt độ môi trường quá cao
(>350C) hoặc quá thấp (<100C) thì hoạt động sống của mối giảm dần và rơi
vào vào tình trạng choáng váng rồi hôn mê vì nóng hoặc lạnh nếu nhiệt độ


13

tiếp tục giảm hoặc tăng thì mối sẽ chết (Phạm Bình Quyền, 2006), (Đặng Kim
Tuyến, 2008) [10] [15].
+ Độ ẩm và nước
Trong cơ thể mối có chứa một lượng nước rất lớn. Thiếu nước mối
không thể sống được vì tất cả các quá trình trao đổi chất dinh dưỡng, hô hấp,
bài tiết của mối đều cần có sự tham gia của nước. Chính vì vậy, mối thường
ưa sống ở những nơi ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất cho mối hoạt động từ 80 90%. Nếu độ ẩm quá cao hay quá thấp thì mối sẽ chết.
Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối
vì độ ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của thực vật nguồn thức ăn
chính của mối. Đối với mối cánh thì trời mưa chính là cơ hội để chúng bay ra
ngoài để kết đôi xây dựng tổ mới vì khi đó các loài thiên địch ít hoạt động.
Nếu trời mưa to thì sẽ gây lụt ổ và phá hoại ổ(Phạm Bình Quyền, 2006),
(Đặng Kim Tuyến, 2008) [10] [15].
+ Ánh sáng:
Mối là loài nhạy cảm với ánh sáng khi đi kiếm ăn chúng thường đắp đường
mui để di chuyển. Bức xạ mặt trời là một trong những nguyên nhân chủ yếu sinh
ra nhiệt trong khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và quá trình sinh lý hóa xảy ra
trong cơ thể mối. Ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác như:
nhiệt độ, độ ẩm, sự phân bố của động thực vật...gây ảnh hưởng gián tiếp đến mối.
Mối rất mẫn cảm với ánh sáng, chúng là loại côn trùng ưa sống ở những nơi có
cường độ ánh sáng yếu. Mối cánh vào ban đêm thường bay đến những nơi có ánh
sáng bóng điện để kết đôi xây dựng tổ mới.
+ Gió
Gió ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt độ và độ
ẩm của không khí và đất.


14

Ngoài ra đối với các loài mối làm tổ trong thân cây gỗ khô thì gió to có
thể làm đổ cây phá hoại tổ của mối.
+ Đất
Đất là hoàn cảnh sống trực tiếp của mối và hầu như không ra khỏi đất,
chỉ có mối cánh mới bay ra khỏi tổ để kết đôi. Đất ảnh hưởng đến mối thông
qua các yếu tố sau: độ ẩm của đất (ảnh hưởng khả năng hoạt động của mối,
đến kết cấu tổ mối, độ sâu của tổ...), nhiệt độ của đất (ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng hoạt động của mối, ngoài ra nhiệt độ đất còn ảnh hưởng gián
tiếp đến mối thông qua làm biến đổi thành phần cơ giới đất, độ ẩm đất, thực
vật che phủ...), lớp thảm mục rừng (nguồn thức ăn chính và nơi cư trú của
mối và ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt độ và độ
ẩm của đất), tính chất lý hóa của đất (môi trường sống ở nơi có đất thịt trung
bình và độ pH trung bình) (Phạm Bình Quyền, 2006), (Đặng Kim Tuyến,
2008) [10] [15].
+ Thức ăn
Thức ăn được coi là nhân tố sinh thái quan trọng nhất trong các yếu tố
sinh học, thức ăn cần cho mối phát phát triển, bù đắp lại năng lượng mất đi
trong hoạt động sống hằng ngày và hình thành các sản phẩm sinh dục sau này.
Thức ăn chủ yếu của mối là tre nứa và gỗ vì thế mối phân bố chủ yếu ở trong
rừng. Sự phân bố của thực vật ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố và phát triển
của các loài mối. Để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cả đàn mối đi
kiếm ăn cả ngày lẫn đêm, cường độ hoạt động mùa hè cao hơn mùa đông, ban
đêm mạnh hơn ban ngày. Ngoài thức ăn chính là gỗ, tre nứa thì mối tự cấy
nấm để cung cấp đạm và vitamin, nấm cũng chứa hàm lượng protein rất cao.
+ Thiên địch
Các loại tiên địch chủ yếu của mối như: chim, thú ăn mối, kiến bọ
ngựa... chúng gây hại trực tiếp đến mối nên làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn


15

phát triển và phân bố của mối. Ngoài ra mối cũng bị nhiều loài sinh vật khác
kí sinh như tuyến trùng, vi khuẩn, nấm làm cho tổ mối bị diệt. Chính vì vậy
mối thường tìm những nơi an toàn ít thiên địch nhất để làm tổ (Phạm Bình
Quyền, 2006), (Đặng Kim Tuyến, 2008) [10] [15].
+ Các chất hóa học
Mối là loài nhạy cảm với các chất hóa học. Với các chất hóa học độc
hại thì chúng đắp đường để vượt qua, với đường khi đánh hơi được chúng lập
tức tấn công.
2.1.2. Mối phá hoại rừng
- Mối là một trong những côn trùng gây hại nguy hiểm nhất ở rừng,
sống theo xã hội với những đẳng cấp khác nhau như mối thợ, mối lính, mối
chúa, mối vua và mối giống. Những tổn thất kinh tế do mối gây ra trong vườn
ươm và rừng là rất lớn. Bạch đàn là loài cây bị mối gây hại rất nặng. Ngoài ra
thông, phi lao và một số cây trồng khác cũng bị mối xâm nhập phá hại.
Hiện tượng và tác hại:
- Mối ăn tạo nên những đường hầm xung quanh thân, làm mất vỏ cây
làm giảm phẩm chất và chất lượng gỗ.
- Phá hại cắn rễ và gốc thân ở dưới đất làm cho cây chết. Nguyên nhân
chủ yếu làm cho cây chết do mối tấn công là vòng vỏ bị cắt và hệ thống mạch
dẫn nhựa bị tắc.
Mùa hại chính của mối:
Mùa hại chính của mối gắn chặt với mùa khô và cây non trồng dưới 12
tháng tuổi. Tỷ lệ cây chết trên rừng trồng đặc biệt là bạch đàn do mối phá hại
ở lứa tuổi này có nơi lên đến 60 - 80%. Bình thường khoảng 20 - 30%.
Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh rừng trước khi trồng: Hố và xung quanh hố phải dọn sạch
cành nhánh, vì cành nhánh là mồi nhử mối tới.


16

- Sau khi trồng, nếu điều tra thấy có nhiều mối đến xâm nhập, có thể
làm những hố nhử mối bằng cành lá. Mỗi ha có thể đào 5 - 7 hố, sâu khoảng
60cm và có đường kính 60cm. Cho cành nhánh, lá, mối thích ăn xuống, lấp
nhẹ đất, tưới nước, nhử mối. Khi mối đến, dùng thuốc trừ sâu diệt cả bầy
trong hố.
- Phương pháp có hiệu quả và rẻ nhất là bảo vệ các lứa cây con bằng
cách gieo trồng chúng trong các bầu nhựa chứa đất đã xử lý.
- Khi bứng cây đem trồng, nên để bầu nhựa có đất đã xử lý nổi trên bề
mặt đất khoảng 3 - 4cm, có thể ngăn ngừa được mối phá hại cây con.
- Phá vỡ tổ mối, đường mối giữa tổ và nơi mối gây hại cây con, bằng
cách rắc thuốc Thiodan 35% có thể hạn chế mối phá hại từ 6 - 9 tháng.
- Xử lý trước đất bầu, cây con có bầu và hố trồng là rất quan trọng để
ngăn ngừa mối. Có thể dùng túi bầu nhựa thay thế túi bầu đất hay lá chuối.
- Chọn loài cây trồng có tính đề kháng với mối. Qua quá trình thực tế
quan sát ở cơ sở, rút ra được loài cây nào có tính chống chịu cao với mối, tuy
năng suất có kém hơn một chút cũng nên trồng.
- Trồng dày cố ý: Trong một số trường hợp, mối phá hại không thể
tránh khỏi được và có thể ứng dụng việc trồng dày cố ý. Sau khi cây trồng
vượt qua được giai đoạn nhiễm mối, lại tỉa thưa hợp lý.
- Lựa chọn cây khỏe mạnh đem trồng. Chú ý không xén rễ vì xén rễ làm
tăng nguy cơ xâm nhiễm cơ giới vào cây con (bởi nấm hoặc côn trùng thứ sinh).
Việc xén rễ phải lên lịch, cho phép cây con đủ thời gian phục hồi và
liền các vết thương.
- Có thời gian biểu trồng và tưới nước thích hợp cho cây con trước khi
bứng trồng để tránh gây tổn thương cơ giới, tạo điều kiện thuận lợi cho mối
xâm nhập.


17

- Không nên trồng bạch đàn trên hiện trường trồng rừng cũ, vì dễ bị
mối phá hại, có thể thay bằng cây trồng khác như keo hoặc cây địa phương.
- Không bón phân tổng hợp NPK có chứa cám cưa, vì cám cưa rất
hấp dẫn mối.
2.2. Tình hình các nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1. Nghiên cứu về mối trên thế giới
Bắt đầu từ thế kỷ XVI – XVI đã có những nghiên cứu khoa học côn
trùng nhưng đến thế kỷ XVIII thì môn côn trùng mới thực sự được chú ý do
những thiệt hại mà chúng gây ra ngày càng lớn (Trần Công Loanh và cs,
1997) [4].
Vào đầu thế kỷ XX Holmgren 1922 đã nghiên cứu và mô tả về các loài
mối, tiếp theo đó là Bathellier1927 có công trình nghiên cứu về hệ thống phân
loài, sinh học về mối ở Đông Dương (Lê Văn Nông, 1999) [6].
Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu.
Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối. Linnacus vào
năm 1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống
Termes. Holmgreen (1911,1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và
đặt nền móng cho phân loại học về mối. Trên cơ sở này các nhà phân loại học
như Light, 1921; Grasse, 1949…đã hiệu đính và xác lập bộ cánh đều tương
đối ổn định (Lê Văn Nông và cs) [7].
Snyder, 1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới,
ông đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ
Termitinae. Ông có đưa ra những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus
là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên (Nguyễn Tần Vương, 1997) [18].
Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập
nhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại của
Ahmad (1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×