Tải bản đầy đủ

Quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện EA HLEO, tỉnh đăk lăk

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
............/………..

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC HƢNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU THẦU TRONG
ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

i



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
............/………..

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC HƢNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU THẦU TRONG
ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60 34 04 03

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀNG QUY

ĐẮK LẮK, NĂM 2017

ii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hoàng Quy.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn
đều được dẫn nguồn và có độ chính xác trong phạm vị hiểu biết của tôi.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Đắk Lắk, ngày 15 tháng 6 năm 2017
T C GI

Nguyễn Ngọc Hưng

iii


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ủy Ban nhân dân huyện
Ea H’leo - tỉnh Đắk Lắk, Ban Quản lý dự án xây dựng huyện Ea H’leo, tỉnh
Đắk Lắk và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
khóa đào tạo.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy, cô giảng dạy chương
trình thạc sỹ Quản lý Công, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến
thức hữu ích về quản lý nhà nước, đó là cơ sở giúp tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khỏe đến TS. Nguyễn Hoàng
Quy, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Những góp ý, chỉ bảo của thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành luận văn mà còn
là kinh nghiệm trong công tác của tôi sau này.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều
kiện tốt nhất về mặt tinh thần cho tôi yên tâm học tập, những học viên khóa
20 chuyên ngành Quản lý Công đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong
suốt quá trình học tập.
Do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, nên
luận văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy, cô và anh chị học viên.
Trân trọng cảm ơn!

iv


MỤC LỤC
Trang

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU
THẦU TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH
1.1. Lý luận về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân
sách……………………………………………………………………….
1.2. Quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng vốn ngân
sách……………………………………………………………………….
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đấu thầu ………...………………
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU
THẦU TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK
LẮK
2.1. Giới thiệu tổng quan về huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk …………….
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng
bằng vốn ngân sách trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk ………..
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về đấu thầu các công trình
xây dựng từ nguồn vốn ngân sách ở huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk,
trong thời gian qua………………..............................................................
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ ĐẤU THẦU TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN
VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH
ĐẮK LẮK
3.1. Phương hướng……………………………………………………….
3.2. Giải pháp nâng cao quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây
dựng bằng nguồn vốn ngân sách…………………………………………
3.3. Một số kiến nghị …………………………………………………….
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

v

7
20
34

41
48

67

74
83
95


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Viết tắt

Nguyên nghĩa

1

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

2

BQLD DA XD

Ban Quản lý dự án xây dựng

3

CĐT

Chủ đầu tư

4

HSĐX

Hồ sơ đề xuất

5

HSDT

Hồ sơ dự thầu

6

NS

Ngân sách

7

ODA

Viện trợ phát triển

8

QLNN

Quản lý nhà nước

9

TPCP

Trái phiếu Chính phủ

WB

Ngân hàng Thế giới

10

vi


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Công tác triển khai phê duyệt dự án đầu tư xây dựng
năm 2013 - 2016
Bảng 2.2. Tình hình triển khai thực hiện dự án năm 2013 - 2016

44

Bảng 2.3. Công tác quyết toán dự án hoàn thành năm 2013 - 2016

47

Bảng 2.4. Tình hình thực hiện đấu thầu trong đầu tư xây dựng
công trình năm 2013 - 2016 tại Ban Quản lý dự án xây dựng huyện
Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

62

45

Trang
Sơ đồ 1.1. Trình tự thực hiện đấu thầu

30

Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ % các nguồn vốn triển khai phê duyệt đầu tư
xây dựng trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn
2013 - 2016
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ % các nguồn vốn triển khai thực hiện dự án trên
địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 - 2016
Sơ đồ 2.1. Tổ chức quản lý của UBND huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk
Lắk
Sơ đồ 2.2. Bộ máy quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây
dựng công trình từ nguồn vốn ngân sách tại huyện Ea H’leo, tỉnh
Đắk Lắk

44

vii

46
48
53


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong đầu tư xây dựng công trình của nhà nước thường tính cạnh tranh
không cao. Nhà nước thường đầu tư vào những nơi mà lợi ích kinh tế xã hội
nói chung được coi trọng hơn lợi ích kinh tế. Vì vậy, môi trường cạnh tranh
trong đầu tư xây dựng công trình của nhà nước nhìn chung thường ít khốc liệt
và thiếu minh bạch. Tuy nhiên, nếu thiếu vắng sự cạnh tranh sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng công trình. Nhà nước
cần phải tạo ra một môi trường cạnh tranh thực chất trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng công trình để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây
dựng. Trong những năm qua nhà nước đã giành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi
năm cho đầu tư xây dựng cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng
trong toàn bộ hoạt động đầu tư của nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy việc quản lý
hiệu quả vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản rất khó khăn, phức tạp. Ở nước ta
hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước còn thấp thể hiện như: đầu tư
sai, đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng,
... Trong các khía cạnh của đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân
sách nhà nước tác giả đi sâu vào nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đấu
thầu trong đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách vì:
Với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao vai trò quản lý
nhà nước về công tác đấu thầu thông qua hoạt động đầu tư xây dựng bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước và việc tổ chức đấu thầu, triển khai thực hiện
dự án, thực hiện công tác đấu thầu trong môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ
giúp tiết kiệm một khoản chi cho ngân sách nhà nước.
Thông qua hoạt động mua bán, cách thức đấu thầu chúng ta lựa chọn
được nhà thầu đủ kinh nghiệm và năng lực để thực hiện công tác theo yêu cầu
của bên mời thầu. Đồng thời, nhà thầu cũng phải có các giải pháp khả thi để

1


thực hiện công việc và bảo đảm giá trúng thầu không vượt giá gói thầu được
duyệt. Cuộc đấu thầu phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo sự công bằng trong
cách xem xét, đánh giá các hồ sơ dự thầu của các nhà thầu tham gia đấu thầu;
công bằng trong đấu thầu là khá rộng, liên quan và phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, đó cũng là cơ sở để lựa chọn nhà thầu trúng thầu. Nếu quá trình lựa chọn
nhà thầu để thực hiện thi công công trình không theo quy định, thực hiện
không chặt chẽ sẽ dẫn đến lựa chọn nhà thầu sai quy định, gây thất thoát, lãng
phí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng công trình.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thoát lãng phí trong quản lý đầu tư
xây dựng công trình với nhiều lý do, nhưng cơ bản nhất là vai trò quản lý nhà
nước trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, nhất là trong việc định ra các quy
định cơ chế chính sách về đầu tư xây dựng cơ bản cũng như vấn đề tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở lĩnh vực này.
Với mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa thì nhu cầu đầu tư vào lĩnh
vực xây dựng cơ bản ngày càng tăng, cùng với việc đầu tư mạnh vào các lĩnh
vực an ninh quốc phòng, nâng cấp cơ sở hạ tầng bằng các nguồn vốn vay của
nước ngoài làm cho nợ công của nước ta tăng cao.
Từ những lý do nêu trên và từ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động đấu thầu xây dựng cơ bản, nhằm ngăn chặn hiện
tượng tham nhũng, lãng phí, thất thoát, góp phần ổn định phát triển kinh tế xã
hội nên tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư
xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk
Lắk” để làm cơ sở nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Quản lý nhà nước đối với công tác đấu thầu đầu tư xây dựng công trình
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đang là vấn đề quan tâm của dư luận
cũng như các nhà nghiên cứu khoa học. Hiện nay, những đề tài, công trình

2


nghiên cứu đề cập đến quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng công trình
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về công
tác đấu thầu trong đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà
nước nói riêng đã được đề cập đến qua những nghiên cứu như:
- Doãn Trung Thông (2003), Hoàn thiện quản lý nhà nước về đấu thầu
các công trình đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, thực
tiễn đài truyền hình Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Công, Học viện
hành chính Quốc gia.
- Nguyễn Thị Bích Liên (2007), Quản lý nhà nước nhằm chống thất
thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước, Luận văn
Thạc sĩ Quản lý Công, Học viện hành chính Quốc gia.
- Trần Thanh Bình (2012), Quản lý nhà nước đối với công tác đấu thầu
các công trình xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Hà
Đông, Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Công, Học viện hành chính Quốc
gia.
- Nguyễn Ngọc Thành (2015), Quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu
các công trình giao thông ở Ban quản lý dự án phát triển giao thông nông
thôn Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế Chương trình định hướng
thực hành, Đại học Kinh tế.
Các đề tài nghiên cứu đã đưa ra được những nội dung quản lý nhà nước
về đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tuy nhiên
chưa hoàn thiện theo xu thế phát triển chung của việc cải cách đổi mới Luật
Đấu thầu (2005) bằng Luật Đấu thầu (2013).
Quản lý nhà nước về đấu thầu theo Luật Đấu thầu (2013) đã đưa ra được
nhiều vấn đề còn tồn tại. Nhưng để áp dụng Luật vào thực tiễn còn phải chờ
các Thông tư, Nghị định hướng dẫn làm rõ.

3


Quản lý nhà nước về đấu thầu cả nước nói chung và quản lý nhà nước về
đấu thầu trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk nói riêng chưa được đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu khoa học tại huyện Ea H’leo, tỉnh
Đắk Lắk; vì vậy luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nhằm hệ
thống hóa, toàn diện và cụ thể, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu
đã công bố.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Hệ thống hóa luận cứ khoa học của công tác đấu thầu và quản lý nhà
nước đối với đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân
sách. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Nhằm
đưa ra những vấn đề còn tồn tại cần xử lý để hoàn thiện hơn về quản lý nhà
nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân
sách.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Xác định và hệ thống các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý nhà
nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách dựa trên
tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Khảo sát, thu thập tài liệu liên quan đến đấu thầu trong đầu tư xây dựng
công trình bằng nguồn vốn ngân sách; làm rõ các ưu điểm, hạn chế và tìm ra
nguyên nhân.
Đưa ra các phương hướng và giải pháp nâng cao và hoàn thiện hơn về
quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân
sách.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4


- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây
dựng bằng nguồn vốn ngân sách.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước về đấu thầu đầu
tư xây dựng của cấp huyện. Luận văn chỉ khảo sát thực tiễn ở huyện Ea
H’leo, tỉnh Đắk Lắk, thời gian khảo sát từ năm 2013 - 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Trên cơ sở vận dụng chủ trương đường lối chính sách của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, về đầu tư xây dựng,
các văn bản pháp lý về đầu tư xây dựng, đấu thầu trong đầu tư xây dựng.
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp: Thống kê,
phân tích tổng hợp, so sánh số liệu giữa các năm, kế thừa có chọn lọc từ các
bài báo, báo cáo phân tích thực trạng để từ đó rút ra nhận xét cũng như đánh
giá tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu.
Vận dụng các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước,
Chính phủ, các Bộ ngành, UBND các cấp về quản lý nhà nước về đấu thầu
trong đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách.
Phương pháp thu nhập số liệu: Số liệu được thống kê thu thập qua các
năm 2013 - 2016 trong lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Ea H’leo,
tỉnh Đắk Lắk.
Sử dụng một số tài liệu trong nước đã công bố liên quan đến luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Phân tích mối quan hệ giữa chủ thể, khách thể và đối tượng
quản lý; đưa ra mục tiêu, phương pháp và các công cụ quản lý; hệ thống hóa
nội dung quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng công trình bằng
nguồn vốn ngân sách cấp huyện.

5


- Về thực tiễn: Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về đấu thầu từ đó rút ra các vấn
đề có thể nghiên cứu ở Việt Nam trong quản lý nhà nước về đấu thầu trong
đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà; làm rõ thực trạng quản lý
nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách trên
địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Đưa ra phương hướng và hệ thống giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng
nguồn vốn ngân sách.
7. Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn ngân sách.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đấu thầu trong đầu tư
xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách.

6


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤU THẦU TRONG ĐẦU
TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

1.1. Lý luận về đấu thầu trong đầu tƣ xây dựng bằng nguồn vốn ngân
sách
1.1.1. Đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học. Trong kinh tế
học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ. Đầu tư có liên quan
đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài
chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ.
Trong tài chính, đầu tư là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn
đánh giá cao, thường là trong tương lai dài hạn. Điều này có thể được hoặc
không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tất cả các hình
thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào
cổ phần, bất động sản, thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể,
ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát [10].
Ngược lại, bỏ tiền vào một cái gì đó với một niềm hy vọng của lợi ích
ngắn hạn, có hoặc không có phân tích kỹ lưỡng, là cờ bạc hay đầu cơ. Thể loại
này sẽ bao gồm hầu hết các dạng của phát sinh, kết hợp một yếu tố rủi ro
không là ngôi nhà dài hạn đối với tiền, và đặt cược vào con ngựa. Nó cũng sẽ
bao gồm mua, ví dụ, một cổ phần công ty với hy vọng một lợi ích ngắn hạn
mà không có ý định giữ nó trong thời gian dài. Theo giả thuyết thị trường hiệu
quả, tất cả các đầu tư có rủi ro ngang nhau sẽ có cùng tỷ lệ thu hồi vốn dự
kiến: đó là để nói rằng có một sự đánh đổi giữa rủi ro và hoàn vốn kỳ vọng.
Nhưng điều đó không ngăn cản một người đầu tư trong các tài sản rủi

7


ro trong dài hạn với hy vọng được hưởng lợi từ sự đánh đổi này. Việc sử dụng
phổ biến thuật ngữ đầu tư để mô tả đầu cơ cũng đã có một ảnh hưởng trong
đời sống thực tế nữa: nó làm giảm khả năng của nhà đầu tư phân biệt đầu tư
và đầu cơ, giảm nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro liên quan đến đầu cơ, tăng
vốn dành cho đầu cơ và giảm vốn khả dụng để đầu tư.
1.1.1.2. Khái niệm về đầu tư công
Việc gia tăng vốn xã hội được gọi là đầu tư công. Việc tăng vốn xã hội
thuộc chức năng của chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất
với đầu tư mà chính phủ thực hiện. Đầu tư công bao gồm: Đầu tư từ ngân
sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương, các địa phương); Đầu tư theo các
chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung
và dài hạn), cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm, tín
dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định; Đầu tư
của các doanh nghiệp Nhà nước, mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp
có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước [10].
Khái niệm “đầu tư công” còn được hiểu là việc sử dụng nguồn vốn Nhà
nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
không nhằm mục đích kinh doanh như: Chương trình mục tiêu, dự án phát
triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an
ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo, ...; chương trình mục
tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản
cố định bằng vốn sự nghiệp; các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ
vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; chương trình mục tiêu, dự án đầu
tư công khác theo quyết định của Chính phủ [10].

8


Hiện tại đầu tư công vẫn được quan niệm một cách khá đơn giản: nó bao
gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế nhà nước tiến hành. Đầu tư công được xét không phải từ góc độ mục
đích mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư. Đầu tư công là
đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao
gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh
nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý. Đây là cách hiểu phổ
biến hơn cả và cũng là đối tượng của chính sách đầu tư của Nhà nước hiện
nay.
Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình,
dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [22].
1.1.1.3. Nguồn vốn nguồn vốn đầu tư xây dựng
+ Vốn đầu tư
Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường, việc tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của
mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh
tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng
vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì
nó trở thành vốn đầu tư.
Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất
kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn
khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì
tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội [10].
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

9


Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục
đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm,
lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán [11].
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau:
Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự phát
triển kinh tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn. Từ vốn tín dụng đầu
tư (do ngân hàng đầu tư phát triển và quỹ hỗ trợ phát triển quản lý) gồm:
Vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và các
tầng lớp dân cư, dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính
tín dụng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài và từ vốn của các đơn vị
sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác [13].
Vốn nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nguồn này bao gồm:
Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB),
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức chính phủ như JBIC
(OECF), các tổ chức phi chính phủ (NGO), gọi chung là nguồn vốn ODA
[13].
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức 100% vốn nước
ngoài, liên doanh, hợp đồng - hợp tác kinh doanh.
Nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản là các khoản chi phí gắn liền
với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nội dung này bao gồm [11]:
- Vốn cho xây dựng và lắp đặt;
- Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng;
- Những chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng,
văn phòng làm việc, nhà kho, bến bãi, …;
- Chi phí cho công tác lắp đặt máy móc, trang thiết bị vào công trình và
hạng mục công trình;

10


- Chi phí để hoàn thiện công trình.
Tuỳ theo từng mục đích mà người ta phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ
bản thành các tiêu thức khác nhau. Nhưng nhìn chung các cách phân loại này,
đều phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu tư xây dựng
cơ bản như sau: Gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn của
các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; vốn vay nước ngoài, vốn hợp tác liên
doanh với nước ngoài; vốn của dân. Mức độ huy động của từng nguồn vốn,
vai trò của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử dụng
nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn.
Vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản có các hình thức đầu tư như: vốn đầu tư
xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục, vốn đầu tư mở rộng đổi mới trang thiết
bị. Theo cách này cho ta thấy, cần phải có kế hoạch bố trí nguồn vốn cho đầu
tư xây dựng cơ bản như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế và tương
lai phát triển của các ngành, các cơ sở.
Theo nội dung kinh tế [19]:
- Vốn cho xây dựng lắp đặt;
- Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị;
- Vốn kiến thiết cơ bản khác.
Như vậy hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia nói chung và các cơ sở sản xuất
kinh doanh nói riêng. Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này chúng ta phải
sử dụng các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây
dựng cơ bản.
1.1.1.4. Khái niệm về ngân sách nhà nước, các thuật ngữ về ngân sách
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế
và phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ
“Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở

11


mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất,
người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các
trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm:
Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một
giai đoạn nhất định của quốc gia.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự
toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước [24].
Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái
phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển
chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động
sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do
Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn
đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất [21].
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất
hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản
xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời
của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự
phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho
cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ
chi của cấp trung ương. Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà
nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung
ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc
nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ

12


tầng kinh tế - xã hội; đường giao thông, hạ tầng đô thị, các công trình cho
giáo dục - văn hoá xã hội, quản lý Nhà nước, ... [10]
1.1.2. Đấu thầu trong đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách
1.1.2.1. Khái niệm về đấu thầu
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư (CĐT) lựa chọn được một nhà thầu
đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế
thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh
tranh nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn
các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích
của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù
đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể [9].
1.1.2.2. Khái niệm đấu thầu xây dựng
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng
cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa
chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức
đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh,
công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế [21].
Đấu thầu xây dựng là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng
công trình và các hạng mục công trình nhằm lựa chọn ra nhà thầu xây dựng có
thể đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của công việc với mức chi phí hợp lý nhất
[18].
1.1.2.3. Các khái niệm liên quan trong đấu thầu
Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ
sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án [21].
Bên mời thầu là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực
hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm: Chủ đầu tư hoặc tổ chức do chủ đầu tư

13


quyết định thành lập hoặc lựa chọn; Chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, cá nhân
sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực
hiện hoạt động đầu tư xây dựng; Đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn
mua sắm thường xuyên; Đơn vị mua sắm tập trung; Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa
chọn [21].
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức đấu thầu rộng
rãi, đấu thầu hạn chế, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn
cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu tổ chức
đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư [21].
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử
dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo
công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình
hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn
bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu
tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng
hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng [23].
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của
con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết
định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần
dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công
trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao
thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và
công trình khác [23].
Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư
lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu
[21].

14


Các hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi; Đấu thầu hạn chế;
Chỉ định thầu; Chào hàng cạnh tranh; Tự thực hiện; Các hình thức lựa chọn
nhà thầu được áp dụng trong nội dung phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu
tùy thuộc vào đặc thù nguồn vốn và hạn mức giá gói thầu được quy định theo
Luật Đấu thầu.
Các phương thức lựa chọn nhà thầu: Phương thức một giai đoạn một túi
hồ sơ; phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn
một túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ [19].
+ Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
- Nhà thầu, nhà đầu tư nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất gồm đề xuất về
kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu
cầu.
- Việc mở thầu được tiến hành một lần đối với toàn bộ hồ sơ dự thầu, hồ
sơ đề xuất.
+ Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
- Nhà thầu, nhà đầu tư nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ
đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
- Việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được
mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về
kỹ thuật sẽ được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá.
+ Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp
đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây
lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp.
Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài
chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở

15


trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu
giai đoạn hai.
Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp
hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài
chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu
và bảo đảm dự thầu.
+ Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ
đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất
về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề
xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung
hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng
yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ
được mở ở giai đoạn hai.
Giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được
mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu (HSDT) bao gồm đề xuất về kỹ thuật
và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương
ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất
về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự
thầu giai đoạn hai để đánh giá [21].
1.1.2.4. Sự cần thiết khách quan thực hiện đấu thầu trong đầu tư xây dựng
công trình bằng nguồn vốn ngân sách
Việc đầu tư ngân sách của các nước trên thế giới nói chung cũng như
Việt Nam nói riêng, Chính phủ đều phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng, kỹ thuật nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, cho
đất nước.

16


Xây dựng công trình là một trong những khâu quan trọng của một dự án,
để xây dựng được một công trình đáp ứng tốt các đòi hỏi về kỹ thuật, chất
lượng, thời gian thực hiện, tiết kiệm chi phí và hạn chế tới mức thấp nhất
những tranh chấp có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc về uy tín của các bên
hữu quan thì ngày nay. Đối với các dự án lớn, phức tạp, dự án của các công ty
nhiều chủ sở hữu và đặc biệt là các dự án thuộc khu vực nhà nước, dự án có
sự tài trợ của quốc tế thì việc xây dựng công trình qua đấu thầu là cách duy
nhất để tránh những sơ hở, sai lầm có thể gây thiệt hại về vật chất và uy tín
cho các bên có liên quan.
Trên thế giới việc xây dựng công trình không chỉ eo hẹp trong một quốc
gia mà nó còn phải được sự giúp đỡ về khảo sát thiết kế, thi công xây dựng, ...
của các nước khác tiên tiến hơn, đảm bảo hơn. Do vậy nếu không có phương
thức đấu thầu thì không thể tìm kiếm được các nhà thầu phù hợp cho bất kỳ
một nước nào khi mà dự án đó vượt ra khỏi tầm kiểm soát cũng như xây dựng
của quốc gia.
Trước tình hình quản lý trong đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn
vốn ngân sách có nhiều yếu kém, thất thoát lãng phí như vậy, nền kinh tế
nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường dưới tác động của các quy luật
kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, ... muốn
cho các công trình xây dựng trở thành hàng hoá trên thị trường và tăng cường
hiệu lực quản lý của Nhà nước về đầu tư xây dựng công trình, cải tiến công
tác đơn giá dự toán, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng, tiêu cực thì việc
thực hiện phương thức đấu thầu xây dựng công trình là một đòi hỏi cấp thiết,
là một hướng tích cực có nhiều ưu thế hơn hẳn phương thức giao thầu theo kế
hoạch trước đây của chúng ta. Cần phải nhìn nhận một cách đúng đắn rằng
đấu thầu là một phương pháp hình thành từ sự kết hợp nhuần nhuyễn và tinh
tế giữa các yếu tố pháp lý, kỹ thuật và tài chính với các nguyên lý của khoa

17


học quản lý tổ chức, với tính chất là một phương pháp phổ biến có hiệu quả
cao, đấu thầu ngày càng được nhìn nhận như một điều kiện thiết yếu để đảm
bảo thành công cho các nhà đầu tư dù họ thuộc khu vực nhà nước hay tư
nhân, dù họ đầu tư ở trong nước hay nước ngoài [4].
1.1.2.5. Vai trò và ý nghĩa của đấu thầu trong đầu tư xây dựng công trình
bằng nguồn vốn ngân sách
Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các
quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung - cầu, quy luật giá cả giá trị. Thông qua hoạt động đấu thầu, Bên mua thầu (BMT) có nhiều cơ hội
để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất xứng với giá trị của đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra. Đồng thời Nhà
thầu (NT) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể
cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc
các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận [9].
Qua các năm tổ chức thực hiện theo phương pháp đấu thầu trong xây lắp
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đúc kết, đánh giá được vai trò to lớn của đấu
thầu trong quá trình tồn tại và phát triển của việc đầu tư xây dựng nói riêng và
toàn bộ các ngành kinh tế nói chung.
Thông qua phương thức đấu thầu thể hiện rõ những vấn đề chủ chốt sau:
- Mang lại hiệu quả cao trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý đầu tư
xây dựng công trình.
- Thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành xây dựng, tạo
điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đổi mới công nghệ xây dựng.
- Thông qua đấu thầu, bắt buộc các nhà thầu phải tự nâng cao năng lực
của mình để cạnh tranh thắng thầu.
- Thông qua đấu thầu, các nhà thầu tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
trong sản xuất kinh doanh, nhanh chóng trưởng thành lớn mạnh, hoà nhập vào

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×