Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất của công ty thương mại hà nội

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

MỤC LỤC
Chương I :
Cơ sở lý luận chung về quy trình nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu
I.Vai trò của nhập khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
1 Khái niệm về nhập khẩu
2 Vai trò của nhập khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế
II.Nội dung quy trình nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh XNK
1Giao dịch và nắm bắt nhu cầu khách hàng
2 Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
3 Tiến hành thực hiện hợp đồng nhập khẩu
4 Một số vấn đề lưu ý khi có rủi ro tổn thất về hàng hoá
Chương II
Quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất của công ty THƯƠNG MẠI
HÀ NỘI trong những năm gần đây

I Tổng quan về công ty TMHN
1 Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của công ty thương mại hà nội
2 Kết quả kinh doanh của những năm gần đây

II Thực hiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất tại công ty
TMHN
1Tìm hiểu nghiên cứu thị trường
2 Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
3 Thực trạng thực hiện hợp đồng nhập khẩu
4 Đánh giá về tình hình thực hiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất
của công ty TMHN
1 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Chương III
Những giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu
sản xuất của công ty Thương Mại Hà Nội
I Phương hướng hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất
của công ty thương mại hà nội
1 Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao quy trình nhập khẩu của công ty TMHN
2 Kế hoạch hoạt động trong năm 2003 của công ty tmhn để tăng cường hoạt động
nhập khẩu
II Những giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu
sản xuất của công ty TMHN
1Giải pháp từ phía công ty
2Một số kiến nghị của công ty với các cơ quan quản lý nhà nước

Phần kết luận

2 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. sự hội
nhập của các hiệp hội, các tổ chức kinh tế, tự do hoá nền kinh tế giữa các quốc gia,
các châu lục đã và đang trở nên tất yếu thì việt nam một đất nước đang trên đường
từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới cũng không thể nằm ngoài
dòng chảy của xu thế chung, hoạt động thương mại quốc thực sự trở thành vấn đề
sống còn vì sự phát triển của đất nước và các doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trương mở cửa và phát triển, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất


nước, ban lãnh đạo đảng và nhà nước đã mở rộng hợp tác, bắt tay với tất cả các nước
trên thế giới với tiêu chí hoà bình – hợp tác- hữu nghị- độc lập dân tộc, nhờ đó việt
nam đã là thành viên của hiệp hội các nước đông nam Á (ASEAN) và diễn đàn hợp
tác kinh tế châu á thái bình dương (APEC) trong tiến trình thực hiện qui chế mậu
dịch tự do (AFTA) của ASEAN, chương tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại của
APEC và sắp sửa tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam có quan hệ buôn bán trên thị
trường quốc tế, những điều kiện trên thực tế rất thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt
ra nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng trong cạnh tranh,
hợp tác và kinh doanh từ phía các doanh nghiệp, cũng như cơ chế chính sách hỗ trợ
của nh0à nước để đạt được hiệu quả cao nhất tuy nhiên, với nghiệp vụ kinh doanh
thương mại quốc tế còn hạn chế, các doanh nghiệp không thể tránh khỏi va vấp trong
việc thực hiện buôn bán với các đối tác nước ngoài.
Nhận thấy nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc tế là vấn đề đầu tiên mà các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải chú ý và quan tâm đến nên em chọn

3 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
đề tài: “Hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất của
công ty thương mại hà nội.” đề tài này gồm 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận chung về quy trình nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu
Chương II : Quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất của công ty thương
mại hà nội
Chương III : Những giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu mặt hàng
nguyên liệu sản xuất của công ty thương mại hà nội
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn TS ĐÀO THỊ BÍCH HÒA và các
cán bộ của phòng xuất nhập khẩu Công Ty Thương Mại Hà Nội đã tận tình giúp
đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Do thời gian thực tập hạn chế cùng với trình
độ của một sinh viên có giới hạn nên đề tài còn nhiều thiếu sót mong rằng sẽ nhận
được những ý kiến đóng của thầy cô, cùng các cán bộ công ty thương mại hà nội và
tập thể các bạn quan tâm giúp cho đề tài được hoàn chỉnh hơn.

4 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Chương I cơ sở lý luận chung về quy trình
nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu
I Khái niệm và vai trò của nhập khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế
1 Khái niệm về nhập khẩu
Với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, mỗi quốc gia không thể
tồn tại và phát triển một cách riêng rẽ mà phải góp mặt trong nền kinh tế thế giới
bằng cách tham gia vào các quan hệ đầu tư, dịch vụ và thương mại quốc tế.
Có thể thấy, tiền đề cơ bản đầu tiên của thương mại quốc tế là sự khác biệt về
điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia dẫn đến mỗi quốc gia đều có lợi thế riêng trong
việc sản xuất một sản phẩm nào đó và hoạt động trao đổi hàng hoá với nhau đã tạo
nên sự cân bằng giữa phần dư thừa hàng hoá này và thiếu hụt hàng hoá kia. Tiếp theo
đó sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia dẫn đến nhiều điểm khác nhau về
điều kiện tái sản xuất, nên các quốc gia phải mở rộng phạm vi trao đổi quốc tế. Kinh
tế phát triển kéo theo sự phân công lao động ngày càng sâu sắc, vượt ra khỏi biên
giới mỗi quốc gia dẫn đến quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất trên
phạm vi quốc tế.
Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển và chuyên môn hoá
trong sản xuất hàng hoá, nên mỗi quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất một số mặt hàng
có lợi thế hơn các quốc gia khác, nhưng nhu cầu của người tiêu dùng đa dạng và
phong phú, luôn luôn muốn tìm được mặt hàng phù hợp mặt hàng phù hợp thị hiếu
và khả năng thanh toán của mình. Vì vậy đã xuất hiện những luồng hàng hoá dịch
chuyển từ nước này sang nước khác, đó chính là nguồn gốc của thương mại quốc tế.

5 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Ngày nay, khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin, điện tử, sinh học, giao thông
vận tải....ngày càng phát triển mạnh mẽ, sự chuyên môn hoá sản xuất mỗi lúc một
sâu rộng, nhu cầu của người tiêu dùng thêm đa dạng đã thúc đẩy thương mại quốc tế
ngày càng phát triển và trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong hoạt
động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia.
Thương mại quốc tế bao gồm hai bộ phận là xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá
dịch vụ. Do đó, khi nói đến thương mại quốc tế không thể không nói đến hoạt động
nhập khẩu hàng hoá -- dịch vụ. Theo học thuyết “lợi thế so sánh” của David Ricacdo
thì bất cứ một nước nào cũng có thể tham gia vào thương mại quốc tế bằng việc
chuyên môn hoá sản xuất và nhập khẩu về những hàng hoá ít lợi thế hơn. vì thế khi
tham gia vào hoạt động nhập khẩu các quốc gia có điều kiện để hoà nhập vào nền
kinh tế quốc dân tiếp thu sự phát triển ngày càng cao và nền văn minh của nhân loại,
tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nước.
Như vậy có thể định nghĩa rằng, nhập khẩu hàng hoá là hoạt động mua hàng hoá
dịch vụ từ nước ngoài theo nguyên tắc của thị trường quốc tế nhằm phục vụ nhu cầu
trong nước hoặc tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện sự gắn bó,
phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của các quốc gia. ở một giới hạn nhất định, nó
còn quyết định sự sống còn của nền kinh tế đặc biệt là khi nền kinh tế của các quốc
gia trên thế giới đang sống dưới một mái nhà chung.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế
Nhập khẩu và xuất khẩu là hai bộ phận của hoạt động kinh tế đối ngoại – thực là
chiếc cầu nối giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Thông qua hoạt động
xuất nhập khẩu một nước phát huy được những thế mạnh của mình, khắc phục được
những phần bất lợi của nền sản xuất trong về những sản phẩm không sản xuất được
hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu và chất lượng, hoạt động xuất nhập khẩu
làm cho thị trường hàng hoá trong nước phong phú, đa dạng hơn về chủng loại, qui

6 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
cách mẫu mã cho phép thoả mãn nhiều hơn nhu cầu trong nước, nhập khẩu góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế :
Thứ nhất: nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại là động lực
thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng và
giá cả hàng hoá. Qua tạo ra sự phát triển cho nền kinh tế trong nước đồng thời thanh
lọc những đơn vị sản xuất yếu kém. Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền của các
doanh nghiệp trong nước phá vỡ hoàn toàn nền kinh tế đóng và chế độ tự cung tự
cấp. Nhập khẩu là công cụ để chính phủ thực hiện đIều tiết giá cả thị trường nội địa
nhằm loạI bỏ những tác động không lành mạnh của cơ chế thị trường như tình trạng
đầu cơ ép giá .
Thứ hai: nhập khẩu cho phép tác động đến các nền các nền công nghiệp hiện đạI
trên thế giới tạo ra sự chuyển giao công nghệ do đó làm nên sự phát triển vượt bậc
của sản xuất, tiết kiệm được chi phí và thời gian giúp cho nền kinh tế các nước phát
triển đồng đều hơn nước ta cũng như nhiều nước khác, có sức mạnh về tài nguyên
thiên nhiên và lao động nhưng trình độ khoa học kỹ thuật lại rất lạc hậu, nên có thể
nói nhập khẩu sẽ là nhân tố giúp ta tháo bỏ những vướng mắc mà các nước nghèo
thường gặp phải, xu thế nhập khẩu bổ sung để thoả mãn nhu cầu trong nước cũng là
một đIũu tất yếu thông qua đó từng bước thay đổi cơ cấu tiêu dùng của nhân dân theo
hướng hiện đạI hoá đồng thời nâng cao kỹ thuật công nghệ phục sản xuất trong nước.
Do vậy, nhà nước ta đã đề ta chính sách nhập khẩu vật tư thiết bị máy móc kỹ thuật
công nghệ của nước ngoài để tạo công nghệ nguồn phát triển kỹ thuật mới kích thích
sản xuất trong nước thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Thứ ba: nhập khẩu là một biện pháp giải quyết sự mất cân đối giữa sản xuất và
tiêu dùng, giữa cung, cầu hàng hoá dịch vụ, nghĩa là góp phần làm cho quá trình sản
xuất, tiêu dùng diễn ra thường xuyên ổn định. Chúng ta có thể nhập khẩu hàng hoá
về phục vụ tiêu dùng trực tiếp trong nước, nhập khẩu những nguyên vật liệu quí
7 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
hiếm, máy móc thiết bị, công nghệ phát minh khoa học về phục vụ sản xuất và nâng
cao trình độ công nghệ trong nước…phục vụ chiến lược lâu dài là tiến tới làm chủ
khoa học công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động.
Thứ tư : nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế trong nước với nền kinh tế
thế giới, tạo đIều kiện cho quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy
tận dụng lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất. Tiếp thu
những thành tựu tiên tiến về văn hoá và khoa học công nghệ, không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Thông qua một số vai trò của nhập khẩu được trình bày ở trên, ta thấy được vai
trò quan trọng của thương mại quốc tế đối với bất kỳ nền kinh tế nào. với sự phát
triển kinh tế thế giới hiện nay, để phát huy được hết vai trò của nhập khẩu đòi hỏi
phảI có những biện pháp chính sách đIều tiết hoạt động nhập khẩu của nhà nước một
cách linh hoạt, tạo đIều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu,
hạn chế và khắc phục những biến động trên thị trường thế giới có ảnh hưởng đến
hoạt động nhập khẩu.
II. Nội dung qui trình nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu
1. Giao dịch và nắm bắt nhu cầu khách hàng
a) Nghiên cứu thị trường trong nước
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, ta có
thể hiểu thị trường trên hai góc độ : thị trường là tổng thể các quan hệ hàng hoá - tiền
tệ hoặc thị trường là tổng khối lượng cầu có khả năng thanh toán và khối lượng cung
có khả năng đáp ứng ở một mức giá nhất định.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không thể tách rời ra khỏi thị trường, thị
trường là môI trường sống, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong đIều kiện
thị trường luôn luôn biến động thì doanh nghiệp phải thiết lập một hệ thống nghiên
cứu những biến động của cung cầu và giá cả của hàng hoá một cách chặt chẽ.
8 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Theo quan đIểm marketing hiện đạI thì doanh nghiệp không thể bán những gì
mình có mà phải bán những gì khách hàng cần. Do vậy, phải nghiên cứu thị trường
trong nước một cách kỹ lưỡng, chặt chẽ, thì doanh nghiệp mới có thể nắm bắt, thu
thập, phân tích và xử lý thông tin về nhu cầu ,giá cả chất lưọng của hàng hoá và các
dịch vụ, từ đó đề ra các hướng đi cho hoạt động nhập khẩu. Nghiên cứu thị trường
trong nước bao gồm các bước sau:
*Nhu cầu về mặt hàng nhập khẩu:
Mục đích là để tìm ra mặt hàng nhập khẩu mà nhu cầu trong nước đang cần
nhưng phải phù hợp với đIều kiện và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Điều đó
đòi hỏi nhà kinh doanh thăm dò, phân tích nhu cầu của khách hàng trong nước về
mặt hàng, về qui cách phẩm chất, kiểu dáng, giá cả, mầu sắc, bao gói sản phẩm….từ
đó tìm ra được mặt hàng phù hợp để cung cấp cho khách hàng.
Phải tìm hiểu khả năng tiêu dùng về mặt hàng để biết được mặt hàng đó đã thoả
mãn nhu cầu khách hay chưa (về số lượng, chất lượng, dịch vụ….). phải hiểu rõ về
tập quán tiêu dùng thị hiếu và qui luật biến động của quan hệ cung cầu để có thể đáp
ứng kip thời nhu cầu của thị trường một cách tốt nhất và kết thúc là phải phác hoạ lên
được đường cung cầu hàng hoá đó trên thị trường nội địa để xác định được một khối
lượng nhất định và mức giá phù hợp. Quan trọng ở đây là phảI nắm bắt được khách
hàng mục tiêu của doanh nghiệp là ai? Khách hàng mục tiêu là tập hợp những người
tiêu dùng, các tổ chức có nhu cầu sử dụng các sản phẩm mà doanh nghiệp nhập khẩu
dự định cung cấp và họ có khả năng thanh toán ở một mức giá nhất định. Từ đó trên
cơ sở việc phân đoạn thị trường mà ở đó chứa đựng khách hàng mục tiêu của doanh
nghiệp. Ta có thể phân đoạn thị trường dựa trên một số tiêu thức: thu nhập đầu
người, lứa tuổi, giới tính, tập quán, lĩnh vực sản xuất kinh doanh (đơn vị khách hàng
là các tổ chức).
Dự đoán chính xác về chu kỳ sống của sản phẩm: doanh nghiệp phải tìm hiểu được
mặt hàng mà mình nhập khẩu (có thể là thành phẩm hoặc nhập khâủ nguyên liệu để
9 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
sản xuất hàng hoá tiêu thụ trong nước) đang ở giai đoạn nào trong chù kỳ sống của
mặt hàng đó có thể quyết định chính xác nhằm nâng cao doanh số cũng như hiệu quả
kinh doanh.
Nghiên cứu tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu: trong thương mại quốc tế các nước
có hệ thống tiền tệ khác nhau do vậy việc tính toán tỷ suất ngoại tệ cho hàng hoá xuất
nhập là việc rất quan trọng, doanh nghiệp phảI tiến hàng so sánh giữa tỷ suất ngoại tệ
hàng nhập khẩu với tỷ giá hối đoái giưã đồng việt nam và ngoạI tệ lúc đầu tư ban đầu
để nhập hàng. Nếu tỷ suất ngoại tệ ngoại tệ lớn hơn thì tiến hành nhập khẩu còn
ngược lại thì không nên nhập khẩu vì không đạt được mục đích lợi nhuận.
Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh cùng nhập khẩu và cung cấp mặt hàng mà
doanh nghiệp kinh doanh là vấn đề quan trọng, doanh nghiệp phải nắm vững về số
lượng các đối thủ cạnh tranh, tình hình hoạt động, thị phần, nguồn lực của đối thủ về
cả vốn và nhân lực, điểm mạnh, đIểm yếu, uy tín trong nước và trên thị trường quốc
tế, sự trợ giúp của các cơ quan quản lý nhà nước. đặc biệt cần nghiên cứu kỹ các
chiến lược kinh doanh và khả năng thay đổi chiến lược của đối thủ trong thời gian tới
để đưa ra các biện pháp đối phó tối ưu, hạn chế các đIểm mạnh và tận dụng các đIểm
yếu của đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu môi trường kinh doanh :
Môi trường kinh doanh bao gồm môi trường tự nhiên, văn hoá, xã hội, chính trị, pháp
luật ….môi trường kinh doanh có tác động lớn và chi phối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu hoạt động của nó để
nắm bắt qui luật vận động của môi trường kinh doanh để có biện pháp hoặc chính
sách phòng ngừa có hiệu quả.
Đặc biệt phải nghiên cứu chính sách của kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt
động kinh doanh nhập khẩu nói riêng, bởi vì nó có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
10 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
chính sách ngoại thương bao gồm:
Chính sách thị trường : là việc qui định các doanh nghiệp trong nước sẽ được hợp
tác làm ăn với những đối tác ở những quốc gia nào, khi làm ăn với các đối tác đó sẽ
được hưởng những lợi ích gì từ phía nhà nước.
Chính sách mặt hàng : là việc qui định xem các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
được phép kinh doanh những mặt hàng nào, mặt hàng nào khuyến khích kinh doanh,
mặt hàng nào hạn chế và mặt hàng nào cấm kinh doanh.
Chính sách hỗ trợ: là hàng loạt các biện pháp và công cụ mà chính phủ để hỗ trợ
nhằm mục đích thúc đẩy nền ngoại thương phát triển theo định hướng và mục tiêu
mà chính phủ đề ra.
Các chính sách được qui định trong các văn bản pháp luật như: luật thương mại,
luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài….sự tác động của những chính sách này
tạo khó khăn và thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
b) Nghiên cứu thị trường quốc tế:
Yếu tố cơ bản của thương mại quốc tế là phải hoạt động kinh doanh ở môi trường
quốc tế, ở các nước bên ngoài rộng lớn và hoàn toàn xa lạ, luôn luôn biến động và
chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy khi tham gia vào thương mại quốc tế việc
nghiên cứu thị trường nước ngoài là rất cần thiết đối với doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu.
Nguồncungcấphànghoá:
Cùng một sản phẩm nhưng có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau do vậy chúng ta
phải tìm hiểu kĩ từng nguồn cung cấp đánh giá những mặt mạnh và yếu của họ trên
cơ phân tích các điểm sau :
Qui cách phẩm chất hàng hoá như thế nào
Khả năng sản xuất và cung ứng của họ
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhập khẩu và nhà cung cấp đó có thân thiện
không
11 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Cung cách làm ăn của người cung cấp
Phương thức thanh toán, giao nhận hàng…..
Giá cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế:
Giá cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế biến động rất phức tạp và chịu ảnh
hưởng của nhiều yêú tố: chi phí vận chuyển, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái, chính sách
thuế quan của nhà nước…

2. Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
a) Khi các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu thì quá trình đàm phán phải
dựa vào yếu tố:
Lựa chọn đối tác giao dịch : để xác định một nhà cung cấp có triển vọng cần
dựa trên các đIểm sau:
Tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động, chất
lượng sản phẩm, giá cả, khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên dịch vụ sau bán
hàng, uy tín của đối tác trên thị trường.
Khả năng về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của đối tác cho thấy ưu thế về sản
xuất táo đIều kiện cho doanh nghiệp khi thoả thuận các điều kiện về giá cả và thời
hạn thanh toán, cho thấy thực trạng khả năng thanh toán của họ
Thái độ quan điểm kinh doanh của đối tác,uy tín và mối quan hệ với bạn hàng của
đối tác, năng lực quản lý của đối tác.
- Điều kiện địa lý: cho phép ta đánh giá được các ưu thế về địa lý của phía đối tác
để giảm thiểu các chi phí vận tảI bảo hiểm.
Tình hình chính trị của phía đối tác: đây là vấn đề quan trọng vì nếu chính trị bất ổn
định sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nhập khẩu nhất là trên thế giới hiện nay xảy
ra nhiều cuộc đảo chính và xung đột chính trị tôn giáo sắc tộc.
- Đàm phán giao dịch:
12 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
đàm phán là việc các chủ thể kinh doanh trao đổi ý kiến nhằm đi tới thống nhất các
nhận định đI tới thống nhất cách ứng xử những vấn đề nảy sinh trong quá trình buôn
bán giữa hai hay nhiều bên. như vậy đàm phán thực chất là viêc thoả thuận của các
bên có liên quan về một số vấn đề trong quan hệ thương mại quốc tế.
Các hình thức được áp dụng:
--Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: là việc các bên gặp gỡ trực tiếp nhau tại một
địa đIểm nhất định để thoả thuận trao đổi những vấn đề liên quan đến quá trình ký
kết và thực hiện hợp đồng ngoạI thương.
--Đàm phán qua thư tín: ngày nay giao dịch qua thư từ, đIện tín …..là phương pháp
chủ yếu trong giao dịch quốc tế trong cuộc tiếp ban đầu và mối quan hệ sau này đối
với những đối tác ở xa nhau.
- Đàm phán qua điện thoại : các bên trao đổi thoả thuận với nhau thông qua đàm
thoại trực tiếp tạo đIều kiện cho người giao dịch tiến hành các công việc kinh
doanh kịp thời đúng tiến độ.
c) C) Ký kết hợp đồng ngoại thương:
Việc giao dịch đàm phán có kết quả thì hai bên sẽ tiến tới ký kết hợp
đồng ngoại thương
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh
doanh ở các quốc gia khác nhau. Theo đó một bên gọi là bên bán (bên xuất khẩu)
nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên mua(bên nhập khẩu) một
tài sản nhất định gọi là hàng hoá . bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu:
Chủ thể của hợp đồng phảI là các pháp nhân có quốc tịch khác nhau
Hàng được chuyển từ nước này sang nước khác
Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối
với một trong hai bên ký kết hợp đồng
Nội dung của hợp đồng nhập khẩu
13 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Số hợp đồng nhập khẩu
Ngày tháng và nơI ký kết hợp đồng
Tên địa chỉ các bên ký kết hợp
Các đIều khoản chính bao gồm
Tên hàng
Số lượng và cách xác định (tuỳ từng loạI hàng hoá để xác định số lượng chuẩn
xác)
Quy cách phẩm chất và cách xác định
Đóng gói bao bì mã hiệu phải phù hợp với hàng hoá
Thời gian phương tiện và địa đIểm giao hàng
Giá cả, giá trị và đIều kiện giao hàng
Phương thức thanh toán và chứng từ thanh toán
bảo hiểm
Phạt và bồi thường thiệt hại
Tranh chấp và giảI quyết tranh chấp
Bảo hành và khiếu nạI
Kiểm tra và giám định hàng hoá nhập khẩu
Trường hợp bất khả kháng
Các đIều khoản khác
3. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu với tư
cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Trong quá trình đảm bảo
thực hiên hợp đồng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phảI cố gắng tiết kiệm chi phí
lưu thông, nâng cao doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ hoạt động giao dịch .
Quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm các bước sau:
1. xin giấy phép nhập khẩu :

14 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
theo nghị định số 57/1998/NĐ-CP qui đinh thương nhân là các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế được thành lập theo qui định của pháp luật được phép xuất
nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Vì vậy sau khi ký kết hợp đồng nhập khẩu doanh nghiệp nhập khẩu phảI tiến
hành xin giấy phép nhập khẩu để thực hiện hợp đồng đó. Hai cơ quan có thẩm quyền
cấp giấy phép nhập khẩu là bộ thương mại và tổng cục hảI quan.
2. Mở l/c:
Trong thương mạI quốc tế hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán như: tín
dụng chứng từ, phương thức nhờ thu, phương thức đIện chuyển tiền. Nhưng sử dụng
rộng rãi nhất và an toàn nhất vẫn là phương thức tín dụng chứng từ.
Do vậy nếu trong hợp đồng ngoại thương qui định phương thức thanh toán là tín
dụng chứng từ thì việc đầu tiên là phảI mở l/c theo đúng qui định của hợp đồng.
Thông thường l/c được mở trước 20 tới 25 ngày trước thời gian giao hàng. L/c là
một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở l/c cam kết trả tiền cho người xuất khẩu
nếu họ trình được chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của l/c. đơn xin mở l/c
kèm theo bản sao hợp đồng và giấy phép nhập khẩu được gửi tới ngân hàng cùng hai
uỷ nhiệm chi : uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy định mở l/c và uỷ nhiệm chi để trả
thủ tục phí mở l/c.
3.Thuê tàu trở hàng:
Trong các đIều khoản của hợp đồng ai có nghiã vụ thuê tàu và thuê theo hình thức
nào thường dựa vào 3 căn cứ sau:
Những đIều khoản trong hợp đồng
Đặc điểm của hợp đồng
Điều kiện của vận tảI
nếu đIều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập khẩu sẽ phảI thuê tàu để trở hàng.
Nếu đIều kiện là CIF thì bên xuất khẩu sẽ phảI thuê tàu.
4. Mua bảo hiểm hàng hóa:
15 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bao hoặc hợp đồng bảo hiểm chuyến. Khi
mua bảo hiểm ba, doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ đầu kỳ, mỗi khi giao hàng xuống
vận chuyển chỉ cần gửi đến công ty bảo hiểm một thông báo bằng văn bản gọi là
“giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Khi mua bảo hiểm chuyến, doanh nghiệp gửi tới
công ty bảo hiểm một văn bản gọi là “giấy yêu cầu bảo hiểm”. Trên cơ sở đó doanh
nghiệp và công ty bảo hiểm đàm phán và ký kết hợp đồng bảo hiểm.
5. Làm thủ tục hải quan:
Quy trình thủ tục hảI quan gồm 3 bước chủ yếu sau.
Khai báo hảI quan : chủ hàng phảI khai báo chi tiết về hàng hoá vào tờ khai hảI quan
một cách trung thực và chính xác bao gồm : tên hàng, số lượng, mã hàng, mã số thuế
của doanh nghiệp, xuất nhập khẩu theo đường tiểu ngạch hay chính nghạch, thuế
xuất của đường nhập khẩu đó, số tiền phải nộp). Tờ khai phải được xuất trình cùng
với một số chứng từ sau:
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Giấy đăng ký mã số thuế của doanh nghiệp
Hợp đồng ngoại thương (1bản)
Giấy phép nhập khẩu(nếu là hàng hoá nhà nước quản lý)
INVOICE(2bản)
PACKING LIST(2bản)
Một số chứng từ khác như: vận đơn, giấy chứng nhận xuất xứ, bảng kê chi tiết
hàng hoá.
Xuất trình hàng hoá để hải quan kiểm tra : hải quan đối chiếu tờ khai hải quan với
thực tế về chủng loại, số lượng, chất lượng để quyết định có cho hàng hoá qua biên
giới hay không.
Thực hiện quyết định hải quan

16 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Sau khi kiểm tra các giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ đưa ra các quyết định cho
phép qua biên giới hoặc cho phép hàng hoá qua biên giới kèm theo đIều kiện hoặc
hàng hoá không được phép qua biên giới.
6. Kiểm tra hàng hoá
khi nhận hàng nhập khẩu công ty phải tiến hành kiểm tra, phát hiện thiếu hụt tổn thất
để kịp thời khiếu nại đòi bồi thường trong thời hạn quy định trong hợp đồng.
Công ty phải lập thư dự kháng nếu thấy nghi ngờ hoặc thấy có tổn thất sau đó phải
yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởi tổn thất đã
được mua bảo hiểm.
7. Thanh toán tiền hàng nhập khẩu
Với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ(thanh toán bằng thư tín dụng L/C)
là phương thức hay được sử dung nhất vì nó đảm bảo an toàn cho cả hai bên. Ngoài
ra phương thức chuyển tiền cũng được sử dụng phổ biến vì nó nhanh và gọn hơn l/c
thường được sử dụng giữa công ty đa quốc gia hay giữa các đối tác hiểu nhau và làm
ăn lâu dài.
4. Một số vấn đề lưu ý khi có thất về rủi ro hàng hoá
Hàng về đến đIểm quy định, nếu chủ hàng thấy hàng hoá nhập khẩu bị tổn thất,
đổt vỡ thiếu hụt mất mát thì cần lập hồ sơ khiếu nại. đối tượng có thể là bên bán,
người vận tải cơ quan bảo hiểm tuỳ theo nguyên nhân của từng tổn thất.
Bên nhập khẩu phải viết đơn khiếu nại và gửi cho bên bị khiếu nại trong thời gian
quy định. đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về tổn thất như : biên bản
giám định hàng hoá, hoá đơn thương mại vận đơn đường biển, đơn đường biển(nếu
khiếu nạI công ty bảo hiểm). Tuỳ theo nội dung khiếu nại mà các bên giải quyết với
nhau. Nếu không giảI quyết được thì làm đơn gửi lên trọng tài kinh tế hoặc toà án
kinh tế xét xử theo pháp luật hiện hành. Thường thì cơ quan xét xử và pháp luật quy
định đã được ghi rõ trong hợp đồng.
5 Đánh giá việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu
17 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Sau khi quá trình giao nhận hàng hoá được triển khai xong thì doanh nghiệp phải
đánh giá lại những sai xót trong quá trình nhập khẩu để rút kinh nghiệm cho lần nhập
khẩu lần sau.

Chương II Quy trình nhập khẩu mặt hàng
nguyên liệu sản xuất của công ty Thương Mại Hà Nội
trong những năm gần đây
I Tổng quan về công ty Thương Mại Hà Nội
1. Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của công ty thương mại hà nội
Chức năng của công ty thương mại hà nội
Công ty thương mại hà nội là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sở thương
mại hà nội, chịu trách nhiệm trước sở thương mại về những hoạt động kinh doanh
của mình. Sau thời kỳ đổi mới chức năng chủ yếu của công ty là kinh doanh hàng
tiêu dùng và tư liệu sản xuất, phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ở hà nội và các
tỉnh lân cận.
Nhiệm vụ chủ yếu của công ty thương mại hà nội

18 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
+ Tổ chức kinh doanh theo chức năng, bao gồm bán buôn và bán lẻ hàng hoá, xuất
nhập khẩu tổ chức liên kết hợp tác kinh doanh với các đối tác trong và ngoàI nước.
+Thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.
Quyền hạn của công ty thương mại hà nội
Trong hoạt động của mình công ty tmhn có các quyền sau:
+Được ký kết và thức hiện hợp đồng với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
+Được quản lý và sử dụng vốn, tàI sản của công ty theo qui định của nhà nước.
+Được chủ động xác định giá cả và khối lượng hàng hoá theo thị trường và không
trái với qui định của nhà nước.
+Được tham gia các hội trợ triển lãm quảng cáo phục vụ hoạt động kinh doanh của
công ty.
+Được mở tài khoản và vay vốn tại ngân hàng theo qui định.

2. Kết quả kinh doanh của năm gần đây
Tổng doanh thu toàn công ty ta ước đạt 28.4/ 22 tỷ đồng, vượt 29% so với kế
hoạch Sở giao và bằng 139,2% so với năm 2001. Tuy nhiên, doanh thu bán lẻ đạt
thấp 4,5 tỷ đồng; phần còn lại là doanh thu từ kinh doanh XNK, bán buôn, liên kết
kinh doanh với các đơn vị khác mang lại.
Tổng nộp thuế GTGT 169 triệu đồng. Số thuế GTGT thực nộp chỉ bằng
80,5% số thuế GTGT Sở giao. Nếu tính cả phần khấu trừ đầu vào hàng xuất khẩu 71
triệu đồng thì tổng nộp thuế GTGT phát sinh ước đạt 240 triệu đồng, vượt 9,1% kế
hoạch Sở giao. Nhìn chung, nhiều đơn vị trong công ty không đồng thời đạt cả 2 chỉ
tiêu công ty giao là: doanh thu và thuế GTGT. Có đơn vị đạt hoặc vượt chỉ tiêu
doanh thu nhưng lại không đạt chỉ tiêu nộp thuế GTGT; có đơn vị lại đạt chỉ tiêu nộp
thuế GTGT nhưng không đạt chỉ tiêu doanh thu. Tuy chỉ tiêu doanh thu là chỉ tiêu

19 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
hướng dẫn, nhưng chúng ta đã xác định rằng nếu không có doanh thu thì không có
lợi nhuận và sẽ không còn giữ được quy mô doanh nghiệp như hiện nay.
Sau đây là bảng tổng hợp 2 chỉ tiêu của các đơn vị thuộc công ty:
TT

TÊN ĐƠN VỊ

DOANH SỐ

Thực hiện
1
2
3
4
5

CH 18 Hàng Bài
CH Nam Thành Công
T2 T/mại Cát Linh
CH 191 Hàng Bông

10.994.542.564
1.569.408.700
4.265.202.290
337.469.670
P.XNK (trừ khấu trừ 11.235.021.957

THUẾ GTGT

% so
với KH
109,95
78,47
77,55
67,49
102,14

Thực hiện
52.339.075
45.294.329
55.335.267
7.199.529
20.347.289

% so
với KH
65,4
100,7
69,2
100
145,3

XK)
6

Các loại thuế GTGT khác

29.306.362
28.401.645.181 129,09 209,821,851
Cộng
Ghi chú:Thuế GTGT thực nộp trong năm 2002 là: 169 triệu đồng

100

Về hoạt động Xuất nhập khẩu:
Thực hiện chủ trương chung của Sở về đẩy mạnh hoạt động XNK. Phòng xuất
nhập khẩu đã mạnh dạn xây dựng phương án đề nghị công ty khoán hiệu quả cho
phòng. Trước tình hình đội ngũ hiện có mỏng, phòng đã tập trung mọi nguồn lực, chú
trọng vào khâu tiếp thị, tiếp cận với các nguồn thông tin điện tử, các buổi giao lưu
gặp gỡ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng bạn hàng, bước đầu tạo
được quan hệ tốt với bạn hàng và khách hàng. Đối với các thương vụ lớn, thiếu vốn,
phòng đã chủ động đề xuất phương án vay vốn và chủ động giao dịch với ngân hàng
và các nguồn vốn khác để kinh doanh. Trong năm, toàn công ty đạt được tổng kim
ngạch XNK gần 500.000USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 52.000USD. Kết
quả này khẳng định chủ trương thành lập phòng XNK là đúng đắn; khẳng định cơ
cấu XNK của công ty trong kế hoạch phát triển 5 năm (2001 - 2005) là có căn cứ.
II.Thực hiện quy trình nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất tại công ty
thương mại hà nội
20 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
1. Tìm hiểu nghiên cứu trị trường:
Nhập khẩu hàng nguyên liệu sản xuất chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng kim
nghạch xuất nhập khẩu của công ty. Ta có thể tìm hiểu qua bảng dưới đây :

Bảng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty qua các năm:
Đơn vị : USD

Chỉ tiêu

Năm 2000
Giá trị

Năm2001

Tỉ

Giá trị

trọng

Tỉ

Năm2002
Giá trị

trọng

Tỉ
trọng

Tổng kim ngạch
Xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất
khẩu
Kim ngạch nhập

237.400
45200
192200

308.200
50.000
80,9%

258200

khẩu

500.000
52.000
83,7
%

21 Trang

448.000 89,6
%


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
140800

73,2% 200100

Nhập khẩu nguyên

77,4

387.200 86,4

%

%

liệu
Nguồn : báo cáo tổng kết công tác hoạt động kinh doanh của công ty.
Dựa vào số liệu bảng trên ta thấy trong ba năm từ 2000 đến 2002 kim ngạch
xuất nhập khẩu của công ty đều tăng. Năm 2000 kim ngạch nhập khẩu đạt 192200
USD chiếm 80,9% tổng kim ngạch xuất nhập khâủ trong đó nhập khẩu nguyên liệu
chiếm 73,2% kim ngạch nhập khẩu. đến năm 2001 kim ngạch nhập khẩu đạt
258200 USD chiếm 83,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và nhập khẩu nguyên liệu
đạt 77,4% kim ngạch nhập khẩu. Tiến đến năm 2002 kim ngạch nhập khẩu đạt tới
448000 USD với tỉ trọng là 89,6% nhập khẩu nguyên tăng tới 86,4%. Có thể thấy
rằng trong năm 2002 nhu cầu nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu sản xuất khá cao mới
có thể đáp ứng được yêu cầu trong nước. Trên cơ sở đó công ty đã đẩy mạnh hoạt
động nhập khẩu và đã kí kết được nhiều hợp đồng trong và ngoài nước với tỉ trọng
nhập khẩu khá cao.
Từ những kết quả khả quan bước đầu cho thấy công tác ngiên cứu thị trường
xuất nhập khẩu của công ty bắt đầu được quan tâm hơn. thực tế đã chứng tỏ vai trò
của công tác nghiên cứu thị trường cos ý nghĩa quan trọng như thế nào trong kinh
doanh quốc tế của công ty.
*Nghiên cứu thị trường trong nước:
Nhu cầu nhập khẩu hàng nguyên liệu sản xuất của công ty thường do những đơn
đặt hàng của các nhà sản xuất điều này chứng tỏ uy tín của công ty trên thị trường
nên có nhiều doang nghiệp sản xuất trong nước biết đến, tin tưởng và đặt quan hệ
làm ăn. ngoài ra giá cả hàng hoá của công ty có tính cạnh tranh hơn các đơn vị nhập
khẩu hàng nguyên liệu khác, đặc biệt là chế độ ưu đãi về giá cả đối với khách hàng
quen thuộc, nên được các nhà sản xuất trong nước tin cậy và đặt hàng.

22 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
Trong tiến trình phát triển của đất nước ta hiện nay nhu cầu xây dựng sản xuất
trong nước ngày càng cao tất yếu sẽ đòi hỏi những mặt hàng nguyên liệu đặc chủng
mà trong nước chưa sản xuất được như : thép không gỉ , thép tấm, thép cấu tạo, nhôm
thỏi, hạt nhựa….nếu chỉ dựa vào đơn đặt hàng của các nhà sản xuất mà không tự chủ
động tìm kiếm thì việc mở rộng bạn hàng sẽ rất hạn chế, nguồn tiêu thụ hàng nguyên
liệu nhập khẩu không nhiều, từ đó sẽ không thể mở rộng và gia tăng khối lượng nhập
khẩu hàng nguyên liệu sản xuất, như vậy qui mô kinh doanh về mặt hàng này sẽ
không lớn.
Ngoài ra nhà nước lại luôn khuyến khích các doanh nghiệp nhập khẩu những mặt
hàng mà trong nước không thể sản xuất được (hàng đặc chủng) để phục vụ cho sản
xuất bằng các chính sách thông thoáng. Hiện tại các doanh nghiệp nhập khẩu ngày
càng nhiều, tình trạng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, nếu công ty chỉ
trông đợi vào đơn đặt hàng và tự hài lòng về ưu thế của mình như vậy thì rất dễ bị
đối thủ cạnh tranh giành giật mất khách hàng, vì vậy công việc nghiên cứu tìm hiểu
đối thủ vẻ mọi mặt như thị phần, khả năng tài chính, trình độ nhân lực, bạn hàng ,
các điểm mạnh điểm yếu của họ là việc nên làm của công ty trong thời gian tới nếu
không sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động nhập khẩu của mình, có thể bị mất
thị phần và bạn hàng bất cứ lúc nào.
* Nghiên cứu thị trường quốc tế:
Thông thường công ty tìm hiểu nguồn cung cấp và phân loại các nhà cung cấp
nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ các nước như : trung quốc, mỹ, hàn quốc,
singapore….chủ yếu công ty thu thập giá cả, chủng loại trên mạng internet và dựa
vào những đơn đặt hàng, các tạp chí giới thiệu, quảng cáo của các nhà cung cấp gửi
cho mà quyết định nhà nhập khẩu và mặt hàng nhập khẩu cụ thể.
2. Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
Trong kinh doanh quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu nói chung đặc biệt nhập khẩu
nguyên liệu nói riêng là một hoạt động kinh doanh hấp dẫn nhưng cũng đầy mạo
23 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
hiểm và rủi ro. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều bộ luật điều chỉnh song vẫn còn
nhiều kẽ hở mà các thương gia lão luyện có thể lợi dụng nếu đối tác thiếu hiểu biết
trong nghiệp vụ kinh doanh. Hợp đồng ngoại thương tập hợp tất cả quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên, do đó trong đó quan hệ với bạn hàng nước ngoài nếu không
cẩn thận và có nghiệp vụ chắc chắn thì khi đàm phán và ký kết hợp đồng rất dễ gặp
rủi ro.

Nhận thức được tầm quan trọng của quá trình đàm phán trong việc

hình thành hợp đồng và những mục đích cần đạt được, công ty đã cử những cán bộ
có nghiệp vụ chuyên môn cao, có kinh nghiệm về thị trường, hiểu biết pháp luật và
các thông lệ quốc tế để thực hiện đàm phán và ký kết hợp đồng.
Thông thường công ty chỉ nhập khẩu hàng nguyên liệu với số lượng nhỏ, giá trị
dưới 500.000 USD nên việc đàm phán chủ yếu thực hiện qua Fax, điện thoại…
• Qui trình đàm phán và ký hợp đồng của công ty qua những bước sau :
Sau khi giao dịch và giao kết mua hàng, người xuất khẩu sẽ gửi cho công ty một bản
hợp đồng qua Fax trong đó ghi rõ các điều khoản vơi nội dung chủ qui định về tên
hàng, số lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán…
Nhận được hợp đồng của người xuất khẩu, người chịu trách nhiệm thuộc phòng kinh
doanh xuất nhập khẩu sẽ xem xét và sửa đổi một số điều khoản để trình lên giám đốc
công ty duyệt. Nhưng điều khoản chủ yếu quan tâm là:
- Tên hàng : Qui định đúng tên hàng hoá được qui định theo thông lệ quốc tế để
không gây phát sinh tranh chấp về điều khoản tên hàng, hầu như công ty không xảy
ra tranh chấp về điều khoản tên hàng ở các hợp đồng nhập khẩu.
- Chất lượng : Qui định rõ chất lượng và thông số kỹ thuật, kích cỡ, thanh phần
cấu tạo của nguyên liệu, ký hiệu… điều khoản này thường rất chặt chẽ vì chi nhánh
nhập khẩu hàng nguyên liệu cho sản xuất nên đây là vấn đề rất quan trọng phải lưu
tâm.
- Cơ sở giao hàng : Cũng giống như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khác, công
ty thường nhập khẩu theo điều kiện CIF( tên hàng + bảo hiểm + cước phí) qui định
24 Trang


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí
tên cảng đến là Hải Phòng hoặc TPHCM và qui định rõ người bán phải ký hợp đồng
bảo hiểm trị giá 110% giá CIF.
Ngoài ra, công ty còn nhập khẩu theo điều kiện CFR( tên hàng + cước phí) và tự
mình mua bảo hiểm cho hàng hoá.
Nhập khẩu theo điều kiện CFR có nhiều ưu điểm hơn điều kiện CIF ở công ty có thể
tự mua bảo hiểm hàng hoá ở những nơi tin tưởng tại Việt Nam, do đó luôn chủ động
trong bất kỳ tình huống nào xảy ra đối với vấn đề liên quan đến bảo hiểm.
Còn khi nhập khẩu theo điều kiện CIF, bảo hiểm hàng hoá sẽ do người bán mua và
thường họ chỉ mua loại bảo hiểm tối thiểu, mặt khác nếu trong hợp đồng không qui
định cụ thể thì bảo hiểm sẽ bị mua ở những công ty không đáng tin cậy và không
chuyển nhượng được. Vì vậy, tốt nhất công ty nên sử dụng điều kiện CFR để nhập
khẩu.
- Giá cả : giá cả cố định trong hợp đồng là kết quả của quá trình giao dịch và hoàn giá
giữa hai bên, nên rất dễ thảo thuận và thường không gây tranh chấp. Nhưng điều đáng
chú ý là chi nhánh chỉ sử dụng đồng USD làm đồng tiền thanh toán nên phải quan tâm
đến biến động của tỷ giá đồng USD, như vậy mới có thể dự báo được mức giá thích hợp.
Tuy nhiên, đây là vấn đề khó khăn không chỉ đối với chi nhánh mà cả các doanh nghiệp
xuất khẩu khác trong việc dự báo xu hướng biến động của tỷ giá và giá cả thị trường.
• Điều khoản giao hàng và thông báo giao hàng:
chi nhánh nhập khẩu theo điều kiện CIF và CFR nên nhường quyền thuê tàu cho
người xuất khẩu và qui định rõ cảng bốc dỡ hàng, không cho phép chuyển tải hay
giao hàng trung gian…
Trong hợp đồng thường qui định rõ là: Phương tiện chuyên chở phải phù hợp với
việc vận chuyển hàng hoá trong hợp đồng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng
nguyên liệu sản xuất.
Tuổi của tàu chở hàng phải dưới 15 tuổi, người bán phải thông báo bằng Fax chậm
nhất là 5 ngày về việc bốc hàng và những đặc điểm chính của tàu như quốc tịch,
25 Trang


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×