Tải bản đầy đủ

Tiểu luận dân tộc học

Câu 1 : Anh chị hãy trình bày những nét khái quát chung về các tộc người được
trưng bày tại bảo tàng DTHVN ( bắt buộc).
Câu 2 ( chọn 1 trong 4 ) 2.1) Mô hình nhà ở truyền thống người Ba-na ở bảo
tàng DTHVN 2.2) Mô hình nhà ở truyền thống người Ê - đê ở bảo tàng DTHVN
2,3) Mô hình nhà mồ Tây Nguyên tại bảo tàng DTHVN 2.4) Mô hình nhà ở
truyền thống của người Việt(Kinh) ở bảo tàng DTHVN
Phần I: Nét khái quát chung về các tộc người được trưng bày tại bảo tàng dân
tộc Việt Nam.
1. Giới thiệu chung
Việt Nam có dân số gần 86 triệu người (2009), như một đại gia đình gồm 54 dân
tộc: người Việt (Kinh) và 53 dân tộc thiểu số. Nhiều dân tộc lại bao gồm một số
nhóm địa phương. Bức tranh ngôn ngữ tộc người rất phong phú, gồm 5 ngữ hệ:
-

Ngữ hệ Nam Á: gồm hai nhóm ngôn ngữ Việt-Mường và Môn-Khơme

-

Ngữ hệ Thái-Kađai: gồm nhóm Tày-Thái và Kađai

-


Ngữ hệ Hmông-Dao

-

Ngữ hệ Hán-Tạng : gồm nhóm Tạng-Miến và Hán

-

Ngữ hệ Nam Đảo

Mỗi dân tộc có những sắc thái văn hoá riêng, đồng thời giữa các dân tộc cũng
có những nét tương đồng. Văn hoá của các dân tộc vừa có sự tiếp nối truyền
thống, vừa bao gồm những yếu tố được tạo thành trong quá trình giao lưu lẫn
nhau, ở cấp vùng cũng như quốc gia, và cả sự ảnh hưởng từ bên ngoài, đặc biệt
là của quan hệ lâu đời với Trung Hoa, Ấn Độ và Đông Nam Á, sau đó là quá
trình tiếp thu những yếu tố văn hoá phương Tây.
Lối sống cổ truyền phổ biến của các dân tộc đều dựa trên nông nghiệp trồng lúa
nước hoặc lúa rẫy là chính, kết hợp với chăn nuôi gia đình, hái lượm, săn bắt,
đánh bắt cá; nghề thủ công (dệt vải, đan lát, rèn, làm gốm, làm mộc…) và kinh
tế hàng hoá ở những trình độ khác nhau. Các dân tộc đều lấy làng làm đơn vị tổ
chức xã hội quan trọng, nhưng từ hình thức quần cư, kiểu dáng nhà cửa, đến
truyền thống gia đình, xã hội và tôn giáo thì đa dạng. Tín ngưỡng vạn vật hữu
linh, đến nay vẫn phổ biến, là cơ sở cho những sinh hoạt lễ tục nhiều vẻ của
phần đông nhân dân các dân tộc. Thực hành Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo…
đóng vai trò quan trọng đối với nhiều bộ phận dân cư. Hiện nay, các dân tộc
đang ở những mức độ khác nhau trên con đường phát triển cuộc sống hiện đại
và tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
Tất cả 54 dân tộc của Việt Nam đều được giới thiệu trong trưng bày thường
xuyên ở toà nhà “Trống đồng”, theo lộ trình gồm 12 không gian nối tiếp nhau:


1. Giới thiệu chung
2. Việt
3. Mường, Thổ, Chứt
4. nhóm Tày-Thái
5. nhóm Kađai
6. Hmông-Dao
7. Tạng-Miến
8. Môn-Khơme miền Bắc


9. Môn-Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên
10. Nam Đảo
11. Chăm, Hoa, Khơme
12. Giao lưu văn hóa

2. Nhóm Việt Mường
Hầu hết các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường phân bố ở Việt Nam,
gồm 4 dân tộc: Việt, Mường, Thổ, Chứt, với dân số gần 75 triệu người (2009),
chiếm hơn 87% dân số chung toàn quốc.
Các dân tộc có chung một cội nguồn lịch sử. Tổ tiên họ, cư dân Lạc Việt, lập
nghiệp ban đầu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. Thành
tựu khảo cổ học minh chứng cho các giai đoạn phát triển liên tục từ sơ kỳ thời
đại đồng thau tới sơ kỳ thời đại đồ sắt, mà đỉnh cao là nền văn hoá Đông Sơn
nổi tiếng tồn tại từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Quá trình
phân hoá tộc người diễn ra suốt nhiều thế kỷ sau Công nguyên.
Trong truyền thống, giữa 4 dân tộc có nhiều điểm giống nhau về ngôn ngữ và
phong tục tập quán. Bên cạnh đó, điều kiện sống, những biến động lịch sử và sự
tiếp thu văn hoá từ bên ngoài làm cho các dân tộc này khác biệt nhau. Người
Việt (Kinh) trở thành dân tộc đa số của quốc gia. Người Mường gần gũi với
người Thái về nhiều khía cạnh văn hoá, đặc biệt là về tổ chức xã hội. Trong khi
đó, người Thổ và người Chứt có dân số ít, lại gồm nhiều nhóm nhỏ sinh sống
trên địa bàn không thuận lợi và bị hoàn cảnh xô đẩy vào trạng thái suy thoái
suốt một thời gian dài trong quá khứ, vì vậy đời sống khó khăn bậc nhất ở Việt
Nam. Nhiều nhóm trong hai cộng đồng Thổ và Chứt, cũng như nhóm Nguồn
của người Việt, vốn là cư dân vùng đồng bằng đã phiêu dạt lên miền núi từ lâu
đời, nên vẫn bảo lưu nhiều yếu tố ngôn ngữ và văn hoá của người Việt cổ.
Trưng bày về các dân tộc nhóm Việt - Mường được bố trí ở tầng 1 của tòa
"Trống đồng". Có nhiều chủ đề khác nhau, được thể hiện thông qua các hiện
vật, ảnh thực địa và bài viết bằng 3 ngữ: Việt, Pháp, Anh. Có 2 điểm trưng bày
bằng hình thức tái tạo, kèm theo phim video: Nghề nón làng Chuông (người
Việt) và Đám ma người Mường. Ngoài ra, ở Vườn Kiến trúc (khu trưng bày
ngoài trời) có một khuôn viên người Việt vùng Thanh Hóa.


Người Mường
Là một trong 3 dân tộc thuộc nhóm
Mường, người Mường chỉ có mặt ở
số hơn 1,2 triệu người (2009), họ
tỉnh Hoà Bình, trong 4 mường xưa
Thàng, Động; một số sinh sống ở
Phú Thọ, Sơn La…

ngôn ngữ Việt VIệt Nam. Với dân
cư trú chủ yếu ở
nổi tiếng: Bi, Vang,
các tỉnh Thanh Hoá,

Người
Mường
làm
ruộng
nướctrong
các
thung lũng với trình độ canh tác khá cao. Ngoài ra, họ còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn
bắn, đánh cá, hái lượm và làm thủ công nghiệp.
Làng xóm định cư ở chân núi, bên sườn đồi, gần sông suối. Chế độ Nhà lang theo hình thức
thế tập là tổ chức xã hội truyền thống trước đây. Mỗi dòng họ lãnh chúa (Đinh, Quách, Bạch,
Hoàng, Hà...) đều có lệ luật riêng để chi phối các bản trong mường thuộc phạm vi quản lý
của mình.
Người Mường có kho tàng văn học dân gian phong phú với những sử thi, truyện thơ nổi tiếng
như Đẻ đất đẻ nước, Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối..., có các làn điệu hát ví, xéc bùa
hay sắc bùa và những điệu dân vũ đặc sắc như múa bông, múa quạt, múa sạp.
Trưng bày về người Mường ở tầng 1 của toà nhà "Trống đồng". Phòng trưng bày được tổ
chức theo các chủ đề như: dệt vải, săn bắt, nhạc cụ, tang lễ, bếp... Ngoài hiện vật, còn có các
bài viết theo chủ đề được thực hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh), các bức ảnh cung
cấp những hình ảnh sống động về cuộc sống trong các bản. Khu sắp đặt về đám tang còn có
phim tư liệu dân tộc học, ghi hình ở tỉnh Hoà Bình năm 2002.

Người Việt
Là một trong 3 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, người Việt (Kinh) với số dân hơn
73.594.000 người (2009), chiếm gần 86% dân số toàn quốc. Người Việt sống trên khắp cả
nước, nhưng tập trung ở vùng đồng bằng, trung du và ven biển. Hình thức nhà nước đầu tiên
của người Việt cổ xuất hiện từ khoảng đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Người
Việt luôn là trung tâm liên kết các dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Làng là đơn vị cư trú cơ bản, nơi sản xuất nông phẩm, làm thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ,
được tổ chức chặt chẽ với bộ máy quản lý theo lệ tục. Làng thường có đình thờ Thành hoàng,
chùa thờ Phật, đền thờ Thánh và các danh nhân văn hoá, lịch sử. Làng là môi trường duy trì
cơ cấu xã hội và văn hoá truyền thống Việt.
Đô thị xuất hiện sớm và phát triển thành các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá. Người Việt
vừa tiếp thu những yếu tố văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây, vừa bảo tồn, phát triển
tiếng nói và những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Chữ Hán, Nôm và Quốc ngữ lần lượt giữ
vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển quốc gia.
Trong toà nhà "Trống đồng" của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, không gian trưng bày
thường xuyên về người Việt ở tầng 1, mở đầu lộ trình tham quan "Các dân tộc Việt Nam".
Hơn 70 hiện vật của người Việt đã được lựa chọn và giới thiệu theo các chủ đề như rối nước,
tín ngưỡng thờ Mẫu, nhạc cụ, đồ chơi dân gian, về nghề thủ công, như đúc đồng, chạm gỗ,


nghề sơn, tranh Đông Hồ... Một số sắp đặt ấn tượng được bố trí trong không gian Việt, như
làm nón, xe đạp chở đó, bàn thờ gia tiên. Các chủ đề được minh hoạ bằng những bức ảnh
thực địa sống động và các bài viết cô đọng.
Ngoài ra, trong Vườn Kiến trúc (trưng bày ngoài trời) của Bảo tàng, công chúng có thể
khám phá một khuôn viên gồm các ngôi nhà người Việt với những chạm trổ tinh xảo. Các
ngôi nhà này được đưa về từ Thanh hoá, trong đó nhà chính đã hơn 100 năm tuổi.

3. Nhóm Tày – Thái
Ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Thái – Kađai) có 8 dân
tộc, với tổng dân số gần 4,4 triệu người (2009). Người Tày, Nùng, Sán Chay,
Giáy, Bố Y cư trú ở vùng Đông Bắc, người Thái, Lào, Lự phân bố từ Tây Bắc
đến miền tây Thanh Hoá, Nghệ An. Tổ tiên người Tày có mặt ở Việt Nam từ
hơn 2.000 năm trước; các tộc người khác di cư tới sau, thậm chí mới vài ba trăm
năm.
Cư dân nhóm Tày – Thái thường tụ cư ở các vùng thung lũng và có trình độ kỹ
thuật cao trong canh tác lúa nước, với những biện pháp như dùng cày có trâu
kéo, thâm canh, làm thủy lợi... Một số nghề thủ công truyền thống rất phát triển,
đặc biệt là dệt vải.
Thiết chế gia đình theo truyền thống phụ hệ. Từ rất sớm đã xuất hiện hình thức
tổ chức xã hội theo kiểu phong kiến sơ kỳ, điển hình là chế độ quằng ở
ngườiTày, phìa tạo ở ngườiThái. Các cư dân nhóm Tày – Thái thờ cúng tổ tiên
và chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo ở các mức độ khác
nhau. Nhiều giá trị văn hóa của họ ảnh hưởng không ít đến các tộc người khác
trong vùng. Ở nhiều nơi, tiếng Tày hoặc tiếng Thái đã trở thành ngôn ngữ giao
tiếp chung của địa phương. Một số cư dân có chữ viết riêng, theo mẫu tự Ấn Độ
hoặc chữ tượng hình.
Trưng bày về các cư dân nhóm Tày – Thái được bố trí tập trung trong ngôi nhà
sàn của người Thái Đen, dựng trong tầng 2 của tòa nhà “Trống đồng”. Văn hóa
và cuộc sống của họ giới thiệu thông qua hệ thống hiện vật, ảnh thực địa và các
bài viết. Ngoài ra, còn có các mô hình nhà ở thu nhỏ và các phim tư liệu dân tộc
học. Trong Vườn Kiến trúc (khu
trưng bày ngoài trời)
của Bảo tàng có các công trình của
người Tày, Nùng.
Người Tày
Người Tày, với các nhóm địa phương
là Pa
dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai.


Người Tày sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi thấp phía bắc Việt Nam. Người Tày trước đây
hay được gọi là người Thổ (tuy nhiên tên gọi này hiện nay được dùng để chỉ một dân tộc
khác, xem bài người Thổ). Người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam.
Người Tày, Nùng có mối quan hệ gần gũi với người Choang tại Trung Quốc. Người Tráng ở
Trung Quốc cũng chính là người Tày-Nùng ở Việt Nam
Người Nùng
Người Nùng, với các nhóm địa
Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng
Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng
Dín, là một trong số 54 nhóm sắc
Việt Nam chính thức phân loại.

phương: Nùng
Lòi, Nùng Phàn
Quy Rịn, Nùng
tộc được chính phủ

Người Nùng nói tiếng Nùng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai.
Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc
Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang v.v (chiếm tới 84%). Hiện tại, một lượng lớn đã
di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đăk Lăk. Quá trình di cư này bắt đầu vào
năm 1954, khi Việt Minh kiểm soát miền bắc Việt Nam.
Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Tráng sống dọc biên giới với Trung
Quốc. Tại Trung Quốc, người Nùng cùng với người Tày được xếp chung vào dân tộc Tráng.

4.Nhóm Kađai
Thuộc ngữ hệ Thái – Kađai, ngôn ngữ Kađai được coi như một gạch nối giữa
ngôn ngữ Thái và ngôn ngữ Nam Đảo. Trong các cư dân ngôn ngữ Kađai, đông
nhất là người Lê ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), còn lại là các tộc người dân số
ít, như: Kelao, Mulao, La Chí, Pu Péo, La Ha, phần đông sinh sống ở vùng biên
giới Việt - Trung. Tiếng Bê ở đảo Hải Nam và tiếng Sek ở Trung Lào cũng
thường được xếp vào nhóm ngôn ngữ này.
Ở Việt Nam có 4 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai: La Chí, La Ha, Cờ
Lao và Pu Péo, với tổng dân số gần 25.000 người (2009). Địa bàn cư trú chủ
yếu của họ là những vùng núi cao gần biên giới phía bắc, trong các tỉnh Lai
Châu, Sơn La, Lào Cai và Hà Giang.
Tuỳ địa phương, các cư dân nhóm Kađai làm nương bằng cách phát, đốt, chọc
lỗ tra hạt, hoặc làm ruộng bậc thang, nương cày hay thổ canh hốc đá. Họ trồng
ngô, lúa, những cây có củ, bầu, bí, cây thuốc...
Kiểu nhà của các dân tộc này đa dạng: nhà sàn (La Ha), nhà trệt (Cờ Lao, Pu
Péo) hay nửa sàn nửa trệt (La Chí). Tùy theo nhóm địa phương, y phục có màu


đen hay xanh lam do nhuộm chàm, hoặc có màu sặc sỡ do ghép vải tạo thành.
Lương thực chính của họ là gạo tẻ, gạo nếp hay ngô, tùy điều kiện canh tác ở
địa phương. Các tộc người đều có tập tục thờ cúng tổ tiên. Nếp sinh hoạt của họ
chịu nhiều ảnh hưởng của những tộc người láng giềng có dân số đông hơn như
Tày, Nùng, Hmông, Thái. Đặc biệt, người La Ha đã tiếp thu đậm nét về cả văn
hóa và ngôn ngữ của người Thái.
Trưng bày về các dân tộc ngôn ngữ Kađai được thực hiện ở tầng 2 của tòa
“Trống đồng”. Văn hóa và cuộc sống của họ thể hiện thông qua các hiện vật
thường ngày, công cụ thủ công, ảnh thực địa... . Ngoài ra còn có phim video về
lễ hội "dâng hoa măng" của người La Ha.
Người Cờ Lao
Là một trong 4 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai (ngữ hệ Thái – Kađai) ở Việt Nam,
người Cờ Lao có mặt ở Hà Giang từ thế kỷ 18 và được gọi bằng các tên khác nhau như: Tứ
Đứ, Ho Ki, Voa Đề. Họ có 3 nhóm: Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Xanh và Cờ Lao Đỏ, với tổng dân
số hơn 2.600 người (năm 2009).
Những người Cờ Lao ở vùng cao núi đá tai mèo chủ yếu làm nương, theo kiểu "thổ canh hốc
đá". Ngoài ngô là cây lương thực chính, trên nương họ còn trồng lúa mạch, đậu răng ngựa,
đậu Hà Lan, su hào... Những người sống ở các vùng núi đất canh tác ruộng bậc thang, với
lúa là cây lương thực chính. Về nghề thủ công, có đan lát, làm đồ gỗ ghép, nhiều bản có thợ
rèn làm và sửa chữa nông cụ.
Các bản của người Cờ Lao thường có 15 – 20 nóc nhà, là những gia đình nhỏ theo truyền
thống phụ hệ. Trong hôn nhân, con của chị/em gái được phép lấy con của anh/em trai. Trong
tang lễ, khi mai táng, họ đắp đá rồi mới phủ đất lên mộ. Người Cờ Lao tiếp thu nhiều yếu tố
văn hóa của người Hmông và người Dao cộng cư.
Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Cờ
Lao, áo, đồ gỗ gia dụng, vỏ bầu khô..., được giới thiệu cùng với hiện vật của 3 dân tộc khác
trong cùng nhóm ngôn ngữ Kađai, ở tầng 2 của toà nhà "Trống đồng".
Người Pu Péo
Dân tộc Pu Péo phân bố ở nam
Trung Quốc và bắc
Việt Nam. Ở Việt Nam, người Pu
Péo, tự gọi là Ka
Bẻo, có mặt ở Đồng Văn (Hà
Giang) từ thế kỷ
18. Năm 2009 họ chỉ có gần
700người - một
trong 5 dân tộc có dân số dưới
1.000 người. Là
một trong 4 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai (ngữ hệ Thái - Kađai), nhưng họ nói giỏi
tiếng Hmông (thuộc ngữ hệ Hmông - Dao) và tiếng Quan Hỏa (ngữ hệ Hán - Tạng).
Người Pu Péo trồng ngô, đậu trên nương, dùng cày cày đất, canh tác theo kiểu xen canh, gối
vụ. Một số nơi họ làm ruộng bậc thang (cấy lúa) và làm vườn (trồng cây ăn quả). Trâu, bò
được sử dụng làm sức kéo. Trong bữa ăn, bột ngô và canh là 2 món ăn chính của các gia
đình.


Váy, áo của phụ nữ Pu Péo đặc sắc ở kỹ thuật đáp và ghép vải màu trang trí, xếp thành các
hình tam giác, hình vuông, hình quả trám. Phụ nữ vấn tóc quanh đầu, dùng chiếc lược gỗ gài
lại rồi trùm khăn vuông lên trên.
Người Pu Péo thờ cúng tổ tiên 3 đời, mỗi đời được tượng trưng bằng một hũ sành đặt trên
bàn thờ. Vào dịp Tết Nguyên đán, các gia đình làm bánh chưng đen cúng tất niên, hôm sau
họ làm bánh chưng trắng mừng năm mới. Từ mồng 3 đến 13 tháng Giêng âm lịch, các bản tổ
chức lễ Patọng mở đầu mùa sản xuất. Người Pu Péo còn có tục hát đối đáp trong đám cưới
và đánh trống đồng trong tang lễ.
Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Pu
Péo được giới thiệu cùng với hiện vật của 3 dân tộc khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Kađai,
ở tầng 2 của toà nhà "Trống đồng".

5.Nhóm Hmông - Dao
Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hmông – Dao gồm khoảng 10 triệu người, phân bố ở
Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanmar. Người Hmông (gần 8 triệu)
và người Dao (hơn 1,5 triệu) là hai dân tộc đông nhất trong ngữ hệ. Đây cũng là
hai dân tộc có nhiều nhóm địa phương mang những sắc thái riêng về tiếng nói
cũng như phong tục tập quán. Người Hmông còn di cư sang tận châu Âu, châu
Mỹ...
Thuộc ngữ hệ này ở Việt Nam, ngoài người Hmông và người Dao, còn có người
Pà Thẻn, tổng dân số của cả 3 dân tộc hơn 1,8 triệu người (2009). Họ cư trú ở
hầu khắp các tỉnh miền núi Bắc Bộ, một số ở bắc Trung Bộ. Người Hmông phân
bố trên vùng cao; người Dao và Pà Thẻn chủ yếu sinh sống ở vùng núi giữa.
Người Hmông và Pà Thẻn ở nhà trệt. Người Dao, tuỳ từng nhóm, ở nhà trệt
hoặc nhà sàn hay nhà nửa sàn nửa trệt. Phần đông các tộc người này làm nương;
một bộ phận làm ruộng nước. Phụ nữ nổi tiếng với kỹ thuật trang trí trên vải.
Phụ nữ Dao chủ yếu dùng kỹ thuật thêu; phụ nữ Pà Thẻn thêu, dệt, đáp vải; phụ
nữ Hmông thêu, đáp vải, một số nhóm nổi tiếng với kỹ thuật batik. Đàn ông
Hmông giỏi nghề rèn và đúc.
Khu vực trưng bày về người Hmông, Dao và Pà Thẻn được bố trí ở tầng 2 của
toà nhà "Trống đồng". Ngoài các
hiện vật, nhất là
trang phục, ảnh thực địa, còn có
hai không gian sắp
đặt sống động và các phim dân
tôc học.
Người Dao (các tên gọi khác: Mán,
Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn,
Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v) là
bàn cư trú truyền thống là nam Trung
bắc phần tiểu vùng Đông Nam Á.

Đông, Trại, Dìu
Đại Bản, Tiểu Bản,
một dân tộc có địa
Quốc, và lân cận ở


Tại Trung Quốc người Dao là một trong số 56 dân tộc thiểu số ở được công nhận, (tiếng
Hán: 瑶瑶, Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000 người. Người Dao cũng
là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, Thái Lan.
Người Dao là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, với số dân là 751.067 người (2009).
Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng của họ trải rộng tại
các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên
Quang,...) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng
Ninh (người Dao Thanh Y) .
Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong
tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần
Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao Quần Trắng,... Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác
nhau.
Người H'Mông (RPA: Hmoob/Moob; phát âm tiếng H'Mông: [mm̥ɔɔ̃ŋ]), là một nhóm dân tộc
có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốcvà các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam
Á là Lào, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar.
Người H'Mông nói tiếng H'Mông, một ngôn ngữ chính trong ngữ hệ H'Mông-Miền. Tiếng
H'Mông vốn chưa có chữ viết, hiện dùng phổ biến là chữ Hmông Latin hóa (RPA) và một
phần là chữ Pahawh Hmông, được lập từ năm 1953 ].
Tại Việt Nam người H'Mông là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể trong số
54 dân tộc tại Việt Nam . Tên gọi dân tộc được ông Cư Hòa Vần nêu ra là "Mông" hoặc
"HMôngz".
Tại Lào họ được gọi là người Mẹo hay Lào Sủng. Tại Thái Lan theo tiếng Thái là
แแแ
แ Maew hay แแ
แ H'Mông.
Tại Trung Quốc, họ được gọi là Miêu (tiếng Trung: 瑶; bính âm: Miáo), và tên gọi này được
dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people. Người Miêu được
chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Người
Miêu tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc. Người H'Mông được coi bao gồm
các phân nhóm: H'Mông, Hmu, Hmao và Ghao Xong. Bên ngoài Trung Quốc thì chủ yếu
thuộc phân nhóm H'Mông

6.Nhóm Hán
Nhóm ngôn ngữ Hán thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, gồm các dân tộc phân bố trên
địa bàn rộng lớn và rất đông dân. Tại Đông Nam Á, người Hán có mặt trong
nhiều thành phố, nhất là những thành phố lớn, ví dụ như Singapore hay Chợ
Lớn (Việt Nam) thường được coi là những thành phố của người Hoa. Tại
Bangkok (Thái Lan) và phần lục địa của Malaysia, người Hán cũng chiếm
khoảng một nửa dân số. Người Panthay ở Myanmar và người Hò ở Thái Lan
đều có gốc là người Hoa ở Vân Nam (Trung Quốc) tới; họ theo Hồi giáo.


Ở Việt Nam có 3 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán: Hoa, Ngái và Sán Dìu.
Người Hoa sống rải rác tại nhiều nơi, cả ở nông thôn và thành thị; họ kiếm sống
bằng nhiều nghề, nhưng nổi bật nhất là thương nghiệp và dịch vụ. Người Ngái
cư trú rải rác ở các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh,
Thái Nguyên..., sinh sống bằng nông nghiệp, nghề thủ công và buôn bán nhỏ.
Người Sán Dìu phân bố ở Quảng Ninh và nhiều nơi thuộc trung du Bắc Bộ, họ
canh tác trên đất nương, bãi và ruộng nước, kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia
cầm và làm các nghề thủ công cổ truyền.
Trưng bày về các dân tộc Hoa, Ngái và Sán Dìu được bố trí ở tầng 2 của tòa
“Trống đồng”.
Người Ngái
Ở Việt Nam chỉ có hơn 1.000 người Ngái (2009), nhưng họ có mặt tại nhiều tỉnh từ Bắc và
Nam: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bình Thuận, Đồng Nai, Đắk Lắk, TP.
Hồ Chí Minh... Dân tộc này gồm nhiều nhóm địa phương: Ngái Hắc Cá, Ngái Lều Mền, Hẹ,
Sín, Đản, Lê, Xuyến. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).
Người Ngái thường cư trú thành từng xóm nhỏ, cả trên đất liền và hải đảo. Họ ở nhà trệt,
phổ biến là 3 gian 2 chái. Bộ phận ở ven biển và hải đảo thường sống trên thuyền. Y phục
truyền thống thường không có trang trí; nam giới mặc quần kiểu lá tọa, áo có 2 hoặc 3 túi;
phụ nữ mặc áo 5 thân dài quá mông, cài khuy vải bên nách phải.
Bộ phận sống trong nội địa canh tác lúa nước là chính, ngoài ra còn trồng nhiều loại cây
hoa màu, chăn nuôi… Bộ phận ở ven biển và hải đảo chủ yếu sống bằng nghề đánh cá.
Những nghề thủ công của người Ngái thường được biết tới là làm mành trúc, dệt chiếu, nghề
mộc, rèn, làm gạch ngói.... Ở Tp. Hồ Chí Minh, nghề làm giày dép của họ khá phát đạt, một
số doanh nghiệp có tiếng trong ngành giày dép, cao su.
Gia đình người Ngái là gia đình nhỏ phụ quyền. Người chồng quyết định mọi việc lớn, con
trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài. Trong dòng họ, trưởng tộc được đề cao
và có vai trò quan trọng. Những người cùng dòng họ có thể nhận ra nhau và phân biệt các
chi qua hệ tên đệm. Ông cậu có vai trò quan trọng, như cha của các chị em gái trong gia
đình. Khi các chị/em gái sinh con, đứa trẻ được cậu đặt tên. Theo tập tục, sau khi sinh con 60
ngày (con đầu) hay 40 ngày (con thứ), sản phụ mới được về nhà mẹ đẻ. Đối với người chết,
sau khi mai táng, tang gia làm lễ cúng vào các dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63
ngày, 70 ngày, được 3 năm thì làm lễ đoạn tang.
Người Ngái có nhiều lễ tết: Nguyên đán (tết năm mới), Hàn thực (ngày 3 tháng 3 âl), Ðoan
ngọ (5/5), Vu lan (15/7), cơm mới (10/10). Di sản văn nghệ dân gian của họ chủ yếu là dân
ca, dân vũ và văn học truyền miệng. Lối hát giao duyên nam nữ trước kia phổ biến. Cùng với
múa sư tử và múa gậy, các trò chơi dân gian rất phong phú

Người Sán Dìu


Dân tộc Sán Dìu, một trong 3 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán – Tạng) ở Việt
Nam, có dân số hơn 146.800 người (2009), cư trú chủ yếu ở các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh
Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang... Họ tự gọi là San Déo nhín (Sơn Dao nhân),
được các dân tộc khác gọi là Trại, Trại đất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ....
Phụ nữ Sán Dìu mặc đồ truyền thống gồm áo ngắn, áo dài, khăn trùm đầu, xà cạp quấn
chân, váy... Váy gồm 2 hoặc 4 mảnh vải rời nhau. Họ sử dụng những chiếc túi đựng trầu may
hình múi bưởi, thêu trang trí, con dao cau được để trong bao gỗ chạm khắc. Nam giới nay ăn
vận như người Việt, nhưng trước kia thường ngày mặc áo ngắn 5 thân màu nâu, quần kiểu
chân què có cạp lá tọa, vấn khăn đầu rìu.
Người Sán Dìu có làm ruộng nước, nhưng canh tác trên nương đồi, soi, bãi chiếm ưu thế;
ngoài cây lương thực, hoa màu, còn có cây ăn quả, cây công nghiệp (sơn, trẩu, sở, chè).
Phương tiện vận chuyển của họ độc đáo ở chiếc xe quệt có 2 thanh càng gỗ thay cho bánh,
được một con trâu kéo lết trên mặt đất.
Hình thức tiểu gia đình phụ quyền phổ biến, với vai trò quan trọng của chồng, cha và con
trai trưởng. Hôn nhân mang tính gả bán người con gái thông qua của cải thách cưới mà nhà
trai phải chịu. Việc xem số và so tuổi đôi trai gái được coi trọng.
Người Sán Dìu tin "vạn vật hữu linh", đề cao thờ cúng tổ tiên, đồng thời chịu ảnh hưởng của
Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo. Tổ tiên được thờ tới 6-7 đời, thậm chí 10-12 đời. Các
gia đình thờ Táo quân (vua bếp), thổ công, thổ địa, bà Mụ (nặn ra người và bảo hộ trẻ nhỏ).
Các thầy cúng thường có thêm bàn thờ Phật bà Quan âm, bàn thờ Tam Thanh, bàn thờ tổ sư
nghề cúng bái.
Hàng năm, người Sán Dìu có nhiều lễ tết: Nguyên đán (năm mới), Hàn thực (ngày 3 tháng 3
âl), Đoan ngọ (5/5), Vu lan (14/7)..., các nghi lễ nông nghiệp: thượng điền, hạ điền, cúng
thần Nông, tết cơm mới... Mừng sinh nhật và mừng thọ người già được chú trọng.
Theo truyền thống, âm nhạc và múa chỉ phục vụ nghi lễ. Có nhiều loại nhạc cụ : trống, thanh
la, não bạt, kèn, sáo, tù và, một số điệu múa: dâng đèn, chạy đàn, múa gậy... Soọng cô, lối
hát giao duyên nam nữ, ứng khẩu bằng thơ 7 chữ, thường diễn ra trong đám cưới, ngày tết,
hội đầu xuân, chợ phiên..., rất hấp dẫn với người Sán Dìu. Các trò chơi dân gian rất phong
phú: đi cà kheo, kéo co, đấu vật, đánh quay, đuổi gà vào chuồng, đuổi chó vào cũi....

7.Nhóm Tạng - Miến
Nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, phân bố rộng ở Đông
Nam Á lục địa: từ Myanmar, bắc Thái Lan, bắc Lào, tây bắc Việt Nam cho đến
nam Trung Quốc và sang tận đông bắc Ấn Độ. Có rất nhiều tộc người: Akha, Yi,
Lisu, Kachin, Chin, Naga, Karen, Mosso, Bisu... Ở Myanmar, người Miến
(Bamar) đã lập nên quốc gia.
Ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến có 6 dân tộc: Hà Nhì, La Hủ,
Lô Lô, Cống, Si La và Phù Lá, tổng dân số gần 50.000 người (2009). Một số ít
có mặt ở miền núi Bắc Bộ từ rất sớm, còn phần lớn di cư tới trong khoảng từ thế
kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Họ sống thành những xóm nhỏ rải rác trên các vùng


núi cao gần biên giới phía bắc, mưu sinh chủ yếu bằng nông nghiệp nương rẫy,
hoặc ruộng bậc thang (trồng ngô, lúa...), kết hợp với săn bắn, bắt cá và hái
lượm. Trong đời sống, nhiều yếu tố cổ truyền vẫn được bảo lưu. Một kiểu trang
trí đặc sắc, khá phổ biến ở các tộc người nhóm Tạng - Miến, là trên y phục
thường có ghép các mảnh vải màu, dấu ấn của văn hóa du mục. Hạt cây, vỏ ốc,
xu bạc cũng được sử dụng trong trang trí hoặc làm trang sức.
Trưng bày về các dân tộc nhóm Tạng - Miến được bố trí ở tầng 2 của tòa "Trống
đồng", có các hiện vật, nhất là những bộ trang phục sặc sỡ với những trang trí
đáp vải, và ảnh thực địa; thông tin về hiện vật và các bài viết đều bằng 3 ngôn
ngữ: Việt, Pháp, Anh. Ngoài ra, ở Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) có
nhà tường trình Hà Nhì, tái dựng lại nơi cư trú của một gia đình ở huyện Bát
Xát (Lào Cai).
Người Hà Nhì
Dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam có dân số gần 22.000 người (2009), gồm 3 nhóm: Hà Nhì Cồ
Chồ, Hà Nhì La Mí và Hà Nhì Đen. Tiếng nói của họ thuộc ngôn ngữ Tạng – Miến (ngữ hệ
Hán – Tạng). Người Hà Nhì sinh sống ở vùng giáp giới với Lào và Trung Quốc, thuộc địa
bàn hai tỉnh: Lai Châu (huyện Mường Tè) và Lào Cai (huyện Bát Xát). Trong số đó, phần
đông từ Vân Nam (Trung Quốc) di chuyển sang cách đây hơn 300 năm (bộ phận ở Lai
Châu), hay 150 năm (bộ phận ở Lào Cai). Tuy nhiên, theo thư tịch cổ, tổ tiên người Hà Nhì
đã có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ thứ VIII.
Ngoài làm nương, người Hà Nhì có truyền thống làm ruộng bậc thang. Họ có kinh nghiệm
khai phá sườn núi thành những thửa ruộng hẹp, đắp đập, đào mương lấy nước vào ruộng.
Họ dùng cày, bừa để làm đất, cấy lúa và dùng phân trâu bón ruộng. Đa số các gia đình tự
túc vải may mặc và đồ đan. Vải chỉ dệt rộng khoảng 20cm, nhuộm chàm. Ở những địa bàn có
khí hậu lạnh, không trồng được bông, họ đem chàm, gia cầm, sản phẩm đan lát đổi lấy bông
của người Dao, người Giáy. Trang phục nữ Hà Nhì ở Lai Châu được trang trí sặc sỡ, còn ở
Lào Cai không có trang trí. Trước đây, trai gái Hà Nhì thường sử dụng cánh kiến đỏ để
nhuộm răng đen cho đẹp.
Trừ những nơi họ làm nương du canh nên bản làng tạm bợ, còn lại phần đông người Hà Nhì
đã định cư từ lâu. Kiểu nhà phổ biến là nhà trệt có tường đất dày, mái tranh dày.
Người Hà Nhì theo tập tục phụ hệ và lấy tên cha làm tên đệm của con. Cứ đến tối 30 Tết, cả
gia đình quây quần nghe người già kể về việc sinh ra con người, tổ tiên và dòng họ mình,
đồng thời tất cả cùng đọc tên các vị tổ tiên trong phả hệ. Việc thờ cúng tổ tiên thường do con
trai cả đảm nhiệm, bên cạnh đó họ cũng coi trọng thờ cúng bố mẹ vợ.
Vào tháng Hai âm lịch hàng năm, cả bản làm lễ chung, cúng thần đất và thần trông coi bản,
để cầu an và ngăn ngừa ma rừng, đồng thời cầu mùa màng tốt tươi. Xuất phát từ quan niệm
về hồn lúa và ước vọng được mùa, trong nông nghiệp, họ thực hiện nhiều lễ thức, đặc biệt
liên quan tới canh tác nương rẫy.
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Hà Nhì:
y phục, gùi đeo qua trán..., được giới thiệu trong không gian "Tạng – Miến" ở tầng 2 của toà


nhà "Trống đồng". Các bức ảnh thực địa cung cấp những hình ảnh sống động về cuộc sống
của đồng bào. Một khuôn viên Hà Nhì, với 2 ngôi nhà tường trình đưa về từ Bát Xát (Lào
Cai), được chính những người dân địa phương đến dựng lại trong Vườn Kiến trúc (trưng bày
ngoài trờicủa Bảo tàng từ năm 2004.
Người Cống
Theo thống kê dân số quốc gia năm 2009, có hơn 2.000 người Cống sinh sống ở vùng gần
biên giới với Lào và Trung Quốc, trong địa phận huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Tiếng nói
của người Cống thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến (ngữ hệ Hán – Tạng). Khi giao tiếp giữa
những người cùng dân tộc, họ nói tiếng mẹ đẻ, khi ra ngoài cộng đồng, họ thường sử dụng
tiếng Thái – ngôn ngữ của dân tộc láng giềng đông người hơn.
Người Cống ở nhà sàn. Công việc sản xuất chính là làm nương, bộ phận ở ven sông Đà canh
tác lúa nước. Trước kia người Cống chỉ làm nương theo lối phát, đốt, chọc lỗ tra hạt, từ
khoảng năm 1960, hình thức canh tác nương bằng cuốc dần trở nên phổ biến. Hái lượm, bắt
cá ở sông suối và săn bắn cũng là những hoạt động kiếm sống quan trọng của họ. Nam nữ
Cống đều biết đan, sản phẩm là gùi, hòm đựng trang phục, giỏ đựng cơm..., có nơi đan cả
chiếu mây nhuộm đỏ. Mặc dù nghề dệt không phát triển, người Cống trồng bông, để bán
hoặc đổi lấy vải từ các dân tộc khác.
Thanh nữ Cống vấn tóc quanh đầu, còn phụ nữ đã có chồng thì búi tóc lên đỉnh đầu. Nữ giới
mặc váy ống và áo ngắn (xẻ đằng trước hoặc bên nách, buộc dây hoặc cài khuy bướm bằng
bạc hoặc nhôm). Nam giới mặc quần và áo; kiểu áo dài cài khuy bên nách, vai liền, nay đã
hiếm thấy.
Cố kết theo dòng họ, thờ cúng cha mẹ, ông bà và thực hành các nghi lễ nông nghiệp nương
rẫy là những nét nổi bật trong đời sống tâm linh của người Cống. Ngoài thờ cúng theo tập
tục phụ hệ, các gia đình còn cúng bố mẹ vợ nhân dịp tết năm mới.
Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Cống:
hòm mây, đàn, nỏ, đó bắt cá... được giới thiệu trong không gian dành cho các dân tộc nhóm
ngôn ngữ Tạng - Miến, ở tầng 2 của toà nhà "Trống đồng".

8.Nhóm Môn - Khơme
Các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme cư trú rộng khắp Đông Nam
Á, nhất là ở Đông Nam Á lục địa, bao gồm cả đông bắc Ấn Độ và nam Trung
Quốc. Tổ tiên các tộc người này sinh sống trong khu vực này từ rất sớm.
Tại Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme có 21 dân tộc với gần 2,6
triệu người (2009), phân bố trải dài từ vùng Tây Bắc qua Trường Sơn – Tây
Nguyên vào Nam Bộ. Ngoài dân tộc Khơme, hơn 1,2 triệu người, cư trú chủ
yếu ở đồng bằng, còn lại đều ở miền núi, trong đó đông nhất là dân tộc Bana
cũng chỉ gần 228.000 người; thậm chí có những dân tộc dưới 500 người, như:
Rơmăm, Brâu và Ơđu. Phần lớn các tộc người nhóm Môn – Khơme là cư dân
bản địa, nhưng cũng có một số đã di cư tới do những biến động lịch sử ở phía
tây Đông Dương, khi tổ tiên người Thái và người Miến bành trướng xuống phía
nam vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai. Nhiều dân


tộc ngày nay cư trú vắt qua biên giới quốc gia, như người Khơmú, Taôi, Cơtu,
Gié – Triêng..., đặc biệt người Khơme là đồng tộc của cư dân đa số ở
Campuchia.
Các dân tộc nhóm Môn – Khơme đã có quá trình giao lưu văn hoá lâu dài với
các dân tộc cộng cư trong từng vùng. Ở Tây Bắc và miền núi tỉnh Nghệ An, họ
chịu ảnh hưởng đậm nét của người Thái; còn ở Tây Nguyên, giữa họ và các dân
tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo có nhiều yếu tố chung hoặc tương đồng; trong khi
đó ở Nam Bộ là sự giao tiếp văn hoá giữa người Khơme và người Việt.
Trưng bày về các cư dân nhóm Môn – Khơme được bố trí chủ yếu ở tầng 2 của
tòa "Trống đồng", gồm 2 không gian nối tiếp nhau: Môn – Khơme miền Bắc và
Môn – Khơme Trường Sơn – Tây Nguyên. Văn hóa và cuộc sống của họ thể
hiện thông qua hệ thống hiện vật, đặc biệt là đồ đan (nhiều loại gùi, giỏ tuốt lúa,
đó bắt cá), nhạc cụ bằng tre, vỏ bầu... và ảnh thực địa. Có phim video lễ hiến
sinh trâu của người Bana. Ngoài ra, giữa sảnh chính ở tầng 1 còn có cây cột lễ
của người Co, trong Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) có nhà rông
Bana

nhà
mồ
Cơtu.

Nhà rông của người Bana
9.Nhóm Nam Đảo
Các cư dân ngôn ngữ Nam Đảo sinh sống ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan,
song chủ yếu trên các đảo của Indonesia, Timor Leste, Malaysia (đảo và bán
đảo), Philippines, Singapore, Brunei, Madagascar, Micronesia, Polynesia,


Melanesia, New Guinea và Đài Loan. Có khoảng 150 dân tộc với dân số ước
tính 250 triệu người, trong đó ở các nước Đông Nam Á lục địa chỉ có khoảng 9
triệu. Theo nhiều nghiên cứu, tổ tiên cư dân Nam Đảo di cư từ nam Trung Quốc
xuống Thái Bình Dương.
Ở Việt Nam, thuộc ngữ hệ Nam Đảo có 5 dân tộc: Chăm, Giarai, Êđê, Raglai
và Churu, với tổng dân số hơn 1 triệu người (2009). Họ bảo lưu truyền thống
mẫu hệ và dấu tích văn hoá vùng biển.
Người Chăm đã từng có nhà nước. Vương quốc Champa xưa kia để lại một nền
văn hóa hết sức phong phú với hàng loạt đền tháp rất nổi tiếng. Chữ viết Chăm
thuộc hệ chữ gốc Ấn Độ. Phụ nữ Chăm giỏi dệt lụa và làm gốm. Hiện tại, bộ
phận người Chăm ở duyên hải miền Trung theo đạo Bàlamôn hoặc Bàni. Kinh
tế truyền thống chính của họ là nông nghiệp lúa nước. Bộ phận ở thành phố Hồ
Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ theo Islam giáo. Họ chủ yếu sinh sống bằng đánh
cá, buôn bán và có nghề đóng thuyền nổi tiếng.
Người Chăm Hroi và 4 tộc người khác thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Giarai, Êđê,
Raglai, Churu) sinh sống ở Tây Nguyên và miền núi các tỉnh từ Phú Yên vào
Bình Thuận. Sự phân bố này nối liền với địa bàn cư trú của người Chăm, tạo
thành một vùng văn hoá Nam Đảo ở Đông Dương. Các cư dân Nam Đảo có mặt
ở Tây Nguyên từ rất sớm, nhưng chắc là sau các cư dân ngôn ngữ Môn –
Khơme và trước khi hình thành vương quốc Champa. Nguồn sống chính của họ
là lúa rẫy, gieo trồng theo chế độ hưu canh, bỏ hoá đất lâu năm rồi mới canh tác
trở lại. Ruộng nước trước đây chỉ có ở một số nơi có đất sình lầy. Tổ chức xã
hội tự quản cổ truyền là làng, tập hợp các gia đình lớn mẫu hệ. Tuy nhiên, các
gia đình nhỏ (gồm một cặp vợ chồng và các con) nay đã phổ biến. Đời sống vận
hành theo phong tục. Tính cộng đồng làng rất cao, nhưng sự phân hoá giàu
nghèo trong dân làng cũng đã rõ.
Trong trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, không gian
giới thiệu về các cư dân Nam Đảo được bố trí ở tầng 2 của tòa nhà “Trống
đồng". Hiện vật rất phong phú, gồm các loại công cụ sản xuất, đồ gia dụng,
nhạc cụ, trang phục, tẩu hút thuốc, đồ đan (gùi, giỏ, hộp...), đồ gốm và dụng cụ
làm gốm, tượng mồ... Ngoài ra, trong Vườn Kiến trúc (Khu trưng bày ngoài
trời) còn có 3 tổ hợp kiến trúc dân gian rất đặc sắc. Đó là khuôn viên của một
gia đình mẫu hệ người Chăm với 5 ngôi nhà, nhà dài của người Êđê và nhà mồ
của người Giarai. Các phim dân tộc học thời lượng ngắn và nhiều bức ảnh thực
địa minh họa sinh động cuộc sống của đồng bào.


Nhà dài của người Êđê

Nhà mồ Giarai
Câu 2: ( chọn 1 trong 4 )
2.1) Mô hình nhà ở truyền thống người Ba-na ở bảo tàng DTHVN.
2.2) Mô hình nhà ở truyền thống người Ê - đê ở bảo tàng DTHVN.
2,3) Mô hình nhà mồ Tây Nguyên tại bảo tàng DTHVN.


2.4) Mô hình nhà ở truyền thống của người Việt(Kinh) ở bảo tàng DTHVN

Mô hình nhà mồ Tây Nguyên
a. Nhà mồ Tây nguyên- Nghệ thuật điêu khắc độc đáo
Lời cúng hồn hòa trong ánh lửa bập bùng soi tỏ những bức tượng nhà mồ độc
đáo tạo nên không gian huyền bí cho ngôi nhà mồ của người Gia rai trong ngày
lễ bỏ mã. Để rồi, những ngôi nhà ấy trở thành niềm tự hào của người sống và là
nơi trú ẩn vĩnh viễn của người chết.

Theo phong tục từ ngàn đời nay, trước lễ bỏ mả vài chục ngày, người Gia-rai
vào rừng chọn cây gỗ tốt để dựng nhà mồ. Nhà mồ là sản phẩm kiến trúc độc
đáo được xây dưng từ những bàn tay tài hoa, khéo léo của cả cộng đồng. Những
người già có nhiều kinh nghiệm thì chịu trách nhiệm trang trí mỹ thuật, còn
thanh niên trai tráng thì dựng cột và làm những việc nặng nhọc hơn.
Khi đo đạc làm nhà mồ, người ta không dùng thước mà dùng những đơn vị cơ
thể người. Ví dụ: 1 hapa (một sải tay); 1hlok (1 cánh tay); 1 hagan (1 bàn tay)
…. Lấy con người làm trung tâm, làm hệ thống đơn vị đo lường đã cho thấy
việc coi tầm vóc con người là chuẩn mực, đề cao vẻ đẹp con người đó cũng là
một nét độc đáo trong nghệ thuật và kiến trúc dân gian Tây Nguyên. Trong kiến
trúc, một trong những nét nghệ thuật là ở chỗ những công trình lớn thường được
thiết kế sao cho kiểu dáng nhẹ nhàng thanh thoát, thì các công trình nhỏ lại có
dáng dấp hoành tráng đồ sộ. Những ngôi nhà mồ Tây Nguyên chính là những
công trình nhỏ mà dáng vẻ lại hoành tráng đồ sộ, mang tầm khái quát cao.


Điều đặc biệt là kỹ thuật dựng nhà mồ hoàn toàn thô sơ. Chính điều đó tạo cho
nhà mồ một dáng vẻ nguyên sơ mộc mạc với nét đẹp tự nhiên nguyên thủy.

Nhà mồ được dựng theo kết cấu, hai mái lớn (2 mái chính) hình thang cân, 2
mái nhỏ (2 chái) ở hai đầu hồi đều hình tam giác cân, vách được ghép kín bằng
những thân cây gỗ dựng sát vào nhau, có 2 cửa nhỏ mở về hướng đông. Thường
thì nhà mồ có 8 cột gỗ đỡ bộ mái, tạo thành 2 hàng cột theo chiều dọc nền nhà.
Kết cấu mái nhà mồ khá đơn giản, gồm một hệ thống các xà đơn và xà ngang,
trên đó lợp bằng những tấm gỗ ván dày khoảng 3 cm, cạnh bên có đẽo gờ để lấp
chồng khít với nhau. Trên hai mái chính đều lợp một tấm đan bằng nan tre lồ ô
với đầy hoa văn trang trí. Hoa văn trên mái nhà mồ được trang trí công phu
thường vẽ theo lối dân gian, thường là hình cây rau dớn, cây đót, hoa bát canh,
hoa hạt đa, hoa sao, hoa chàm… đặc sắc nhất và nổi bật nhất là”hoa cây đoái”.


Chiếm vị trí trung tâm ở mỗi mái, gồm hình 5 thân cây có cành lá hoa quả và có
những con chim bay lượn phía trên; dưới gốc cây có người dùng nỏ bắn chim,
phụ nữ đeo gùi, những người uống rượu cần….Trên mái nhà mồ, ngoài các đồ
án hoa văn vẽ, cũng có mô típ hoa văn hình quả trám được tạo bởi kỹ thuật đan
nam, tất cả như tạo thành một bức tranh lớn, đẹp và hấp dẫn.
Hình ảnh các tượng gỗ là một điều không thể thiếu và tạo nên nét đặc sắc nhất


cho các ngôi nhà mồ. Thông thường, quanh mỗi nhà mồ người Gia rai có 27
tượng gỗ nhô lên nối tiếp liền với những cột chính để liên kết với hàng trăm
khúc gỗ tròn nhỏ dựng thành hàng rào. Tượng gỗ được gọt đẽo thô sơ, giản lược
trong đường nét, hình khối, có tính gợi tả chứ không cặn kẽ chi tiết, song hết
sức sinh động, mộc mạc mà chân thực, mang đậm triết lý nhân sinh, cái siêu
thực và cái hiện thực đan xen hài hòa. Theo quan niệm của người Gia rai, người
chết cũng có cuộc sống như người dương gian. Vì vậy, tập hợp những tượng gỗ
xung quanh nhà mồ là hình ảnh diễn tả những người đi theo hầu hạ người chết.
Không những thế, nó còn có tác dụng tô điểm, làm cho buổi lễ bỏ mả sinh động
hơn.


Những tượng gỗ này có nội dung hết sức phong phú đa dạng, phản ánh đầy đủ
và chân thực cuộc sống của người dân tộc Gia-rai. Tượng gỗ thể hiện sự sinh sôi
nảy nở của một cuộc sống ở bên kia thế giới. Đó là hình ảnh một cặp nam nữ
đang trong tư thế tín giao, hình người đàn bà chửa, hình người ngồi trong tư thế
hài nhi, hình người mẹ bồng con… tất cả diến tả một sự kết hợp âm dương để
sinh thành nên sự sống. Con người thuở nguyên sơ, phô bày trong dáng khoả
thân, minh chứng sức mạnh truyền đời của loài người với những nét đẽo khô
ráp nhưng được cường điệu những bộ phận người cần được phô trương, bởi thế
đường nét mạnh mẽ, gây ấn tượng rất mạnh, rất khác thường. Với những đường
nét thô sơ nhưng được những nghệ nhân chạm khắc tinh tế và có hồn.



Nhà mồ không chỉ là một công trình kiến trúc mang tính tín ngưỡng lâu đời mà
còn là một công trình nghệ thuật tổng hợp, gồm nghệ thuật điêu khắc, hội hoạ,
kiến trúc và trang trí mỹ thuật độc đáo.

b. tên gọi và ý nghĩa của một số lớp tượng mồ
Lớp tượng thứ nhất:Tượng hình người ôm mặt.
Tượng người ôm mặt (mặt trước) Tượng người ôm mặt (mặt nghiêng) Lớp
tượng ôm mặt gồm có 5 bức, trong đó có 4 bức được chôn ở bốn góc nhà
mồ, mặt tượng quay theo 4 hướng đông, tây, nam, bắc, riêng mặt phía đông
của ngôi nhà mồ có thêm 1 tượng ở chính giữa hàng rào. Tượng ôm mặt


(kra-kôm), tư thế ngồi xổm, hai khuỷu tay chống lên hai đầu gối và hai bàn
tay ôm lấy má. Về vị trí chôn tượng mang tính phổ biến giống như bất cứ
ngôi nhà mồ A ráp nào ở Tây Nguyên là cách chôn tượng ôm mặt ở 4 góc
nhà mồ. Theo các tài liệu nghiên cứu, lớp tượng này được coi là lớp tượng
cổ nhất, xoay quanh bức tượng ôm mặt có nhiều cách giải thích khác nhau.
Những người địa phương gọi tượng là kra-kôm; kra theo tiếng Gia-rai nghĩa
là "con khỉ", theo đồng bào giải thính đó chính là nô lệ (hlun) thường được
chôn theo người chết, sau này người ta không chôn theo nô lệ nữa mà thay
thế bằng tượng gỗ. Giắc Đuốc , nhà dân tộc học người Pháp, người nhiều
năm sinh sống với người Gia-rai, đưa ra cách giải thích tượng tự. Thông qua
việc nghiên cứu các truyền thuyết liên quan đến tượng mồ, những đoạn sử
thi nói về bỏ mả, Giắc Đuốc cho rằng, loại tượng này nằm trong nhóm tượng
thể hiện những người, vật đi theo phục vụ, hầu hạ người chết. Vì ông cho
rằng, trong xã hội cổ truyền của người Gia-rai có một số tù trưởng hùng
mạnh có quyền bắt và nuôi nô lệ trong nhà, những nô lệ này cũng chỉ được
coi như vật ngang giá như những đồ vật khác, và khi người tù trưởng chết,
nô lệ cũng được chôn theo như đồ tuỳ táng. Có một cách giải thính khác của
tiến sỹ Ngô Văn Doanh về lớp tượng này khi ông dựa vào tư thế của bức
tượng hình người ôm mặt, ông cho rằng đó là "những sinh linh ngồi trong tư
thế bào thai" 3 ông tìm thấy được nghĩa bóng của từ kra trong tiếng Gia-rai,
là từ chỉ về sự hình thành của một con người chưa hoàn chỉnh, do đó ông
cho rằng tượng hình người ôm mặt là tượng một bào thai đang nằm trong
bụng mẹ. Theo chúng tôi, những cách giải thính trên chưa thật thuyết phục
vì việc chôn nô lệ theo người chết trong lịch sử không phải là phổ biến ở tộc
người Gia-rai, do vậy khó có thể thay thế vật chôn theo là nô lệ bằng tượng
gỗ. Mặt khác, trực quan cũng như kiến thức về giải phẫu học của người Giarai chưa đủ trình độ để nhận biết được tư thế của bào thai nằm trong bụng
mẹ, chưa nói đến tư thế đó là ngược với thực tế. Chúng tôi thì cho rằng, ý
nghĩa của lớp tượng ôm mặt lại xuất phát ngay từ tập quán thăm nuôi mả của
người Gia-rai. Theo phong tục, khi chưa làm lễ bỏ mả cho người chết, hàng
ngày người thân trong gia đình phải mang cơm, nước ra mộ để nuôi mả,
nghĩa là đem cơm nước cho người chết ăn, uống. Người thân ngồi khóc, kể
lại những kỷ niệm của người chết khi còn sống. Lúc khóc người ta thường
ngồi xổm, hai tay chống hai đầu gối, bàn tay ôm lấy má của mình, tư thế này
được coi là phổ biến trong bất cứ khu nghĩa địa nào của người Gia-rai ở Tây
Nguyên. Việc thăm nuôi mả chỉ được kết thúc khi người ta tiến hành nghi lễ
bỏ mả để giải thoát cho ma của người chết về với tổ tiên. Để chuẩn bị cho
cuộc chia tay vĩnh viễn đó người chủ hộ thường đẽo lấy tượng có tư thế ôm
mặt rồi dựng tại nhà mồ, coi nó như một người trong gia đình, hàng ngày
vẫn đến thăm nuôi, ngồi bên mộ buồn khóc người đã chết.


Lớp tượng thứ 2:Lớp tượng liên quan đến tín ngưỡng phồn thực với hai 3
dạng biểu hiện: nam nữ giao hợp, đàn ông, đàn bà khoe bộ phận sinh dục,
đàn bà chửa.
Chúng tôi liệt kê ra đây số tượng mang dấu ấn tín ngưỡng phồn thực, ở
hàng rào mặt phía đông của nhà mồ này có: 3 cặp nam nữ giao hợp (đơmơi-tui sang), 1 tượng đàn bà chửa (gra-bor-bi-mau cây), mặt phía tây
có: 1 tượng đàn bà chửa, một tượng đàn ông khoe dương vật (rúp-dakkơng), 1 tượng phụ nữ cởi truồng (gra-lâu-hyôn), mặt phía nam: 1 tượng
đàn bà chửa, mặt phía bắc có: một tượng đàn bà ở truồng, 1 đàn ông khoe
dương vật. Như vậy có tới 14 bức tượng liên quan đến tín ngưỡng phồn
thực trong tổng số 27 bức tượng. Những bức tượng kiểu này mang tính
phổ biến ở nhà mồ của nhóm Gia-rai A ráp. Trên thực tế, ngôi nhà mồ
làng Kép, xã Iamnông, huyện Chưpah, tỉnh Gia Lai được dân địa phương
bỏ vào tháng 3 năm 1997, trong tổng số 30 tượng diễn tả đời sống của
người Gia-rai có tới 5 cặp tượng thể hiện cảnh nam nữ giao hợp.
Trước đây những nghiên cứu về Tây Nguyên cho thấy, trên các cột kút và
cột klao ở nhà mồ thuộc nhóm Gia-rai khác thường có trang trí cặp ngà
voi tượng trưng cho cặp vú, dưới cặp vú – ngà voi thường được khắc
hình âm vật cách điệu dưới dạng các hình hoa thị, chữ thập, cũng trên các
cặp cột này luôn luôn có hình cặp đùi, háng, bẹn và âm hộ bà Hơkroih,
biểu tượng của phồn thực của cư dân nông nghiệp. Nhưng cặp tượng,
bức tượng mà chúng tôi nêu ra đây không còn tính cách điệu nữa mà
những chi tiết liên quan đến bộ phận sinh dục đều được đặc tả và phóng
đại, đặc biệt là bức tượng đàn ông khoe dương vật hoặc đàn bà ở truồng .
Vì vậy, ở những ngôi nhà mồ thuộc nhóm Gia-rai Aráp ta còn tìm được
một hình tượng nghệ thuật đặc biệt, đó là mối quan hệ giữa những quan
niệm về tang ma với biểu tượng phồn thực. Những cặp tượng nam nữ
giao hoan được khắc họa một cánh tự nhiên với nhiều tư thế, tư thế nào
cũng mang tính chủ động. Xuất phát từ trực quan, từ mối liên hệ nhân
quả của các sự kiện, hiện tượng trong cuộc sống, sau khi khắc họa những
cặp tượng giao hợp của đôi nam nữ, người thợ Gia–rai đã đẽo tượng đàn
bà chửa thể hiện hệ quả tất yếu của hoạt động tính giao. Những bức
tượng nam nữ giao hợp, nam nữ phô bày bộ phận sinh dục, đàn bà chửa
được chôn ngay trên mộ của người chết, không đơn thuần chỉ là để làm
cho không khí nhà mồ thêm vui nhộn trong buổi lễ bỏ mả như cách giải
thích của một số người Gia-rai, mà nó còn gắn liền với một niềm tin về
sự chấm dứt của cái chết và sự bắt đầu của một cuộc sống mới, vượt lên
cái chết là những hoạt động nhằm sinh sôi nảy nở cuộc sống mới, tạo ra
những mầm mống phôi thai của một cuộc sống mới. Có thể nói, lớp
tượng này là một bằng chứng mạnh mẽ, có tính thuyết phục khẳng định
tín ngưỡng phồn thực của người Gia-rai Aráp đã tồn tại trong của lịch sử
tộc người này với những dạng biểu hiện cơ bản: cơ quan sinh dục nam


nữ, bản thân hành vi giao phối và kết quả của việc giao phối. Cho nên,
không có gì đáng ngạc nhiên, trong những đêm diễn ra lễ hội bỏ mả, theo
một số người già đã từng tham gia lễ hội bỏ mả cánh đây mấy chục năm
cho biết, từng là những đêm hoàn toàn tự do đối với nam nữ chưa vợ
chồng. Lễ hội bỏ mả còn được coi như ngày giải phóng đối với đàn ông
goá vợ, đàn bà goá chồng thoát khỏi sự giàng buộc vợ-chồng với người
đã chết, sau lễ hội này người ta có thể kết hôn với người khác mà không
sợ phạm vào điều cấm kỵ của luật tục. Đúng như nhận xét: "đây là thời
điểm giao thoa giữa Chết và Sống, từ Chết trở về với Sống, giữa cảnh
Chết mà chuẩn bị cho cuộc Sống. Cũng vậy, về đôi nam nữ trần truồng
thường chiếm vị trí quan trọng nhất giữa các tượng bao quanh "nhà ma."
Lớp tượng thứ 3:Tượng người mặt dài (nuih-ha-bok-ró)
Tượng mặt dài Tượng được thể hiện với hình dáng người không có thân,
cổ hình cây rau dớn (ktoanh), khuôn mặt được đẽo dài. Mặc dù ở ngôi
nhà mồ này chỉ có một tượng mặt dài nhưng chúng tôi vẫn xếp vào một
lớp tượng riêng biệt. Bước đầu tìm hiểu chúng tôi nhận biết đây là tượng
liên quan đến nghi thức cuối cùng của lễ hội bỏ mả. Người ta cho biết
bức tượng này chính là biến thể của bram, người được hoá trang và rời
khỏi nhà mồ cuối cùng trong lễ hội bỏ mả. Theo phong tục địa
phương bram thường là hai thanh niên khỏe mạnh, mặc áo lá chuối, trát
đầy bùn đầy người, đầu cắm lông chim, luôn nhảy múa quanh nhà mồ. Vì
theo quan niệm của người Gia-rai bỏ mả là ngày vui cuối cùng với người
chết, ngày vui sắp hết, người ta sợ ma (a-tâu) sẽ theo người thân về làng
phá rối cuộc sống yên lành của người sống, nên dân làng đã hoá trang ra
những hình người bram gớm ghiếc để ma sợ hãi, không nhận ra người
thân, người cùng làng mà theo về. Những bram này phải rời khỏi nhà mồ
trước khi Mặt Trời lặn vì ở cõi âm ngày là đêm, ánh sáng trên cõi dương
chưa kịp tắt thì vẫn là đêm tối mông lung ở cõi âm, vì vậy mà ma cũng
chẳng nhớ đường trở về làng của người sống. Sau cùng để cho thật sự yên
tâm, phòng tránh khả năng ma theo người về làng quấy phá người sống,
trong khi đẽo tượng người ta đẽo lấy một hình người mặt dài mô phỏng
hình ảnh của bram rồi chôn ở nhà mồ, coi tượng bramnhư một thứ bùa
áng ngữ lối về của ma. Chúng tôi cũng chưa tìm được cách giải thính nào
có tính thuyết phục hơn về lớp tượng này, đây vẫn là vấn đề tồn nghi?
Là lớp tượng ra đời muộn hơn, tượng diễn tả những sinh hoạt thường
ngày của người dân Gia-rai. Từ cuộc sống, thông qua ngôn ngữ tạo
hình, hoạt động của con người đi vào trong tác phẩm điêu khắc một
cách tự nhiên, gợi cảm. Đặc biệt là những bức tượng thể hiện những
hoạt động của con người trong đêm lễ hội bỏ mả.
Tượng cô gái chia cơm lam (gra-nhá-brơng-kuach), được gắn với
bữa ăn bỏ mả truyền thống của người Gia-rai, một bữa ăn có tính


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×