Tải bản đầy đủ

Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy phần lịch sử thế giới cận đại (lớp 10 chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường phổ thông

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
===
===

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ
===
===

TRỊNH THỊ THƯƠNG

VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI
(LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

ThS. PHAN THỊ THÚY CHÂM

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của
bản thân, còn có sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như
sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS. Phan Thị Thúy Châm
- người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn
Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô trong tổ Xã
hội trường THPT Kim Anh (Hà Nội) đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực
nghiệm và hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên

Trịnh Thị Thương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình. Những
số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được
công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên

Trịnh Thị Thương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

STT

CÁCH VIẾT TẮT

NGHĨA

1

BHLS

Bài học lịch sử

2

DHLS

Dạy học lịch sử

3

GV

Giáo viên

4

HS

Học sinh

5

NXB

Nhà xuất bản

6

PPDH

Phương pháp dạy học

7

SGK

Sách giáo khoa

8

THPT

Trung học phổ thông

9

KTDH

Kĩ thuật dạy học

10

LS

Lịch sử

11

NLHT

Năng lực hợp tác


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. ............................ 8
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài .................................................................. 9
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................... 10
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 10
7. Đóng góp của khóa luận.............................................................................. 11
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................... 11
9. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................ 11
NỘI DUNG ..................................................................................................... 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
THPT ............................................................................................................... 12
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN ...................................................................................... 12
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực. ......
12
1.1.1.1 Phương pháp dạy học .......................................................................... 12
1.1.1.2. Kĩ thuật dạy học ................................................................................. 13
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường THPT..................... 14
1.1.3. Đặc trưng của kiến thức Lịch sử. .......................................................... 16
1.1.4. Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT .............................. 18
1.1.5. Một số kĩ thuật dạy học tích cực ........................................................... 23
1.1.5.1. Kĩ thuật khăn trải bàn ......................................................................... 23
1.1.5.2. Kĩ thuật mảnh ghép ............................................................................ 25


1.1.5.3. Kĩ thuật bể cá ..................................................................................... 30
1.1.6. Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường
THPT. .............................................................................................................. 31
1.1.6.1. Khái niệm năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử ...........................
31
1.1.6.2. Nội dung của năng lực hợp tác cần phát triển cho HS trong DHLS ở
trường THPT. .................................................................................................. 33
1.1.7. Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng KTDH tích cực nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho HS ở trường THPT.
1.1.7.1. Vai trò
1.1.7.2. Ý nghĩa
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................................ 43
1.2.1. Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT. .................................... 43
1.2.2. Thực trạng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học lịch sử
ở trường THPT. ............................................................................................... 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 56
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (SGK LỊCH SỬ 10,
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN).......................................................................... 57
2.1. Vị trí, mục tiêu nội dung phần lịch sử thế giới cận đại............................ 57
2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 57
2.1.2. Mục tiêu................................................................................................. 58
2.1.3. Nội dung cơ bản .................................................................................... 60
2.2. Nguyên tắc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực
hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại (sgk lịch sử
10, chương trình chuẩn) .................................................................................. 64
2.2.1. Đảm bảo được mục tiêu môn học ......................................................... 64


2.2.2. Đảm bảo tính vừa sức............................................................................ 64
2.2.3. Đảm bảo tính thực tiễn .......................................................................... 65
2.2.4. Hình thức, biện pháp sử dụng phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến
thức cơ bản. ..................................................................................................... 65
2.2.5. Hình thức, biện pháp sử dụng phải linh hoạt, sáng tạo .........................
66
2.3. Các KTDH tích cực có thể áp dụng trong phần Lịch sử thế giới cận đại
nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh............................................... 66
2.4. Một số biện pháp vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại
(SGK lịch sử 10, chương trình chuẩn) ............................................................ 75
2.4.1. Vận dụng kĩ thuật khăn trải bàn để tổ chức hiệu quả hoạt động nhóm 75
2.4.2. Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép phát huy năng lực tổ chức và quản lý của
học sinh. .......................................................................................................... 77
2.4.3. Vận dụng kĩ thuật bể cá phát huy năng lực đánh giá cho học sinh
2.5. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM................................................................... 82
2.5.1 Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 82
2.5.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm........................................................ 83
2.5.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm................................................ 83
2.5.4. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 84
2.5.5. Kết luận sau thực nghiệm...................................................................... 88
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................. 90
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 91
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 93
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của
thông tin tri thức. Thông tin tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyền lực tối
ưu của mỗi quốc gia. Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công
nghệ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân loại.
Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia
bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong
đếm được.
Ở cấp THPT, mỗi môn học đều góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ giáo dục mà Đảng đề ra. Bộ môn Lịch sử ở trường THPT là môn học với
đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc,
truyền thống dân tộc, hình thành thế giới quan khoa học… Song do đặc thù
của bộ môn lịch sử, do một số GV còn chưa thực sử hiểu sâu về phương pháp
dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưa làm chủ được kiến thức dẫn
đến giờ học khô khan nhàm chán và nặng nề. Tình trạng này đã làm mất đi
tính hấp dẫn của môn lịch sử. Hơn nữa do tư tưởng coi lịch sử là môn phụ
cùng những quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần trí nhớ không phải
tư duy động não, không có bài tập thực hành nên nhiều học sinh đã quay lưng
lại với môn lịch sử.
Trước tình hình mới, đặt ra yêu cầu cho giáo dục nước nhà những
thách thức nhất định, đặc biệt trong đó là phải bắt kịp với xu thế phát triển
chung của nhân loại và giáo dục thế giới, trong đó yêu cầu đổi mới vận dụng
một số phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại trở nên bức thiết hơn bao
giờ hết. Đổi mới giáo dục cần đổi mới một cách đồng bộ từ chương trình đến
nội dung dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học.
Phương pháp dạy học nói chung và cụ thể là việc vận dụng các kĩ thuật

1


dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực cho HS là rất cần thiết
đối với mọi GV và người làm công tác giáo dục lịch sử nói riêng. Nghiên cứu
các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung, đặc trưng bộ
môn, tâm lý của học sinh và mục tiêu của nhà trường phổ thông. Do vậy để
giúp cho nhận thức lịch sử của học sinh trở nên đúng đắn chúng ta cần phải có
những phương pháp cụ thể được xây dựng trên cơ sở khoa học.
Trong khung năng lực cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông,
năng lực hợp tác được coi là một trong những năng lực quan trọng. Bởi hợp
tác không chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực hoặc trí tuệ để hoàn thành mục
tiêu chung, mà quan trọng hơn mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng
gắn kết, phụ thuộc với nhau hơn bao giờ hết. Trong dạy học lịch sử năng lực
hợp tác, là những hành động, kỹ thuật, thái độ học tập được thực hiện một
cách đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả trên cơ sở vận dụng những tri
thức, kinh nghiệm học tập hợp tác với GV và bạn học nhằm thực hiện mục
tiêu học tập lịch sử.
Trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) phần lịch sử thế
giới cận đại có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt có nhiều sự kiện quan trọng,
nhân vật tiêu biểu, điển hình, có sử dụng nhiều khái niệm, thuật ngữ lịch sử
đòi hỏi học sinh phải nhận thức đúng bản chất của nó. Xem đây là một phần
lịch sử khó và đòi hỏi người giáo viên phải có những phương pháp và kỹ
thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực cho HS. Chính vì vậy, việc vận
dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại trong giai đoạn lịch
sử này nhằm phát triển năng lực hợp tác cho HS là rất cần thiết.
Từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng kĩ thuật dạy
học tích cực trong dạy phần lịch sử thế giới cận đại (lớp 10 chương trình
chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường phổ thông”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình”.


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học nói chung và
dạy học lịch sử nói riêng rất quan trọng đối với việc hình thành và phát triển
năng lực hợp tác cho HS. Điều này đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và
trình bày trong các công trình nghiên cứu của mình.
2.1. Tài liệu nước ngoài
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực có nguồn gốc sâu xa từ
dạy học tích cực. Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Sôcrat (470 – 399
TCN), đã từng dạy học trò của mình bằng cách luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở
nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý. Phương châm sống của
ông là “…sự tự nhận thức, nhận thức chính mình…”[19; tr.29]
Khổng Tử (551 - 479), nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc thời cổ đại
đã chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh. Ông đòi hỏi học trò phải biết rèn
luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến
thức một cách chủ động, sáng tạo. Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì
không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật
có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy
nữa” [17; tr.15].
Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin
đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân
chủ. “Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách cư xử trong nhóm và xây
dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác. Sau đó, Morton Deutsch đã phát
triển lí luận hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở những lí luận nền tảng của
Lewin”[39; tr.57]. Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lý thuyết về các tình
huống hợp tác và cạnh tranh”.
“Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người
học sẽ có lời nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu”


[40; tr.68]. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph
Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia HS thành
từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau
trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả
học tập tốt.
B.P. Exipop trong cuốn “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3
NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc
lập, ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ
của nhà trường là phải phát triển tính tích cực và phương pháp làm việc tự
lập cho HS”. [9; tr.112]
Trong giáo dục lịch sử, N.G. Dari với cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử
như thế nào” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973 (người dịch Đặng Bích Hà và
Nguyễn Cao Lũy) đã trình bày một vấn đề rất quan trọng của việc dạy học bộ
môn. “Tác giả đã đưa ra những yêu cầu quan trọng của giờ học lịch sủ, trong
đó hoạt động nhận thức tích cực của HS là một điều kiện bắt buộc đối với giờ
học được tổ chức khoa học và hiệu quả”.[8; tr.98]
Các tác giả Robert J. Mazano, Debra J. Pickering, Jane E. Pollock của
cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (NXB Việt Nam 2013) đã nêu rõ
mục đích của tác phẩm là nhằm phát huy cao độ khả năng học tập của học
sinh, nâng cao chất lượng của bài học trên lớp. “Trong tác phẩm đã đề cập tới
một số phương pháp cụ thể như dạy học nhóm, dạy học phi ngôn ngữ và 9
phương pháp dạy học có hiệu quả lớn đối với kết quả học tập của HS trong
đó chỉ cho GV những cách làm cụ thể để thực hiện công tác giảng dạy hiệu
quả nhất”. [16; tr.123]


2.2. Tài liệu trong nước
GS. Nguyễn Thị Côi, trong cuốn “Các con đường nâng cao hiệu quả
DHLS ở trường phổ thông” (NXB Đại học Sư phạm, 2006), coi việc đánh giá
sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách đúng đắn là biểu hiện của hiệu quả
DHLS và tính khoa học của các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài
học lịch sử: “Tính khoa học của nội dung bài học còn thể hiện ở việc đánh
giá, giải thích để tìm ra bản chất, mối quan hệ nhân quả, sự phát triển có tính
quy luật của các sự kiện, hiện tượng lịch sử” [4; tr.28].
Tác giả cũng đưa ra những yêu cầu đối với việc đánh giá sự kiện, hiện
tượng lịch sử, phải đảm bảo những nguyên tắc của phương pháp luận sử học.
Đó là, đánh giá dựa trên quan điểm lịch sử kết hợp với quan điểm giai cấp,
tránh hiện đại hóa, bóp méo lịch sử.
Trong cuốn “Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của dự án Việt – Bỉ NXB Đại học sư phạm Hà Nội. Giới thiệu một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hiện đang được thực hiện tại nhiều
nước trên thế giới và các nước trong khu vực, nhằm giúp cho giáo viên, cán
bộ quản lý giáo dục Việt Nam tiếp cận với một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực của học sinh như: Phương pháp học góc, học theo hợp đồng,
học theo dự án và các kĩ thuật khăn phủ bàn, mảnh ghép và bể cá.
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2010), NXB ĐHSP Hà
Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) đề cập vấn đề “Việc phát triển năng lực nhận
thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm
cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành
người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”[15;
tr.59].
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo
dục (2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy học


hiện đại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học
hiện đại. Thái Duy Tuyên quan niệm rằng những phương pháp dạy học như:
dạy học nêu vấn đề, dạy học theo lí thuyết kiến tạo, dạy học theo quan điểm
sư phạm học tương tác, các phương pháp tích cực trong dạy học, là các hệ
thống PPDH hiện đại bởi vì các hệ thống PPDH này còn tương đối mới ở Việt
Nam và chúng cũng là xu thế chung của thế giới hiện nay.
Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về nội
dung đổi mới phương pháp dạy học - tái hiện và sáng tạo trong dạy học, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,... và nhấn mạnh “Điều quan trọng
nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học là Thầy dạy thế nào để học sinh
động não, để làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát
triển trí thông minh, trí sáng tạo của họ. Đó là bản chất của vấn đề, là sự vận
động nội tại của phương pháp giảng dạy” [27; tr.68]. Vì vậy, điều then chốt
của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học chính là hướng đến việc tăng cường
những phương pháp dạy học sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận
thức của học sinh trong quá trình dạy học.
Luận văn Thạc sĩ, Khoa Lịch sử, Đại học sư phạm Hà Nội, (2010) của
Trần Quỳnh Chi “Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay (Áp dụng vào DHLS
Việt Nam lớp 12 THPT, giai đoạn 1930-1945, chương trình chuẩn), đã trình
bày một số biện pháp đổi mới DHLS ở trường THPT như áp dụng dạy học
theo nhóm tại lớp, vận dụng dạy học định hướng hành động, vận dụng dạy
học theo quan điểm tích hợp liên môn, cải tiến kiểm tra, đánh giá…đồng thời
sử dụng một số KTDH tích cực: bể cá, khăn trải bàn, mảnh ghép… nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh.
Luận văn Thạc sĩ, Khoa Lịch sử, Đại học sư phạm Hà Nội, 2011 của
Đinh Ngọc Bích Khuyên “Sử dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học


hiện đại trong môn lịch sử ở trường THPT (Vận dụng qua phần lịch sử Việt
Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX lớp 10 chương trình chuẩn), đã trình
bày một số phương pháp, KTDH hiện đại để phát huy tính tích cực của HS
như dạy học dự án, dạy học hợp đồng, dạy học theo góc…cũng như xác định
các yêu cầu cơ bản khi vận dụng các phương pháp, KTDH này trong trường
THPT.
Luận án Tiến sĩ, Khoa Lịch sử, Đại học sư phạm Hà Nội, 2013 của Hà
Thị Lịch “Tổ chức dạy học nhóm trong dạy học Lịch sử ở trường THPT (Vận
dụng qua dạy học lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến thế kỉ XVI lớp 10, chương
trình chuẩn)” là công trình đầu tiên, nghiên cứu tập trung, chuyên biệt và hệ
thống về tổ chức hoạt động nhóm cho HS trong dạy học phần lịch sử cụ thể ở
trường THPT. “Đồng thời luận án đã thiết kế một số dạng tổ chức hoạt động
nhóm và đề xuất biên pháp tổ chức hoạt động nhóm đa dạng, linh hoạt theo
một quy trình khoa học trong dạy học phần Lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến
giữa thế kỉ XVI”. [37; tr.68]
Liên quan đến sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong DHLS ở trường
phổ thông, tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng đã công bố một số bài viết và tài liệu
trong chuyên đề tập huấn, bối dưỡng GV như: tài liệu bồi dưỡng chuyên đề
“Về định hướng ứng dụng công nghệ thông tin và vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát triển năng lực người học” (2014).
Trong các tài liệu này, tác giả đã trình bày một số kĩ thuật dạy học hiện đại,
trong đó có kĩ thuật khăn trải bàn, mảnh ghép, bể cá…Tài liệu này đã chỉ ra
khái niệm, ưu-nhược điểm và cách tiến hành của mỗi kĩ thuật. Đây là cơ sở
quan trọng về mặt lý thuyết của các kỹ thuật để tôi thực hiện đề tài.
Cuốn “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông” (2015), của Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã đề cập tới một


số phương pháp dạy học tích cực cũng như các năng lực cho học sinh như:
dạy học nhóm, dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, đóng vai.
Một số bài viết trên tạp chí như: “Dạy học hợp tác và vấn đề xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” của tác giả Nguyễn Thành Kỉnh
(Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”
của tác giả Đỗ Hương Trà (Tạp chí Giáo dục số tháng 7/2009); “Một số vấn
đề về dạy học theo góc và bước đầu triển khai áp dụng ở Việt Nam” của tác
giả Cao Thị Thặng (Tạp chí Giáo dục số tháng 4/2010)…đưa ra quan niệm về
phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể cũng như quy trình thiết kế bài học, ưu
nhược điểm của phương pháp, KTDH đó.
Tìm hiểu các nguồn tài liệu ở trong và ngoài nước có thể thấy việc vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong DHLS ngày càng được quan tâm,
nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về việc vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại
(SGK lịch sử 10 chương trình chuẩn) theo hướng phát triển năng lực hợp tác
cho HS vì vậy tôi quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu. Đồng thời
những tác phẩm, công trình, bài viết trên cũng chính là cơ sở quan trọng giúp
tôi hoàn thành đề tài này.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình dạy học Lịch sử ở trường
THPT có sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học phần Lịch sử thế
giới Cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII (SGK Lịch sử 10,
chương trình chuẩn) nhằm hình thành năng lực hợp tác cho HS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi, giới hạn của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu các KTDH tích cực như kĩ thuật khăn trải


bàn, kĩ thuật mảnh ghép và bể cá theo định hướng phát triển năng lực hợp tác
cho HS, từ đó rút ra những biện pháp vận dụng vào phần lịch sử thế giới Cận
đại (lớp 10 chương trình chuẩn).
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn của việc
DHLS ở trường THPT nói riêng, đề tài nhằm đề xuất:
Vận dụng một số KTDH tích cực như: khăn trải bàn, mảnh ghép, bể cá
theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS ở trường THPT.
Đề xuất một số KTDH tích cực có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch
sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực hợp
tác cho HS ở trường PT.
Đề xuất một số biện pháp sử dụng các KTDH tích cực trong phần Lịch
sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) góp phần hình thành năng lực
hợp tác cho HS.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích kể trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
Tìm hiểu lý luận về các kĩ thuật dạy học tích cực và năng lực hợp tác
trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
Điều tra thực trạng về việc sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy
học bộ môn Lịch sử ở trường THPT.
Nguyên tắc vận dụng các KTDH tích cực nhằm phát triển năng lực hợp
tác cho HS trong dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình
chuẩn).


Đề xuất các kĩ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng vào phần Lịch sử
thế giới cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII (SGK Lịch sử lớp
10, chương trình chuẩn).
Đề xuất một số biện pháp vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong
dạy học phần Lịch sử thế giới Cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn).
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những
đề xuất đưa ra.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận là: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về giáo dục và đào tạo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí thuyết: Đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo,
tạp chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS, vấn
đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường phổ thông; phân tích nội
dung chương trình, SGK lớp 10 hiện hành.
Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học
sinh, điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm
kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu của đề tài.
Thực nghiệm sư phạm: vận dụng các KTDH tích cực nhằm phát triển
năng lực hợp tác cho hs lớp 10 ở trường THPT Kim Anh (Hà Nội).
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng được các kĩ thuật dạy học tích cực trong
DHLS theo quy trình, cách thức đề tài đề xuất sẽ góp phần hình thành năng
lực hợp tác cho HS trong học tập môn Lịch sử, đáp ứng được mục tiêu dạy


học phần Lịch sử thế giới Cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII
trong chương trình Lịch sử (lớp 10, chương trình chuẩn).
7. Đóng góp của khóa luận
Đóng góp của đề tài là:
Khẳng định rõ tầm quan trọng của việc vận dụng các KTDH tích cực
trong phần Lịch sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn) theo định
hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS.
Đánh giá đúng ưu điểm và hạn chế của các KTDH tích cực.
Đề xuất biện pháp sử dụng các KTDH tích cực như: khăn trải bàn, mảnh
ghép, bể cá trong phần Lịch sử thế giới cận đại (lớp 10, chương trình chuẩn)
theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú lí luận dạy học
bộ môn về vấn đề vận dụng các KTDH tích cực ở trường THPT.
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân nắm vững hơn kiến thức
lịch sử, kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc vận dụng các
KTDH tích cực trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận
bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng kĩ thuật dạy học
tích cực nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.
Chương 2: Biện pháp vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát
triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại
( lịch sử 10, chương trình chuẩn).


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT
DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
1.1.1.1 Phương pháp dạy học
Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học Việt
Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về phương
pháp dạy học.
Theo I. Ia Lence cho rằng: “PPDH là một hệ thống những hành động
có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học
sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn” [14; tr.46] .
Theo GS Đặng Vũ Hoạt – PGS Hà Thị Đức: “PPDH là tổng hợp cách
thức hoạt động của GV và SV nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề
ra” [11; tr.45].
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy
và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho
trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học” [23; tr.23].
Theo Nguyễn Như An: “PPDH là tổng hợp tất cả các cách thức hoạt
động phối hợp thống nhất của giảng viên và giáo sinh nhằm thực hiện các
nhiệm vụ dạy học” [1; tr.79].
Theo PGS, TS Đặng Thành Hưng: “chỉ trong tiếng Nga, Bungary, Ba
Lan mới có cụm từ đúng nghĩa với từ PPDH trong tiếng Việt. còn các nước
dùng tiếng Anh không dùng thuật ngữ PPDH mà trình bày phạm trù này
trong hai hình thức PP giảng dạy hoặc PP học” [12; tr.105].


Xuất phát từ những quan điểm về phương pháp dạy học ta có thể hiểu
phương pháp dạy học lịch sử: “PPDH lịch sử là con đường, cách thức tổ
chức hoạt động hợp tác, tương tác của GV và HS trong quá trình dạy học
nhằm hướng dẫn HS hình thành tri thức lịch sử, tư tưởng, phẩm chất đạo đức
và phát triển năng lực tư duy, hành động” [24; tr.11].
1.1.1.2. Kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là một bộ phận của phương pháp dạy học, tuy nhiên
sự phận biệt giữa phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học đôi khi không thật
rõ ràng bởi vì cũng có những kĩ thuật được coi là phương pháp dạy học.
Chính vì thế các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kĩ
thuật dạy học.
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, Hoàng Phê định nghĩa: “Kĩ thuật là
tổng thể nói chung những phương tiện, phương thức và tư liệu hoạt động của
con người, được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu
cầu phi sản xuất của xã hội” [21; tr.801].
Trong cuốn “Dạy học hiện đại lí luận, biện pháp, kĩ thuật” của tác giả
Đặng Thành Hưng cho rằng kĩ thuật dạy học (áp dụng khi tiến hành các giờ
học hoặc hoạt động giáo dục khác nên còn gọi là kĩ thuật dạy học vi mô) “là
những thủ thuật và kĩ năng dạy học chung cho nhiều biện pháp, phương pháp
dạy học cụ thể được thiết kế và tiến hành trong quá trình dạy học trên lớp,
ngoài lớp, trong học trình các môn học và ngoài môn học” [13; tr.229].
Trong tài liệu “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở
trường THPT” của tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier định nghĩa
rằng: “kĩ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của GV và
HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học” [6; tr.54].


Trong cuốn “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy
học” của Dự án Việt – Bỉ cho rằng “kĩ thuật dạy học là những biện pháp,
cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống/hoạt động nhằm
thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể” [28; tr.45].
Trong lí luận dạy học việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động của HS cũng là biện pháp quan trọng trong
quá trình dạy học. Vậy ta có thể hiểu KTDH tích cực là “những động tác,
cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học nhằm mục đích
thay đổi vai trò, vị trí của HS từ chỗ thụ động tiếp thu kiến thức sang chủ
động lĩnh hội kiến thức, phát huy tính tích cực, tư duy độc lập, hình thành các
năng lực cá nhân và năng lực xã hội của các em” [44; tr.19].
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu của giáo dục phổ thông theo Luật giáo dục (2005, sửa đổi
2009,2010) là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản” [3; tr.87]. Như vậy mục tiêu của giáo dục
phổ thông không phải là đào tạo ra những con người công cụ, mà là đào tạo
những con người có bản lĩnh, năng lực hành động, tự do và sáng tạo.
Môn lịch sử không chỉ trang bị vốn kiến thức cần thiết về lịch sử dân tộc
và lịch sử thế giới, mà quan trọng hơn là góp phần bồi dưỡng lòng yêu quê
hương xứ sở, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần tôn trọng các
giá trị lịch sử văn hóa nhân loại; trong hình thành nhân cách và bản lĩnh con
người, ý thức trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Việc thực hiện chương trình giáo dục nói chung, chương trình môn Lịch
sử nói riêng được tiến hành qua các khâu:
- Xác định mục tiêu đào tạo
- Quy định nội dung và phương pháp dạy học


- Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp với nội dung và đặc trưng
môn học
- Tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và đánh giá cải tiến
Như vậy việc xác định mục tiêu đào tạo là khâu đầu tiên và là định
hướng trong việc thực hiện chương trình môn học. Mục tiêu môn học gắn liền
với mục tiêu của cấp học và được thể hiện ở mục tiêu từng lớp học, từng bài
học. Xác định mục tiêu môn học rõ ràng sẽ là định hướng đúng đắn trong dạy
học ở trường phổ thông.
Mục tiêu về kiến thức: cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về
lịch sử phát triển của dân tộc và xã hội loài người trên cơ sở củng cố phát
triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung học cơ sở.
Mục tiêu về kỹ năng: rèn luyện kỹ năng tư duy, kỹ năng thực hành và
định hướng phát triển các kỹ năng sống cho HS.
Mục tiêu về thái độ: giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị
với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa
bình, dân chủ; niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và
dân tộc dù trong tiến trình lịch sử có những lúc quanh co, khúc khuỷu. Đồng
thời giáo dục cho HS có ý thức làm nghĩa vụ công dân, hình thành những
phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng.
Với mục tiêu của môn Lịch sử GV cần phải trang bị cho mình những tri
thức khoa học về quá trình dạy học lịch sử và những kỹ năng thao tác về
nghiệp vụ sư phạm nhằm đảm bảo cung cấp kiến thức, phát triển kỹ năng và
giáo dục thái độ cho học sinh qua môn học. Cụ thể là việc nghiên cứu và vận
dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát triển
năng lực cho HS nhằm giúp HS phát triển toàn diện.


1.1.3. Đặc trưng của kiến thức Lịch sử
Đặc trưng của kiến thức môn Lịch sử bao gồm: tính quá khứ, tính không
lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa “sử” và “luận”.
Thứ nhất là tính quá khứ: “Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật
của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay. Tất cả
những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những
chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ. Bởi vậy, người ta không thể trực
tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách
gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại”[15; tr.139]. Chính vì vậy, việc
giảng dạy cũng có khó khăn nhất định song bên cạnh đó cũng góp phần phát
triển trí tưởng tượng của học sinh.
Thứ hai là tính không lặp lại: Mỗi sự kiện, hiện tượng Lịch sử chỉ xảy
ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong thời gian và không gian
khác nhau. Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời
điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống
nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp
lại.
Kiến thức lịch sử không mang tính lặp lại về thời gian và cả không gian.
Chính điều này đặt ra yêu cầu khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó
trong lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy
sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng
biệt song có mối quan hệ kế thừa.
Thứ ba là tính cụ thể: Trong cuốn “Phép biện chứng của tự nhiên”, Ph.
Ăngghen viết: “Trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào - trong lĩnh vực tự nhiên
cũng như trong lĩnh vực xã hội - phải xuất phát từ những sự kiện mà chúng ta
biết được” [21; tr.32]. Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể
của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Học Lịch sử HS được


học về những sự kiện gắn với thời gian, địa điểm và những nhân vật cụ thể.
Mỗi sự kiện cụ thể của một quốc gia, dân tộc có quá trình diễn biến, kết quả,
ý nghĩa trong những hoàn cảnh Lịch sử riêng, đồng thời lại phát triển theo quy
luật chung của tiến trình Lịch sử nhân loại.
Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử
càng cụ thể, sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Nếu tách sự kiện
ra khỏi không gian, thời gian và nhân vật thì không thể hiểu được lịch sử, các
sự kiện lịch sử sẽ chỉ là tập hợp tư liệu ngổn ngang không có ý nghĩa. Việc sử
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như khăn trải bàn hay bể cá sẽ giúp cho
không khí bài học sôi nổi, giúp các em tích cực hơn có thể đưa ra quan điểm ý
kiến của mình để các sự kiện lịch sử trở nên rõ ràng cụ thể hơn.
Thứ tư là tính hệ thống: Lịch sử diễn ra trong một không gian, thời gian
rộng lớn ở nhiều thời đại khác nhau, ở nhiều nước khác nhau. Nội dung kiến
thức trong môn Lịch sử rất phong phú, “đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - nghệ
thuật, khoa học - kĩ thuật...” [15; tr.178]. Các nội dung đó được sắp xếp trong
một hệ thống. Việc cung cấp kiến thức mới cũng như ôn tập kiến thức đã học
cần làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa các sự kiện đồng đại (xảy ra cùng thời),
lịch đại (xảy ra trước và sau), làm rõ tính logic, tất yếu của Lịch sử.
Kiến thức lịch sử còn mang tính hệ thống (logic lịch sử). Không có sự
kiện nào là tồn tại đơn lẻ, riêng rẽ mà nó có mối liên hệ với những sự kiện
trước nó, sau đó và đồng thời với nó. Do đó, giúp HS thấy được một cái nhìn
toàn diện, hệ thống về các sự kiện, hiện tượng lịch sử với tất cả những đặc
trưng kinh tế, chính trị văn hóa – xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử.
Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: Trong quá trình học
tập, HS cần lĩnh hội hai phần cơ bản của kiến thức Lịch sử: phần “sử” và phần
“luận”. “Phần “sử” là các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×