Tải bản đầy đủ

tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần 8 điểm bài tập học kỳ môn thương mại i

MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần( CTCP) là loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền
kinh tế thị trường, nó ra đời vào khoảng thế kỉ XVII và phát triển rất mạnh
mẽ từ thế kỉ XIX cho đến nay. Mặc dù CTCP và pháp luật về CTCP đã ra
đời từ rất lâu, nhưng ở nước ta do điều kiện kinh tế xã hội mà gần đây CTCP
và pháp luật về CTCP mới được quan tâm nhiều. Với nhiều ưu thế so với các
loại hình công ty khác như: có tư cách pháp nhân, các cổ đông công ty chỉ
phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp, có cấu trúc vốn linh hoạt
và khả năng chuyển nhượng vốn góp tự do, dễ dàng, … Với nhiều như vậy,
nhất là ưu thế cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng huy động vốn của CTCP dễ
dàng là những lý do khiến công ty cổ phần ngày càng được nhiều nhà đầu tư
lựa chọn để đầu tư kinh doanh. Để hiểu rõ hơn về những ưu thế của công ty
cổ phần trong khả năng huy động vốn, em chọn đề tài “tìm hiểu pháp luật về
huy động vốn của công ty cổ phần” để tìm hiểu.
NỘI DUNG
A. Khái quát về công ty cổ phần và vấn đề huy động vốn của công ty
cổ phần.
I. khái quát về công ty cổ phần.
Pháp luật hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa công ty cổ
phần mà chỉ đưa ra những dấu hiệu nhận biết công ty cổ phần, được quy
định rõ tại khoản 1 điều 77 luật doanh nghiệp 2005 là: “1. Công ty cổ phần

là loại hình doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ về tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
1


d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 54 của
luật này”. Ngoài ra tại khoản 2 và khoản 3 điều 77 LDN 2005 còn cho thấy
rõ công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập và có quyền phát hành
chứng khoán ra công chúng.
II. khái quát về vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần.
Vốn là chìa khóa của kinh doanh, vốn của doanh nghiệp nói chung là giá
trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp
hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được doanh nghiệp sử dụng trong
kinh doanh.CTCP là loại hình công ty đối vốn điển hình do vậy vấn đề vốn
của CTCP hết sức phức tạp. Ta có thể tiếp cận vốn của CTCP dưới nhiều góc
độ, dựa trên các tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn
thì vốn của CTCP gồm có: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn
vay).
Vốn chủ sở hữu: là vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ
nguồn vốn đóng góp của các cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi
nhuận của công ty.
Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay bằng nhiều hình
thức khác nhau: vay ngân hang, vay từ tổ chức cá nhân, vay bằng các phát
hành trái phiếu.
Vốn của CTCP có thể được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau,
nhưng điều quan trong là công ty có tỷ lệ vốn hợp lý, phương thức huy động
vốn thích hợp và có phương án kinh doanh đúng đắn để sử dụng vốn hiệu
quả và tạo được niềm tin cho đối tác đảm bảo công ty pháp triển vững mạnh.
B.

Huy động vốn trong công ty cổ phần.

I. Những ưu thế của CTCP so với các loại hình công ty khác trong việc
huy động vốn.
2


Điểm lý tưởng trong vấn đề huy động vốn của CTCP hơn hẳn các loại
hình công ty khác là “CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để
huy động vốn” (khoản 3 điều 77luật doanh nghiệp năm 2005) trong khi đó
doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh “không được phát hành bất kì
một loại chứng khoán nào” (khoản 3 điều 130 và khoản 2 điều 141), khả
năng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có thuận lợi hơn là
được quyền phát hành trái phiếu nhưng cũng “không được quyền phát hành
cổ phần” (khoản 3 điều 38). Trong các loại chứng khoán của CTCP cổ phiếu
là ưu thế lớn nhất của CTCP nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng, có thể huy
động được một lượng vốn góp lớn, và giảm được nhiều chi phí trung gian so
với các hình thức huy động khác do tiếp cận trực tiếp các nhà đầu tư.
CTCP có cấu trúc vốn rất linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của
người đầu tư. Phần vốn của cổ đông có thể được tự do chuyển nhượng thông
qua việc chuyển quyền sở hữu cổ phần (trừ các trường hợp do pháp luật quy
định) hay đó là hình thức chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán. Tính chuyển nhượng cổ phiếu mang lại cho nền kinh tế sự vận động
nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định của tài sản công
ty.
Mặt khác, cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính thanh khoản và
chuyển nhượng dễ dàng đã khuyến khích mọi tầng lớp dân chúng đầu tư.
Những đặc điểm này đã giúp CTCP có khả năng huy động một lượng vốn
ngầm chảy trong các tầng lớp nhân dân, khả năng tích tụ và tập trung vốn
với quy mô lớn đáp ứng được các dự án đầu tư cần lượng vốn lớn và lâu dài,
mở rộng đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh dễ dàng hơn.
II. Quy định của pháp luật về các hình thức huy động vốn của công ty cổ
phần.
Cũng giống như nhiều loại hình công ty khác, CTCP cổ phần có hai cách
để huy động vốn là: tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay, và trong mỗi cách
3


lại có những phương thức huy động vốn khác nhau. Tăng vốn chủ sở hữu
bằng cách phát hành cổ phiếu, tăng vốn vay được thực hiện thông qua ba
hình thức: phát hành trái phiếu, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua.
1. Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu.
Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của CTCP được thể hiện dưới
hình thức cổ phiếu, bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Cổ phiếu
là chứng chỉ do CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu
một hoặc một số cổ phần của công ty trong đó. Cổ phiếu là bằng chứng
chứng minh quyền sở hữu cổ phần của công ty (khoản 1 điều 85 luật doanh
nghiêp 2005)
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của CTCP cho người đầu tư
nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của công ty. Kết quả của việc chào bán cổ
phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty
hoặc sẽ làm tăng vốn điều lệ của công ty trong quá trình thành lập công ty
hoặc làm tăng vốn điều lệ của công ty khi công ty đang trong quá trình hoạt
động.
Việc phát hành cổ phiếu có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ
đông hiện có hoặc có thể dẫn tới sự thay đổi vị thế của từng cổ đông. Do vậy
việc quyết định bán loại cổ phần, số lượng mỗi cổ phần chào bán sẽ do Đại
hội đồng cổ đông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm
bán, phương thức và giá chào bán.
Quy định của pháp luật về việc phát hành cổ phiếu:
Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần. có thể chia thành các trường
hợp: phát hành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát
hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động công ty.
-

phát hành cổ phiếu lần đầu khi thành lập công ty: Khi thành lập, CTCP

phải huy động vốn góp từ các cổ đông. Theo quy định thì các cổ đông sáng
lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần được chào bán,
4


sổ cổ phiếu còn lại sẽ được phát hành để huy động đủ số vốn điều lệ. Các cổ
đông sáng lập thực hiện nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ phần và loại cổ
phần dự kiến chào bán.
-phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty: Trong quá trình
hoạt động, phát hành cổ phiếu là hình thức huy động vốn rất hiệu quả. Đặc
biệt là đối với CTCP lớn, có nhiều dự án đầu tư dài hạn, ngắn hạn mà cần
lượng vốn lớn. Việc phát hành cổ phiếu lúc này sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu
của công ty tạo ra một lá chắn chống lại sự phá sản công ty, làm tăng độ tín
nhiệm của công ty. Phát hành cổ phiếu có thể được thực hiện qua hai phương
thức: phát hành riêng lẻ và phát hành rộng rãi ra công chúng.
+ phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành cổ phiếu trong phạm vi một
số người nhất định và với số lượng hạn chế, thường là bán cho những người
trong công ty. Tại khoản 2 điều 87 LND 2005 quy định rõ về việc phát hành
cổ phần phổ thông và chào bán cổ phần cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ
phần hiện có trong công ty, theo đó thì việc phát hành cổ phiếu này phải
được thông báo bằng văn bản rõ ràng đến từng cổ đông biết, trong thông báo
phải ghi rõ tổng số cổ phần dự kiến phát hành và số cổ phần cổ đông được
quyền mua, giá chào bán, thời hạn đăng kí mua…các quy đinh tại khoản 2
điều 87 là có sự phát triển hơn so với LDN trước đó. Tuy nhiên trình tự, thủ
tục, điều kiện… chào bán cổ phiếu riêng lẻ không được quy định trực tiếp
trong LDN 2005 mà do Chính Phủ có hướng dẫn cụ thể.
+ Phát hành cổ phiếu ra công chúng: Là phương thức phát hành cổ phiếu
trong đó cổ phiếu được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn các
nhà đầu tư với khối lượng cổ phiếu phát hành đạt được một tỉ lệ quy định
nhất định và phải giành một tỉ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ. Điều
kiện, phương thức và thủ tục phát hành cổ phiếu được thực hiện theo quy
định của luật chứng khoán. Ngoài ra công ty còn phải thực hiện các chế độ
báo cáo, công bố thông tin và chịu sự giám sát chặt chẽ theo quy định của
5


pháp luật. Điều đó xuất phát tứ lý do để cổ phiếu hay trái phiếu của công ty
phát hành ra không phải là trò lừa đảo hoặc của chủ thể đầu tư có dự án đầu
tư kém hiệu quả, gây lãng phí cho nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích cho
các nhà đầu tư. CTCP muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải đảm bảo
các yêu cầu về vốn, thời gian hoạt động, hiệu quả quản lý, hiệu quả sản xuất
kinh doanh và tính khả thi của các dự án trong tương lai, được quy định rõ
trong khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán năm 2006:
“1. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào
bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải
có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt
chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.”
Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo số lượng và chất l ượng cổ phiếu
của CTCP để có thể được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Sauk hi
đảm bảo được các yếu tố trên công ty lập hồ sơ gửi lên Ủy ban chứng khoán
nhà nước xin được cấp giấy phép phát hành.
Phát hành cổ phiếu là hình thức huy động vốn hiệu quả và dễ dàng nhất
của công ty cổ phần và chỉ ở CTCP mới có điều này, hơn nữa việc chuyển
nhượng cổ phần tự do càng tạo ra sức thu hút lớn đối với các nhà đầu tư.
2. Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng:
2.1. Huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu.
theo khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp năm 2005, CTCP có quyền phát
hành chứng khoán các loại để huy động vốn. cùng với phát hành cổ phiếu,
CTCP còn có quyền phát hành trái phiếu để vay vốn dài hạn và trung hạn,
đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chính
6


của các cổ đông. Nhưng khác với cổ phiếu, trái phiếu chỉ xác nhận quyền và
lợi ích hợp pháp của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn
định trong trái phiếu. Trái phiếu có đặc điểm là có thời hạn đáo hạn, có lãi
suất cố định, tiền trả lãi không phụ thuộc vào việc kinh doanh của công ty
hay khó khăn, đem lại cho người sở hữu quyền ưu tiên phân chia lợi nhuận,
và có thể tự do chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán nhưng chủ sở
hữu trái phiếu không có quyền tham gia biểu quyết các vấn đề của công ty.
Phát hành trái phiếu là hình thức huy động vốn bằng cách vay vốn, theo
đó CTCP phát hành một loại chứng trên thị trừơng với một mức lãi suất
nhất định, đảm bảo thanh toán trong một thời hạn xác định trong tương lai.
Người mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của công ty, được hưởng một mức
lãi suất cố định và thanh toán khoản vay khi đáo hạn. kết quả của việc này
sẽ làm tăng vốn của công ty.


Quy định của pháp luật về việc huy đọng vốn thông qua phát hành trái
phiếu: Điều kiện phát hành trái phiếu của CTCP được quy định cụ thể
trong khoản 2 Điều 12 luật chưng khoán năm 2006 Cũng tương tự nhu
các điều kiện để phát hành cổ phiếu, ngoài ra công ty còn phải cam kết
thực hiện các nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều
kiện phát hành, thanh toán và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhà đầu tư và các điều kiện khác. Cũng giống như phát hành cổ phiếu
CTCP cũng phải lập hồ sơ nộp lên Ủy ban chứng khoán nhà nước để
được câp giấy phát hành. Trong hồ sơ đáng chú ý có bản cáo bạch mà
CTCP phải đưa ra, noiij dung của bản cáo bạch gồm các thông tin về cơ
cấu tổ chức bộ máy của công ty, hoạt động kinh doanh, tài sản, tình hình
tài chính, các báo cáo của công ty trong hai năm gần nhất, các thông tin
về đợt chào bán… Trong trường hợp CTCP phát hành trái phiếu có đảm
bảo thì phaỉ nêu rõ tỉ lệ đảm bảo và liệt kê chi tiết tài sản đảm bảo trong
hồ sơ xin phép phát hành và có tìa liệu hợp lệ để chứng minh tài sản đảm
7


bảo đó thuộc sở hữu của mình hoặc của người thứ 3( trong trường hợp
bảo lãnh) và đủ các giá trị thanh toán trái phiếu.
Công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi: phải nêu rõ điều khoản mua
hoặc chuyển đổi trong hồ sơ xin phát hành: Điều kiện, thời hạn tiến hành
mua hoặc chuyển đổi. Tỉ lệ chuyển đổi và phương pháp tính giá mua hoặc
giá chuyển đổi.
Phương pháp đền bù thiệt hại trong trường hợp công ty phát hành trái phiếu
không phát hành được trái phiếu để đáp ứng quyền mua hoặc chuyển đổi và
các điều kiện khác nếu có. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ, Ủy ban chứng khoán nhà nước phải cấp giấy phép phát hành cho công ty,
trong trường hợp không cấp phải nêu lí do bằng văn bản.
Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu là hình thức ưu việt cho
những CTCP có dự án kinh doanh dài hạn, với mức lãi suất thích hợp nhỏ
hơn lãi suất mà công ty phải đi vay ngân hàng, nhưng lại cao hơn mức lãi
suất gửi tiền tiết kiệm gửi ngân hàng để thu hút nhà đấu tư. Điều này vừa có
lợi cho công ty phát hành vừa có lợi cho nhà đầu tư do bỏ qua được các chi
phí trung gian, các cổ đông không phải chia sẻ quyền điều hành công ty cho
người khác.
Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu và cổ phiếu là hai hình thức
huy động vốn rất hiệu quả của CTCP, nhất là các công ty lớn. Tuy nhiên
không phải CTCP nào cũng có khả năng và đủ điều kiện để huy động vốn
bằng hai hình thức này do vậy CTCP còn có thể huy động vốn thông qua hai
hình thức nữa đó là tín dụng ngân hàng và tín dụng thuê mua.
2.2. Huy động vốn thông qua tín dụng ngân hàng
Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng là một hình thức
phổ biến được các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng áp dụng trên
thực tế. huy động vốn bằng cách này, CTCP sẽ có những khoản vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh. Việc
8


huy động vốn thông qua hình thức này có nhiều thuận lợi hơn đối với các
công ty có uy tín, có quan hệ lâu dài với ngân hàng. Bên cạnh đó cơ chế cho
vay hiện nay đang tạo cho việc huy động vốn qua ngân hàng có nhiều ưu
điểm hơn huy động vốn bằng trái phiếu đó là nếu huy động vốn bằng phát
hành trái phiếu thì thì công ty phải trả lại nhà đầu tư bằng cả gốc lẫn lãi khi
đáo hạn, nhưng huy động vốn bằng tín dụng ngân hàng công ty có thể xin
gia hạn thêm thời gian nếu chưa có khả năng trả nợ.
Để huy động vốn thông qua hình thức này công ty phải đáp ứng được
những điều kiện nhất định như có tình hình tài chính lành mạnh,có phương
án sử dụng vốn khả this au khi được vay và quan trọng nhât là phải có tài
sản để đảm bảo cho khoản vay bằng biện pháp cầm cố, thế chấp hoặc được
bên thứ 3 bảo lãnh bằng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
ngân hàng trừ trường hợp công ty được ngân hàng cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản. có hai hình thức vay là vay có đảm bảo và vay không có
đảm bảo. Vay có đảm bảo thì CTCP phải cam kết trả nợ bằng tài sản cầm cố,
thế chấp hoặc bên thứ 3 bảo lãnh bằng tài sản hoặc bằng chính tài sản hình
thành từ vốn vay. Các quy tắc này được quy định rõ tại khoản 1 Điều 3 nghị
định 178/1999/NĐ-CP. Khi vay vốn có biện pháp đảm bảo bằng tài sản thì
công ty và ngân hàng vay được ngân hàng thực hiện theo quy định tại Điều
8 nghị định 178/1999/NĐ-CP và điều 15 nghị định này đối với tài sản bảo
đảm là tài sản hình thành từ vốn vay. Còn cho vay không có bảo đảm thì
CTCP phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điều 20 nghị định
85/2002/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng: “Khách hàng vay
không có bảo đảm bằng tài sản phải có đủ các điều kiện sau đây :
1. Sử dụng vốn vay có hiệu quảvà trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn trong
quan hệ vay vốn với tổ chức tín dụng cho vay hoặc các tổ chức tín dụng
khác.

9


2. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu
quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp
với quy định của pháp luật.
3. Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
4. Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ
chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp
bảo đảm bằng tài sản quy định ”
Việc huy động vốn qua tín dụng ngân hàng đòi hỏi công ty phải có tài
sản đảm bảo,có tín nhiệm với ngân hàng hoặc phải có năng lực tài chính đủ
mạnh thì mới được vay vốn. Điều này gây khó khan cho các công ty vừa và
nhỏ,năng lực tài chính yếu, hoặc các công ty không có tài sản đảm bảo. Do
vậy hình thức huy động vốn bằng tín dụng thuê mua là một hình thức nữa
giúp CTCP có thể huy động vốn đầu tư mà không cần quá nhiều điều kiện
như các hình thức huy động vốn kia.
2.3.

Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng thuê mua.

Thuê tài chính là hình thức được áp dụng nhiều phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức… loại hình này đã được một số công
ty đưa ra thị trường tài chính vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ
XX với tên goi là thuê tài chính.
Cho thuê tài chính là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài
sản cụ thể. Khác với các hình thức tín dụng khác mà theo đó, tổ chức tín
dụng chuyển giao một khoản tiền còn cho thuê tài chình thì tổ chức tín dụng
lại chuyển giao cho khách hàng một tài sản cụ thể như: máy móc, đay
chuyền sản xuất, phương tiện tải…. để bên thuê sử dụng trong một thời gian
nhất định.

10


Cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của
chủ sở hữu được chuyển giao hết cho bên thuê. Bên thuê có quyền sử dụng
và hưởng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tìa sản đó trong một thời gian
nhất định. Bên thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương úng
với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng. hình thức này tạo điều kiện cho
công ty tiếp cận với hình thức huy động vốn mới và giải tỏa về áp lực tài sản
đảm bảo nếu đi vay ngân hàng. Loại hình thuê tài chính rất thích hợp với các
công ty vưa và nhỏ nhờ ưu điểm là không phải thế chấp tài sản như đi vay
ngân hàng.
Các giao địch thuê tài chính phải có một trong các dấu hiệu quy định tại
khoản 2 điều 1 nghị định 16/2001/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung nghị định
65/2005/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính:
"Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện
sau

đây:

a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của
hai

bên;

b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu
tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài
sản

thuêtạithờiđiểmmualại;

c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết

để

khấu

hao

tài

sản

thuê;

d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài
chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký
hợp đồng".

11


Huy động vốn thông qu hình thức tín dụng thuê mua là một hình thức huy
động vốn mà CTCP có thể áp dụng vì trên thực tế không phải công ty nào
cũng có đủ điều kiện để phát hành cổ phiếu, trái phiếu và tiếp cận với nguồn
vốn vay từ ngân hàng. Tuy nhiên mỗi hình thức huy động vốn sẽ có những
ưu và nhược điểm khác nhau, nhưng điều quan trọng là nó làm tăng vố của
công ty để có thể đầu tư sản xuất, mở rộng kinh doanh, thúc đẩy sự phát
triển kinh tế.
III. Đánh giá về các quy định của pháp luật về huy động vốn trong công
ty cổ phần.
1. Huy động vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu.
Mặc dù các quy định của pháp luật về vốn của chủ sở hữu đã có nhiều tiến
bộ, tạo dược nhiều thuận lợi cho các nhà đầu tư nhưng bên cạch đó vẫn còn
một số hạn chế không tránh khỏi: Khoản 1 Điều 85 luật doanh nghiệp quy
định một trong những nội dung chủ yếu mà cổ phiếu phải có là “mệnh giá cổ
phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu” nghĩa là cổ phiế bất
buộc phải có mệnh giá. Có thể hiểu mệnh giá là cách thức góp vốn, cũng là
cơ sở để chủ nợ nhìn vào để đòi nợ và chỉ có ý nghĩa khi CTCP phát hành cổ
phiếu lần đầu. Cổ phiếu khi được bán trên thị trường có thể có một giá cao
hơn hoặc thấp hơn mệnh giá, như vậy là có sự tách biệt giữa mệnh giá và giá
thị trường nhưng tính chất bình đẳng của việc góp vốn vẫn được duy trì. Vì
vậy việc định giá cổ phiếu có cần thiết không? Hiện nay nhiều nước trên thế
giới thường các công ty phát hành cổ phiếu có mệnh giá bằng không,vì họ
cho rằng việc này là không cần thiết và nếu như vậy họ còn bị đánh thuế
theo giá cổ phiếu, Vì vậy để tránh bị đánh thuế họ phát hành cổ phiếu có
mệnh giá bằng không.
Ngoài ra, chúng ta nên đa dạng hóa các loại cổ phiếu ưu đãi để tạo sự hấp
dẫn cho các nhà đầu tư bỏ tiền vào. Như ở một số nước khác trong khu vực

12


ASEAN họ đưa ra rất nhiều cổ phiếu ưu đãi như: cổ phiếu ưu đãi lãi dồn, cổ
phiếu ưu đãi mua lại, cổ phiếu ưu đãi phức hợp, cổ phiếu ưu đãi để trống…
2. các quy định về huy động vốn bằng các hình thức tín dụng.
2.1. phát hành trái phiếu:
chúng ta nên đa dạng hóa các loại trái phiếu khác nhau để thu hút nhà đầu
tư. Có thể thêm một số loại trái phiếu khác như: trái phiếu không trả lãi, trái
phiếu trả lãi theo thu nhập, trái phiếu lãi suất thả nổi…
2.2 tín dụng ngân hàng:
Đây là hình thức huy động vốn rất phổ biến không chỉ riêng CTCP mà
còn là hình thức huy động vốn của rất nhiều loại hình công ty khác, nhưng
thủ tục cho vay rất phắc tạp, đòi hỏi quá nhiều điều kiện mà không phải
doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được,hơn nữa các khoản vay thường
lớn nên lãi suất cao =>áp lực trả lãi và thời hạn trả. Mặt khác nguồn vốn của
ngân hàng thương mại là nguồn tài trợ ngán hạn nên doanh nghiệp chỉ được
vay 12 tháng, điều này gây khóa khan rất lớn cho các doanh nghiệp.
2.3 tín dụng thuê mua:
Mặc dù đây là hình thức huy động vốn khá phổ biến và có nhiều lợi thế
cạnh tranh trên thế giới, nhưng thực tiễn các doanh nghiệp Việt Nam không
mấy quan tâm đến loại hình dịch vụ này, nguyên nhân có thề là do sự hiểu
biết về loại hình dịch vụ này còn nhiều hạn chế, các hoạt động quảng bá dịch
vụ còn yếu và giá cho thuê còn cao, rủi ro lớn…Một nguyên nhân nữa là các
quy định của pháp luật về cho thuê tài chính còn chưa được hoàn thiện đồng
bộ, nhiều quy định cần phải được luật hóa. Nhiều quy định còn chưa phù
hợp như luật các tổ chức tín dụng và các văn bản dưới luật khi quy định về
ch thuê tài chính đã không phân định triệt để các khái niệm liên quan đến sở
hữu, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuê trong các giai đoạn

13


của quá trình cho thuê tài chính, gái trị cho thuê tối đa… Điều này gây cản
trợ đối với hoạt động cho thuê tài chính.
KẾT LUẬN
Với cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng huy động vốn lớn bang nhiều hình
thức huy động đa dạng, CTCP hiện nay đang ngày càng thu hút được nhiều
nhà đầu tư góp vốn xây dựng sản xuất kinh doanh. Khả năng huy động vốn
cũng là một trong những căn cứ đánh giá thực lực của công ty mạnh hay
yếu, đồng thời các quy định của pháp luật về qui địnhcác hình thức huy động
vốn cũng dần hoàn thiện và đi đúng với quy luật hơn. Tuy nhiên,bên cạnh
nhưng cái tốt mà pháp luật đã hoàn thiện thì cũng còn nhiều qui định cần sửa
đổi, bổ sung và phát triển thêm. Đồng thời dựa vào nhu cầu, mô hình kinh
doanh, khả năng năng kinh doanh thì việc các doanh nghiệp trong CTCP nói
riêng và tất cả các loại hình công ty khác nói riêng tự lựa chọn cho mình
một hình thức huy động vốn phù hợp và đảm bảo có lãi cao nhất cần thiết.

14


MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..
NỘI DUNG…………………………………………………………………..
B. Khái quát về công ty cổ phần và vấn đề huy động vốn của công ty cổ
phần. …………………………………………………………………...
I. khái quát về công ty cổ phần. …………………………………………….
II. khái quát về vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần. …………………..
B.

Huy động vốn trong công ty cổ phần. …………………………………

I. Những ưu thế của CTCP so với các loại hình công ty khác trong việc huy
động vốn. …………………………………………………………………….
II. Quy định của pháp luật về các hình thức huy động vốn của công ty cổ
phần. ………………………………………………………………………….
1. Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. ………………………...
2. Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng. …………………….
III. Đánh giá về các quy định của pháp luật về huy động vốn trong công ty
cổ phần. ………………………………………………………………………
1. Huy động vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu. …………………….
2. các quy định về huy động vốn bằng các hình thức tín dụng. ……….
KẾT LUẬN. ………………………………………………………………….

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×