Tải bản đầy đủ

Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án trong tố tụng hình sự

LỜI NÓI ĐẦU
Đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án là một trong những nguyên tắc cơ bản
trong Tố tụng Hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc
định hướng cho hoạt động xét xử tại Tòa án, đảm bảo giải quyết vụ án hình sự khách
quan, chính xác, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham
gia tố tụng, nâng cao hiệu quả thực tiễn công cuộc cải cách tu pháp, hướng tới mục
tiêu tranh tụng dân chủ trước Tòa án.
Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của nguyên tắc này trong hoạt động TTHS,
nhóm em xin chọn đề tài: “Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án
trong tố tụng hình sư” qua đó góp phần làm sáng tỏ nội dung của nguyên tắc một
cách có căn cứ, có cơ sở cũng như làm sáng tỏ thực tiễn việc áp dụng nguyên tắc trên.

0


I. Những vẫn đề chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa
án trong TTHS.
1. Khái niệm bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án là việc Tòa án là cơ quan có trách
nhiệm bảo đảm cho Viện Kiểm Sát, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại

diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bảo đảm
trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong TTHS là
phương châm, định hướng, thể hiện quan điểm của Nhà nước được Bộ luật TTHS ghi
nhận, điều chỉnh hoạt động tố tụng của Tòa án khi xét xử vụ án hình sự phải bảo đảm
cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp
của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc
đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án
nhằm xác định sự thật của vụ án và nâng cao tính dân chủ, công bằng trong TTHS.
2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xét xử của tòa án, góp phần
thực hiện mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp.
Ta có thể thấy một số ý nghĩa sau:
- Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng trước tòa án định hướng cho hoạt động
TTHS mà cụ thể là hoạt động xét xử của tòa án diễn ra thống nhất, đồng bộ và đạt
hiệu quả cao. Tòa án có được đầy đủ các chứng cứ trên cơ sở xem xét một cách toàn
diện các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, các yêu cầu, lắng nghe lý lẽ của các bên tranh tụng
từ đó đảm bảo cho mọi phán quyết của tòa án là khách quan, toàn diện và đầy đủ,
đúng pháp luật, góp phần hình thành tốt nhiệm vụ của luật TTHS là “ nhằm chủ
động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm
oan người vô tội”.
- Thứ hai, nguyên tắc này góp phần đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án của
các bên tham gia tố tụng. Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật TTHS là
phương pháp quyền uy, thể hiện ở quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với những
người tham gia tố tụng. Các quyết định của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có
tính chất bắt buộc đối với các cơ quan, tổ chức và mọi công dân. Tuy nhiên quyền uy
không có nghĩa là các cơ quan này có thể hành động tùy ý mà mà phải thực hiện
1


trong khuôn khổ pháp luật. Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án đòi hỏi
các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng và bảo đảm các quyền mà pháp luật trao
cho những người tham gia tố tụng khác – bên thường được xem là có địa vị tố tụng
yếu hơn, tạo ra một cơ chế đắc lực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể này.
- Thứ ba, nguyên tắc này đảm bảo vào việc động viên và tạo điều kiện để các
cơ quan, tổ chức và mọi công dân tham gia vào đấu tranh phòng chống tội phạm và
dân chủ hóa quá trình tố tụng. Việc xét xử của tào án diễn ra công khai, minh bạch,
các phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng bị
xét xử oan sai, bỏ lọt tội phạm sẽ đảm bảo lòng tin của nhân dâ với pháp luật và các
cơ quan thực thi pháp luật từ đó khuyến khích mọi chủ thể tích cực tham gia vào hoạt
động TTHS.
- Thứ tư, đó là ý nghĩa nâng cao ý thức pháp luật của người tham gia tố tụng,
đặc biệt là nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đây là
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động thực tiễn. Đối với người tham gia tố
tụng khi hiểu rõ về nguyên tắc sẽ có sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hoạt động
TTHS, về địa vị pháp lý của mình. Đối với người tiến hành tố tụng phải luôn tự nâng
cao ý thức trách nhiệm của mình, không ngừng trau dồi bản lĩnh nghề nghiệp để đảm
bảo hiệu lực của Nhà nước, đảm bảo tìm ra sự thật của vụ án một cách nhanh chóng,
hạn chế tối đa việc xét xử oan sai cũng như bỏ lọt tội phạm, bảo đảm sự nghiêm minh
của pháp luật, góp phần giữ gìn trật tự xã hội.
- Thứ năm, nguyên tắc này định hướng xây dựng pháp luật TTHS. Các điều
khoản cụ thể của bộ luật TTHS cũng như các văn bản pháp luật hình sự khác phải là
sự cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo của nguyên tắc này chứ không được mâu thuẫn với nó.
Do đó tất cả các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người
tiến hành tố tụng… phải không được vi phạm nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng
trước tòa án được quy định tịa Điều 19 bộ luật TTHS.
3. Điều kiện để bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.
- Hệ thống các hệ thống quy phạm pháp luật TTHS phải đầy đủ, thống nhất,
phù hợp với thực tiễn.
- Tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp phải hợp lý, phù hợp, đảm bảo
khi hoạt động không hạn chế tính khả thi của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước Tòa án.
- Đội ngũ cán bộ tư pháp phải đủ về số lượng, có trình độ cao về chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
2


- Đội ngũ luật sư có trình độ, năng lực, có kĩ năng hành nghề và đạo đức nghề
nghiệp, đồng thời có cơ chế để các vụ án có sự tham gia của luật sư ngày càng tăng.
- Công tác tuyên truyền pháp luật cần được thể hiện đồng bộ có hiệu quả.
- Cơ sở vật chất được đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp
hiện nay.
II. Quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước
Tòa án
1. Chủ thể được bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Theo quy định của BLTTHS thì chủ thể được bình đẳng trước Tòa án gồm:
1.1. Kiểm sát viên
Theo điều 1 pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quy định thì
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án xác định chủ thể là Kiểm sát viên
được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với vụ án cụ thể
được nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.
1.2. Bị cáo và bị đơn dân sự
Khoản 1 Điều 30 BLTTHS quy định: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử.”. Còn bị đơn dân sự là “cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy
định phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”.
Trước Tòa án, bị cáo và bị đơn dân sự có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật, đưa
ra những yêu cầu, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa.
1.3. Người bào chữa.
Người bào chữa là người tham gia phiên tòa với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Việc thừa nhận quyền bình đẳng trước
Tòa án là thừa nhận hành vi bình đẳng của người bảo chữa với bên buộc tội tại phiên
tòa.
1.4. Người bị hại và nguyên đơn dân sự.
Người bị hại và nguyên đơn dân sự là những người bị thiệt hại do hành hành vi
phạm tôi gây ra. Mặc dù thiệt hại của người bị hại và nguyên đơn dân sự là khác nhau
nhưng hai chủ thể này đều được quy định là một chủ thể bình đẳng với người đại diện
cho nhà nước đứng ra buộc tội bị cáo.
1.5. Người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan đến vụ án.
Người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự là người tham gia tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ
3


án là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc
trong trường hợp người bị hại chết hoặc mất tích.
1.6. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự
Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người được cơ quan tiến hành tiến hành
tố tụng chấp nhận cho tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ
án hình sự (Điều 59 BLTTHS).
2. Nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.
1.1. Bình đẳng trước Tòa án đưa ra tài liệu, chứng cứ, đồ vật.
Người tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, có
quyền đưa ra chứng cứ mới tại phiên tòa. Nhiệm vụ của Tòa án là đảm bảo để các bên
thực hiện quyền tố tụng này, tránh trường hợp sợ phiền phức nên không chú trọng thủ
tục này tại phần mở đầu phiên tòa, do mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn
nhận, đánh giá của mình về kết quả thu thập chứng cứ.
Để bảo đảm quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, các bên tham gia tố tụng
cũng được công khai đưa ý kiến đánh giá của mình về chứng cứ mà cơ quan điều tra
và những người tham gia tố tụng khác thu thập được. Việc kiểm tra, đánh giá chứng
cứ được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền và dưới sự kiểm
tra của những người tham gia tố tụng.
Các đánh giá khác nhau, phản biện khác nhau của các bên tham gia tố tụng tại
phiên tòa sẽ giúp Tòa án khách quan toàn diện, thận trọng hơn khi đưa ra nhận định
để phán quyết
1.2. Bình đẳng trước Tòa án trong việc đưa ra yêu cầu.
Yêu cầu hiểu theo nghĩa khái quát nhất là nguyện vọng là ý kiến mà các bên
muốn đề đạt. Những yêu cầu chính đáng, có căn cứu và giúp cho việc giải quyết vụ
án được chính xác, khách quan thì đều được chấp nhận.
Thứ nhất đó là yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng quy định tại điều 43
BLTTHS. Bình đẳng trong việc đưa ra các yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng
tại phiên tòa là một trong những nội dung quan trọng của quyền bình đẳng, nhằm
hướng tới đảm bảo một nguyên tắc quan trọng đó là: “bảo đảm sự vô tư, khách quan
của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng”. Nội dung này nhằm bảo đảm cho
vụ án được tiến hành một cách khách quan đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân
vào sự công minh của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Ngoài ra, các bên còn có quyền bình đẳng trong việc đưa ra các yêu cầu về xem
xét chứng cứ hoặc hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt theo quy định tại điều 205
BLTTHS. Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong giai đoạn điều tra rất quan trọng cho
4


việc xét xử tại phiên tòa. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến
hành tố tụng tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng trong khi thu thập chứng cứ
thường chú trọng thu thập chứng cứ buộc tội mà coi nhẹ việc thu thập chứng cứ gỡ
tội, điều này dẫn tới việc chứng cứ thường chưa đầy đủ. Trong khi bên gỡ tội không
được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại
phiên tòa, không đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ. Vì vậy, chỉ có tại phiên tòa
những người tham gia tố tụng mới có điều kiện để xem xét công khai các chứng cứ
đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập để qua đó bị cáo và những người tham
gia tố tụng được đưa ra yêu cầu thu thập thêm chứng cứ, triệu tập thêm người làm
chứng, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới.
Điều 205 cũng quy định những chủ thế tham gia phiên tòa được quyền yêu cầu
hoãn phiên tòa khi có người tham gia tố tụng vắng mặt. Ngoài ra, các chủ thể còn
được bình đằng trong việc đưa ra các yêu cầu được thông báo kết quả điều tra, kết
quả giám định, được hiểu về các nội dung, các tình tiết của vụ án mà họ cảm thấy
chưa sáng tỏ.
1.3. Bình đẳng trước Tòa án trong việc tranh luận.
Đây là nội dung quan trọng nhất của nguyên tắc. Nếu như phần thẩm vấn chủ yếu
để làm rõ các chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với lời khai của các nhân chứng,
bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phần tranh luận để cho
các bên tham gia, đánh giá chứng cứ, phát biểu quan điểm buộc tội và gỡ tội. Họ sẽ
được trình bày ý kiến của mình bằng những lập luận, lý lẽ có tính logic, thuyết phục.
Đồng thời được bình đẳng trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, luận điểm của bên
kia, có thể chấp nhận hoặc phản đối ý kiến của bên kia. Đặc biệt, đối với bị cáo, bình
đẳng trong tranh luận là phải bảo đảm cho bị cáo được quyền đối đáp với quan điểm
của đại diện Viện kiểm sát. Trong quá trình điều khiển tranh luận, chủ tọa phiên tòa
và HĐXX không được có những lời lẽ nhận xét, đánh giá những ý kiến của Kiểm sát
viên và những người tham gia tố tụng khác, nhất là đối với luật sư, bị cáo, tránh
những định kiến có sẵn.
 Như vậy, Điều 19 BLTTHS 2003 quy định ba nội dung khác nhau của
quyền bình đẳng, nhưng việc thực hiện ba nội dung này có mối quan hệ mật thiết với
nhau, không có sự phân biệt. Vì vậy, các nội dung của quyền bình đẳng cần được
thực hiện đồng bộ, bất cứ sự vi phạm nội dung nào cũng sẽ dẫn tới nội dung khác
không được đảm bảo thực hiện.
3. Các hình thức thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa
án.
5


3.1. Hình thức bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án được thực hiện qua các quy
định của pháp luật TTHS.
Trước hết để đảm bảo quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng tại
phiên tòa, BLTTHS có quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 37. Đối với bị cáo, người
bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan tới vụ án, người bảo về quyền lợi của đương sự BLTTHS đều quy định
cho họ có quyền tham gia phiên tòa, đưa ra tài liệu chứng cứ, đồ vật và trình bày ý
kiến tranh luận tại phiên tòa. BLTTHS còn quy định chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm
chứng hoặc yêu cầu đưa thếm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không, nếu có
người yêu cầu thì hội đồng xét xử xem xét và quyết định (Điều 205). Ngoài ra còn có
thêm các điều 212, 214, 218 BLTTHS
3.2. Tòa án trong việc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa.
Trong tố tụng hình sự, Tòa án có vị trí rất quan trọng, là “trung tâm trong hoạt
động tố tụng hình sự”. Một vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện, nhanh
chóng, chính xác và đúng pháp luật thì tòa án phải đảm bảo quyền bình đẳng của các
bên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và bình đẳng trong
tranh luận. Để Tòa án thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì cần phải có nền tư pháp
độc lập. Hoạt động xét xử không để cơ quan lập pháp quyết định hay cơ quan hành
pháp can thiệp, mà chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và quyết định.
Có như vậy, Tòa án mới có thể đưa ra được những “bản án, quyết định đúng pháp
luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”
III. Thưc tiễn thưc hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa
án trong TTHS.
1. Những kết quả đạt được.
- Chất lượng công tố được nâng lên, việc tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên
với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ngày càng được đảm bảo.
Việc sửa đổi, bổ sung nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong
TTHS năm 2003 dẫn đến có sự điều chỉnh cơ bản đối với nhiều quy định có liên quan
đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để cho phù hợp với nguyên tắc cũng như đảm
bảo tính khả thi của nguyên tắc; trong đó có việc quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn ở
phần thủ tục phiên tòa, cụ thể là phần tranh luận cho phù hợp với nguyên tắc như là
đòn bẩy khiến các cơ quan tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nói riêng phát huy hết
khả năng của mình trong việc phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật
khách quan, đảm bảo việc điều tra, truy tố có chất lượng, đúng người, đứng tội, đúng
pháp luật. Ngay cả các Luật sư bào chữa cũng đã đánh giá cao sự đổi mới này của
6


công tác thực hành quyền công tố: Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa đã cho thấy các
Kiểm sát viên có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án để chuẩn bị
tham gia xét hỏi, tranh luận và đối đáp Luật sư. Nhiều Kiểm sát viên đã chủ động
tham gia xét hỏi chứ không bị động chờ HĐXX hỏi xong mới bổ sung chiếu lệ. Đặc
biệt các Kiểm sát viên và Luật sư đã biểu hiện được văn hóa tranh tụng, ngôn từ được
sử dụng chặt chẽ và đúng mức, tôn trọng lẫn nhau và với mục đích làm sáng tỏ vụ án.
- Vị trí vai trò của Luật sư được nâng cao.
Việc ghi nhận và tuân thủ nguyên tắc này đã nâng cao vai trò của Luật sư ở cả
trong luật lẫn trong hoạt động thực tiễn. Việc mở rộng quyền của Luật sư trong
BLTTHS 2003 đã tạo điều kiện cho họ có đầy đủ phương tiện pháp luật để thực hiện
việc bào chữa tại phiên tòa từ đó hoạt động tố tụng đã được khắc phục tính hình
thức, việc tham gia tố tụng của Luật sư trong đó có thực hiện nội dung các quyền
bình đẳng trước Tòa án đặc biệt là tranh luận của họ đã bảo vệ được quyền lợi cho
thân chủ trong nhiều vụ án, Luật sư ngày càng được đánh giá cao trong xã hội.
- Quyền của người tham gia tố tụng được đảm bảo.
Bộ luật TTHS đã mở rộng các quyền của người tham gia tố tụng từ đó tạo điều
kiện cho những người tham gia tích cực, chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi và
quan điểm của mình tại phiên tòa, vì vậy trong những năm qua số vụ án kháng cáo có
xu hướng giảm chứng tỏ quyền bình đẳng trước Tòa án ngày càng được quan tâm và
đảm bảo thực hiện.
- Chất lượng công tác xét xử đã được nâng cao, hạn chế được việc vi phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS.
Các bản án, quyết định của Tòa án đã đảm bảo đúng người đúng tội, đúng pháp
luật, thể hiện ở việc số người bị kết án oan đã giảm.
2. Một số hạn chế, vướng mắc khi thưc hiện nguyên tắc đảm bảo quyền
bình đẳng trước Tòa án trong TTHS.
- Vẫn còn xảy ra tình trạng Tòa án không triệu tập đủ thành phần tham gia
phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế, vẫn có những vụ án hình sự bị hủy, sửa do vi phạm thủ tục trong
đó có việc triệu tập thiếu người tham gia TTHS tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của họ.
- Việc xem xét, giải quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng chưa được
đảm bảo đầy đủ và không đúng pháp luật vẫn còn xảy ra.
Thực tế, việc xem xét, giải quyết các yêu cầu chưa được đảm bảo đầy đủ và
không đúng pháp luật, đặc biệt đối với thay đổi người tiến hành tố tụng với lý do họ
không vô tư khi làm nhiệm vụ. Theo các Luật sư, hầu hết khi bị thay đổi người tiến
7


hành tố tụng, tâm lý người tiến hành tố tụng thường bị xúc phạm nên có xu hướng
bác bỏ yêu cầu của người này do không đủ chứng cứ. Cũng không loại bỏ trường hợp
nhiều người lợi dụng quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của mình để gây
sức ép đối với cơ quan tố tụng. Cơ quan tố tụng lại rất máy óc chủ quan khi yêu cầu
phải có bằng chứng cụ thể về việc không khách quan thì mới chấp nhận. Chính vì
vậy, nhiều trường hợp bị cáo, người bị hại bị tước quyền để nghị thay đổi người tiến
hành tố tụng hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng nên đã bất hợp tác với Tòa
án, Viện kiểm sát, có trường hợp phản ứng tiêu cực khi không được chấp nhận yêu
cầu.
Ví dụ: Chị Lê Thị Thúy Loan ở Phan Rang đã tự tử tại phiên tòa. Ngày 11/6,
TAND tỉnh Ninh Thuận phúc thẩm xét xử chị Loan. Trong quá trình xét xử, chị Loan
yêu cầu cho điều tra lại tỉ lệ thương tật đối với ông Tâm – người bị hại và triệu tập
thêm một số nhân chứng, xét hỏi cha của chị là ông Mài vì cho rằng HĐXX đã ghi sai
lời khai của ông nhưng không được chấp nhận. Trong lúc nghị án, chị Loan đã vào
nhà vệ sinh và uống cạn chai thuốc trừ sâu và chị đã chết sau đó.
- Việc thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu của những
người tham gia tố tụng trên thực tế chưa tốt.
Tại các phiên xét xử, bị cáo cũng thường chỉ dùng lời nói, rất hiêm ai biết
trưng ra các tài liệu, đồ vật, tình tiết mới để bảo vệ mình dù luật không cấm.
- Việc xét hỏi chưa đảm bảo hiệu quả.
Xét hỏi còn phiến diện, áp đặt ý chủ quan của HĐXX mà chưa mang tính
khách quan, vô tư dẫn đến các tình tiết của vụ án chưa được xem xét toàn diện, ảnh
hưởng đến việc xem xét sự thật khách quan của vụ án và cảm giác bị Tòa án đối xử
bất bình đẳng của những người tham gia tố tụng. Tại một số phiên tòa, việc xét hỏi
chưa tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn, còn có ý kiến khác nhau.
- Sự bình đẳng trong tranh luận còn chưa được đảm bảo, tình trạng tranh
luận mang tính hình thức vẫn xảy ra, chưa coi trọng ý kiến của các bên tranh luận.
Biểu hiện: Kiếm sát viên chưa thực hiện tốt trách nhiệm tranh luận của
mình, việc đối đáp của Kiểm sát viên đối với các ý kiến của những người tham gia tố
tụng chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhưng chủ tọa phiên tòa với tư cách là
người điều khiển phiên tòa lại không yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại các ý kiến
theo quy định tại Điều 218 BLTTHS.
Số vụ án có sự tham gia của Luật sư còn ít trong khi đó Luật sư là người bảo
vệ quyền lợi cho đương sự một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất bởi sự am hiểu pháp
luật, kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh niệm tham gia tố tụng của họ.
8


Phán quyết của Tòa án chưa dựa vào kết quả tranh tụng Tòa án tại phiên tòa,
việc xem xét các chứng cứ, ý kiến của các bên đưa ra chưa đủ toàn diện mà còn phiến
diện, chỉ nghiêng về các chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội theo định kiến trước.
 Với những hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc quyền bình đẳng trước
Tòa án trong TTHS là một trong những nguyên nhân làm cho trách nhiệm xét xử
chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp thể hiện ở việc án bị hủy, sửa hàng năm
vẫn còn cao.
3. Nguyên nhân của những hạn chế và vướng mắc.
- Một số quy định của BLTTHS còn bất cập và chưa thống nhất.
Quy định của Điều 19 BLTTHS 2003 là chưa phù hợp. Vì theo quy định của
BLTTHS về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh, thì trong số các chủ thể có quyền
bình đẳng chỉ có Kiểm sát viên là người có quyền đưa ra chứng cứ và các chủ thể còn
có quyền đưa ra thông tin qua việc trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án. Vì
vậy, quy định bình đẳng ở đây là chưa phù hợp.
Tại Điều 43, Điều 54 BLTHS 2003: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, mặc dù họ có lợi ích liên
quan. Trong khi đó, tại Điều 19 thì Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,... đều có
quyền bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu. Như vậy, chưa có sự thống nhất giữa các
quy định của điều luật.
BLTTHS chưa có quy định riêng về địa vị pháp lý của người đại diện hợp pháp
của bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sư, bị đơn dân sự mà nó nằm rải rác trong
các điều luật nên dẫn đến xác định sai tư cách cho người đại diện hợp pháp.
- Các quy định về thủ tục tố tụng còn thiếu và chưa phù hợp.
BLTTHS 2003 không quy định thủ tục về việc thông báo mở phiên tòa cho
những người có quyền tham gia phiên tòa; không quy định cụ thể vấn đề bổ sung cáo
trạng của Kiểm sát viên; không quy định việc công bố bài bào chữa nếu người bào
chữa vắng mặt tại phiên tòa; Điều 224 không quy định bản án phải ghi rõ những ý
kiến tranh luận tại phiên tòa, lí do chấp nhận, không chấp nhận các ý kiến đó,...
- Đội ngũ Thấm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư hiện nay còn thiếu
về số lượng, yếu về trình độ và một bộ phận bị suy giảm về phẩm chất đạo đức.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc thưc hiện nguyên tắc.
a. Hoàn thiện pháp luật.
- Sửa đổi bổ sung các quy định về quyền của những người tham gia tố tụng
cũng như quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng.
9


Sửa đổi Điều 19 theo hướng bỏ quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và
bổ sung quyền bình đẳng trong việc đưa ra thông tin cho phù hợp với quy định của
BLTT.
Bổ sung Điều 50, 51, 52, 53, 54, 89 theo hướng thêm quyền đưa ra thông tin
cho những người tham gia tố tụng để phù hợp với Điều 19 (bổ sung từ “thông tin”
ngay sau từ “đưa ra”).
Bổ sung Điều 43, Điều 54 theo hướng thêm quyền đề nghị thay đổi người tiến
hành tố tụng cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp
của họ để phù hợp với nguyên tắc bình đẳng.
- Sửa đổi bổ sung một số quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm.
Điều 206 nên sửa đổi theo hướng quy định cụ thể việc bổ sung cáo trạng là làm
rõ hơn cáo trạng để đảm bảo tính chặt chẽ của quy phạm pháp luật cũng như quyền
bào chữa của bị cáo.
Bổ sung Điều 224 theo hướng quy định việc ghi các ý kiến tranh luận vào nội
dung của bản án để thể hiện phán quyết của Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh
tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ.
b. Giải pháp tăng cường đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên,
Luật sư có trình độ, năng lưc chuyên môn cao và có phẩm chất đạo đức.
- Nâng cao chuẩn đầu vào của cán bộ tư pháp.
- Quy định cụ thể, đầy đủ các tiêu chuẩn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các chức
danh tư pháp cũng như quy định chặt chẽ quy trình bổ nhiệm,...
- Thường xuyên tổ chức cá lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân và Kiểm sát viên.
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư. Xử
lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Ngoài ra, tăng cường công tác tuyên truyền luật, phổ biến, giáo dục kiến
thức pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm giúp họ nhận thức đúng, đầy dủ về
các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng để tránh những trường
hợp vi phạm vì không am hiểu. Từ đó góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.
KẾT LUẬN
Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án có ý nghĩa chính trị, ý
nghĩa xã hội và ý nghĩa pháp lý sâu sắc. Thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo
quyền bình đẳng cho thấy nguyên tắc này đã đạt được những hiệu quả nhất định, tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên
10


tắc này trong giải quyết vụ án hình sự cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố,
hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao trình độ,
năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và kiến thức pháp luật cho những người
tiến hành và tham gia tố tụng.
Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án là
yêu cầu cấp thiết và hoàn toàn phù hợp với mục đích của tiến trình cải cách tư pháp là
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý”.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×