Tải bản đầy đủ

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự

LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên tắc pháp chế XHCN là một trong những nguyên tắc hiến định,
bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, từ những
quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Đây là nguyên tắc pháp lí cơ
bản, chung nhất trong mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và công dân được ghi nhận ở Điều 12 Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lí xã
hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”. Điều 2 của
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về việc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố
tụng hình sự như sau: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo
quy định của Bộ luật này”. Có thể nói, nguyên tắc pháp chế XHCN là cơ sở cho
các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự và được áp dụng một cách thống nhất
trong công tác điều tra, xử lý tất cả các vụ án hình sự trên lãnh thổ nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam.
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề cần làm rõ:
1. Pháp chế XHCN:
Xuất phát điểm của pháp chế là một kỷ luật cao của Nhà nước và xã hội,
là sự tuân thủ triệt để các nghĩa vụ pháp lý. Theo quan điểm hiện nay thì “Pháp
chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả
các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước,
nhân viên tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp

luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác”. Nói một cách ngắn gọn thì
pháp chế có thể được hiểu như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững
của các quy phạm pháp luật, sự tuân thủ và chấp hành pháp luật một cách
nghiêm minh, không cho phép sự vi phạm nhỏ nhất đối với các quy định của
pháp luật.
2. Nguyên tắc pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự:
Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về nguyên tắc pháp chế
XHCN trong tố tụng HS. Tuy nhiên, xuất phát từ cách hiểu nguyên tắc cơ bản
của tố tụng hình sự là quy định chung, mang tính chất chỉ đạo, định hướng được
ghi nhận trong luật TTHS, chi phối toàn bộ hoạt động của TTHS cũng như bản
1


chất của pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tuân thủ triệt để pháp luật, có thể định
nghĩa nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa như sau: “Nguyên tắc pháp chế
XHCN trong TTHS là những quy định cơ bản chung nhất, được ghi nhận trong
Bộ luật TTHS,, và mang ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS, theo
đó các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những
người tham gia tố tụng trong khi thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng phải triệt
để tuân theo những quy định của pháp luật TTHS.” (Trần Mạnh Hùng, luận văn
thạc sỹ luật học).
3. Ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự:
Tăng cường pháp chế XHCN là một trong những yêu cầu cấp thiết để
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của tập thể nhân
dân lao động.
Trong tố tụng hình sự nguyên tắc này đảm bảo cho cuộc đấu tranh chống
tội phạm được kiên quyết, triệt để kịp thời, bảo đảm giáo dục kẻ phạm tội, đồng
thời ngăn chặn việc làm oan người vô tội và ngăn ngừa việc hạn chế các quyền
dân chủ của công dân một cách trái pháp luật
II. Nội dung nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự:
Điều 2 BLTTHS quy định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định
của Bộ luật này”. Đây có thể nói chính là nội dung của nguyên tắc pháp chế
XHCN trong tố tụng hình sự.
Nội dung này được biểu hiện qua một số điểm sau:
Trong TTHS, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa biểu hiện trước hết ở
việc cơ quan điều tra, VKS, tòa án, những người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh tuân thủ theo những quy định của BLTTHS.
Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT): phải nghiêm chỉnh chấp
hành các quy định của pháp luật TTHS, chỉ được phép áp dụng những biện pháp


mà pháp luật yêu cầu và cho phép để tiến hành các hoạt động của mình nhằm
xác định tội phạm và người phạm tội. Hay nói cách khác, các cơ quan THTT
phải thực hiện đầy đủ và đúng các quyền tố tụng của mình, đồng thời nghiêm
chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng khi tiến hành các hoạt động TTHS đê giải
2


quyết vụ án hình sự cụ thể. Các cơ quan THTT thực hiện sai quyền, nghĩa vụ tố
tụng của mình hoặc có sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan THTT thì
có sự vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN trong TTHS.
Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự, có thể hiểu rằng quá
trình tố tụng hình sự được tạo bởi một số giai đoạn đã được xác định bao gồm:
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Các bước của quá trình
này trong thực tế phải được diễn ra theo đúng trình tự đã được quy định chứ
không thể đảo ngược. Với quyết định khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có
thẩm quyền, quá trình này được vận hành và chỉ khi giai đoạn trước đã kết thúc
thì giai đoạn sau mới có thể được bắt đầu. Điều này có nghĩa rằng quyết định
khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lí đầu tiên để thực hiện việc điều tra vụ án
hình sự. Quyết định này làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS giữa các cơ quan
có thẩm quyền và những người tham gia tố tụng. Các hoạt động điều tra và việc
áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn chỉ được tiến hành sau khi có quyết đinh
khởi tố vụ án hình sự. Chỉ trong trường hợp cần thiết phải làm sáng tỏ tài liệu
đầu tiên, xác định hoàn cảnh, địa điểm xảy ra tội phạm, thu thập những vật
chứng và những tình tiết có giá trị cho việc phát hiện tội phạm thì tiến hành
khám nghiệm hiện trường; trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì bắt
người trước khi khởi tố vụ án. Tuy nhiên, đây là các hành vi tố tụng hình sự
được quy định trong BLTTHS.
Nguyên tắc pháp chế trong TTHS đòi hỏi các giai đoạn TTHS phải tuân
theo thứ tự luật định về mặt trình tự thời gian không có nghĩa là khi kết thúc một
giai đoạn nhất định thì giai đoạn tiếp theo của nó bắt buộc phải bắt đầu và lần
lượt như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng của quá trình này mà quá trình đó có
thể bị dừng lại ở bất kỳ giai đoạn nào khi có những căn cứ do pháp luật quy
định. Nhưng về nguyên tắc, tính trình tự với ý nghĩa là “sự sắp xếp lần lượt, thứ
tự, trước sau” của nó không thể đảo lộn. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng hình
sự, việc bắt đầu hay kết thúc một giai đoạn nhất định không phải do ý muốn chủ
quan của các cơ quan tiến hành tố tụng mà theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự. Các chủ thể của quá trình này chỉ được hành động theo đúng yêu cầu
của pháp luật, trong phạm vi pháp luật cho phép. Ví dụ, các cơ quan có quyền
3


khởi tố vụ án hình sự chỉ có quyền khởi tố vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều
100 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời theo quy định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng
hình sự thì đây cũng là trách nhiệm của họ, có nghĩa là khi có căn cứ quy định
tại điều luật nêu trên thì họ phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự chứ không
thể hành động khác (trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 105). Mặt khác,
khi xuất hiện những căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, các cơ
quan có thẩm quyền khởi tố có nghĩa vụ không được khởi tố vụ án hình sự, nếu
đã khởi tố thì phải hủy quyết định khởi tố.
Việc cơ quan THTT tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế XHCN không
chỉ giới hạn ở chỗ hoạt động tố tụng của các cơ quan này tuân thủ triệt để trình
tự về mặt thời gian của quá trình TTHS mà các cơ quan THTT khi thực hiện các
hành vi tố tụng tiến hành giải quyết vụ án còn phải tuyệt đối tuân thủ các thủ tục
tố tụng mà pháp luật TTHS quy định. Việc tuân thủ triệt để các thủ tục TTHS có
ý nghĩa rất lớn trong thực hiện nhiệm vụ của TTHS là làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ án, đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân.
BLTTHS quy định một trình tự chặt chẽ với những thủ tục tố tụng cụ thể trong
toàn bộ hoạt động TTHS. Ví dụ về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp
phải được thực hiện theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 81,…
Việc các cơ quan THTT tuân thủ trình tự, thủ tục TTHS chính là đã tuân
thủ triệt để hình thức TTHS.
Việc tuân thủ nguyên tắc pháp chế trong TTHS của các cơ quan tiến hành
tố tụng chính là việc tuân thủ về thẩm quyền, về căn cứ tiến hành các hoạt động
TTHS, đó chính là việc tuân thủ các quy định về nội dung của BLTTHS. Điều
này có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép thực hiện các hành
vi tố tụng mà pháp luật TTHS ghi nhận trên cơ sở các quy định về thẩm quyền
và căn cứ thực hiện các hoạt động tố tụng đó. Chẳng hạn trong giai điều tra, chỉ
các cơ quan điều tra có thẩm quyền mới có quyền và nhiệm cụ tiến hành các
biện pháp điều tra hoặc các hành vi tố tụng khác được quy định từ chương IX
đến chương XIV BLTTHS theo đúng tình tự, thủ tục, thẩm quyền, căn cứ cụ thể
trong những chương này của BLTTHS. Tương tự như vậy chỉ có Tòa án mới có

4


thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng được quy định từ chương XVI đến
chương XIV BLTTHS và theo đúng các quy định của những chương này.
Các cơ quan tiến hành tố tụng được nhà nước trao cho nhiệm vụ giữ vai
trò chủ yếu trong việc phát hiện, điều tra, làm rõ và xử lí tội phạm. Vì vậy, mọi
hành vi của các chủ thể này phải được thực hiện theo đúng những quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác. Như vậy
nguyên tắc pháp chế không cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các
biện pháp khác ngoài các biện pháp mà BLTTHS quy định để giải quyết vụ án.
Đó là điều kiện quan trọng để pháp chế XHCN được tôn trọng và tuân thủ trong
TTHS.
*Đối với những người tiến hành tố tụng: Khi thực hiện những hành vi
tố tụng do Bộ luật tố tụng hình sự quy định các chủ thể này nhất là điều tra viên
có quyền áp dụng các phương tiện kĩ thuật, các biện pháp chiến thuật nghiệp vụ
nhất định để phục vụ cho việc phát hiện, thu thập, ghi nhận, bảo quản, nghiên
cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ một cách hiệu quả nhất. Nhưng rõ ràng, việc
áp dụng những phương tiện, biện pháp nghiệp vụ đó không thể trái với những
quy định chung hoặc những quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ,
khi hỏi cung bị can, điều tra viên có quyền áp dụng một số chiến thuật hỏi cung
bị can, như giáo dục, thuyết phục để bị can thay đổi nhận thức, sử dụng chứng
cứ, sử dụng mâu thuẫn, các biện pháp tác động tâm lí đối với bị can,… nhưng họ
phải tôn trọng những quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự về việc bảo
đảm quyền bào chữa của bị can, tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của bị can
và nhất là những quy định về thủ tục triệu tập bị can, hỏi cung bị can, biên bản
hỏi cung bị can được quy định tại các Điều 129, 131, 132 Bộ luật tố tụng hình
sự. Đây là điều kiện quan trọng để pháp chế được tôn trọng và tuân thủ trong tố
tụng hình sự. Việc vi phạm những quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong
quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự chính là sự vi
phạm pháp chế trong tố tụng hình sự.
Ngoài ra để nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được tôn trọng trong
tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự thì không chỉ cần có sự tuân thủ pháp
luật triệt để từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng mà đòi hỏi ấy với cùng một
5


cấp độ phải được đặt ra đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội hữu quan và các cá nhân khác nhất là những người tham gia tố tụng.
Sự phối hợp của các chủ thể đó với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát
hiện, điều tra, xử lí tội phạm là một điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi
trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Sự phối hợp, tham gia tố tụng hình
sự của các chủ thể này không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của họ. Khi các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự có liên quan đến họ (quyền và nghĩa vụ
báo tin và tố giác tội phạm, cung cấp chứng cứ, tham dự vào các hoạt động tố
tụng, thực hiện các yêu cầu khác của cơ quan tiến hành tố tụng,…) không được
thực hiện một cách triệt để theo đúng yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự thì
điều đó không chỉ là sự vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố
tụng hình sự mà còn làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh chống tội phạm
trong thực tế. Nhiều vụ án được dư luận quan tâm và đưa ra xét xử gần đây cho
thấy việc những vụ án đó không được phát hiện kịp thời hoặc hoạt động điều tra,
xử lí gặp khó khăn trong đó phải kể đến nguyên nhân này.
Nguyên tắc pháp chế còn biểu hiện ở việc áp dụng biện pháp cưỡng chế
cũng như biện pháp nghiệp vụ trong đấu tranh chống tội phạm nhất thiết phải
theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm cưỡng chế chỉ áp dụng đối với
những đối tượng và theo thủ tục do pháp luật quy định, nghiêm cấm xử phạt
người vô tội. Bởi lẽ các biện pháp cưỡng chế cũng như các biện pháp nghiệp vụ
mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng là để đảm bảo cho cuộc đấu tranh
chống và phòng tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng được thuận lợi. Ngoài ra, nguyên tắc này còn biểu hiện ở chỗ tất cả các
quyết định của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án đều phải dựa trên cơ sở
của Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự.
III. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa:
1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
Pháp chế với ý nghĩa là sự tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật
một cách triệt để của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Do vậy, nếu những
quy định của pháp luật càng rõ ràng, chặt chẽ, vừa mang tính khái quát cao, vừa
6


thể hiện chi tiết cụ thể thì nó tạo điều kiện cho các chủ thể nhận thức pháp luật
được thống nhất làm cơ sở cho việc tuân theo pháp luật và áp dụng pháp luật,
đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước thiết lập.
Trong tố tụng hình sự, muốn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án được nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân thì Bộ luật tố tụng hình sự phải quy định đầy đủ tất cả
các quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng hình sự. Đây là vấn đề quan trọng
nhất để các chủ thể tham gia tố tụng hình sự thực hiện được đúng đắn.
Trong thời gian qua, trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2003 và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan, đã giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng có căn cứ để giải quyết vụ án hình sự, góp phần bảo vệ
pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức, đấu tranh và phòng ngừa vi phạm, tội phạm. Tuy nhiên, qua
hơn 6 năm thực hiện Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã nảy sinh một số khó
khăn, vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình
hiện nay.
Thứ nhất, Về vấn đề người bào chữa
Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự quy định Người bào chữa bao gồm Luật
sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên
nhân dân. Trong khi đó thực tế hiện nay rất ít có trường hợp có bào chữa viên
nhân dân hay người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo để tranh luận tại phiên
tòa. Ngoài ra, thực tế có những trường hợp cơ quan điều tra đã cấp giấy chứng
nhận bào chữa cho bố, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em của bị can trong khi chính
những người này cũng không hiểu họ sẽ vận dụng những quy định nào của pháp
luật để bào chữa và làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Mặt khác, tại Điều 10
của Bộ luật có quy định về tiêu chuẩn Luật sư là "…có bằng cử nhân luật, đã
được đào tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư…" mới
được tham gia bào chữa, chưa nói đến nếu Luật sư muốn tham gia vào các giai
đoạn tố tụng thì còn phải xuất trình một số giấy tờ như thẻ Luật sư, giấy giới
thiệu, đơn mời Luật sư, hợp đồng… còn người đại diện hợp pháp chỉ cần chứng
minh họ là người thân thích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là đủ. Do vậy,
7


sự quy định như trên quả là một nghịch lý và là cơ sở để các cơ quan tiến hành
tố tụng né tránh các Luật sư trong khi một thực tế đã chứng minh "càng né tránh
Luật sư ở giai đoạn điều tra thì càng bất lợi ở giai đoạn truy tố và xét xử. Vì
vậy, tại Điều 56 chỉ nên quy định người bào chữa là Luật sư chứ không nên đưa
cả người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên
nhân dân là người bào chữa.
Tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định những trường hợp
bắt buộc phải có Luật sư, quy định này là bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị
cáo, song cũng thể hiện sự bất cập vì khoản 2 Điều 57 đồng thời cũng lại quy
định bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu
"thay đổi hoặc từ chối người bào chữa". Chính việc quy định vừa mở lại vừa
đóng như vậy, dẫn tới trường hợp khi đã bị bắt giam rồi thì đa phần các bị can
đều từ chối mời Luật sư, kể cả có trường hợp đã ký hợp đồng mời Luật sư trước
khi bị bắt tạm giam. Hơn nữa, cũng không có điều kiện để khẳng định cách giải
thích của những người tiến hành tố tụng về quyền bào chữa của những người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo đến đâu, có để họ hiểu được việc mời Luật sư là quyền
của họ và các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện
để họ thực hiện quyền đó hay không. Do đó, không nên quy định "bị can, bị cáo
và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền thay đổi hoặc từ chối người
bào chữa". Mà phải coi đây là những trường hợp bắt buộc phải có người bào
chữa, vì ngoài việc bào chữa cho thân chủ ra thì Luật sư còn phải có trách nhiệm
làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, cũng như tránh việc né tránh người bào chữa trong các giai đoạn tiền tố
tụng.
Quy định của điểm a, điểm b khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự
cũng chưa bảo đảm được quyền của các Luật sư, vì quy định như vậy nhưng trên
thực tế quyền của các Luật sư hoàn toàn bị động vì nếu Luật sư được có mặt khi
lấy lời khai của bị can thì chỉ được hỏi khi Điều tra viên đồng ý, cũng như quyền
đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có
mặt khi hỏi cung bị can. Rõ ràng đây là quyền đề nghị, còn chấp nhận hay
không lại là quyền của Cơ quan điều tra hoặc có những trường hợp được thông
8


báo thì cũng lại với thời gian quá gấp, Luật sư lại ở quá xa không thể có mặt
được, do vậy, cũng không thể có mặt khi lấy lời khai của bị can được. Vì vậy, về
quyền của người bào chữa nên quy định được hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo chứ không nên quy định "nếu điều tra viên đồng ý"; điểm b khoản 2 Điều 58
nên sửa là "được Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung
bị can..." chứ không nên dùng thuật ngữ "đề nghị" như hiện nay.
Thứ hai, Về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:
- Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì
chỉ có Cơ quan điều tra mới có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm. Quy định này là chưa hợp lý, bởi vì số tin báo, tố giác về tội phạm sẽ tập
trung về Cơ quan điều tra nhiều và việc giải quyết sẽ không kịp thời; bên cạnh
đó, cũng hạn chế cho Viện kiểm sát trong việc nắm tố giác, tin báo về tội phạm
mà Cơ quan điều tra đã nắm bắt được để thực hiện kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Quy định về vấn đề này của Bộ
luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã hạn chế hơn so với quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 1988, vì vậy, gây khó khăn cho Viện kiểm sát trong việc nắm
tình hình tố giác, tin báo về tội phạm để thực hiện việc kiểm sát; vì vậy, đề nghị
về nội dung này nên quay trở lại quy định như Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
1988 thì việc thực hiện công tác kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân sẽ thuận lợi hơn, đảm bảo không bỏ lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội. Theo đó, cần bổ sung vào Điều 103, Điều
111 Bộ luật Tố tụng Hình sự những cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm: Cơ quan điều tra, Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm… để việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
hiệu quả hơn.
2. Hoàn thiện về mặt cơ cấu, tổ chức của các cơ quan tiến hành tố tụng
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm không vi
phạm pháp luật, pháp chế, Nhà nước không những phải xây dựng hoàn chỉnh Bộ
luật tố tụng hình sự mà còn phải xây dựng một cơ cấu hợp lý các cơ quan tiến
hành tố tụng, để các cơ quan đó thực hiện tốt nhất, chức năng nhiệm vụ của
mình. Do vậy, vấn đề hoàn thiện cơ cấu, tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến
9


hành tố tụng là một yếu tố quan trọng để bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tố
tụng hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng là người trực tiếp áp dụng luật tố
tụng hình sự và luật hình sự trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Nếu các cơ quan đó có cơ cấu hợp lý tức là có sự phân định rõ ràng về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, phân định rõ ràng về mối quan hệ
quản lý hành chính và mối quan hệ tố tụng hình sự giữa Thủ trưởng cơ quan với
cá nhân Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công tiến hành tố tụng hình sự
thì hoạt động tố tụng mang lại hiệu quả cao. Ngược lại nếu cơ cấu các cơ quan
tiến hành tố tụng không hợp lý thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm.
3. Giáo dục công dân tự giác chấp hành pháp luật:
Việc nhân dân hiểu biết đầy đủ pháp luật là tiền đề quan trọng nhất cho
việc tuân thủ pháp luật - một trong những điều kiện không thể thiếu để pháp chế
được bảo đảm. Do đó cần phải đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và
giáo dục pháp luật đồng thời các cơ quan tiến hành tố tụng phải phát hiện kịp
thời cũng như xử lí nghiêm minh các vi phạm pháp luật nhằm làm cho nhân dân
hiểu biết pháp luật nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.
4. Giải pháp khác:
Hoàn thiện về vấn đề nhân lực.
Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ những người tiến hành tố tụng.
KẾT LUẬN
Qua phân tích về các biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế XHCN
trong tố tụng hình sự có thể thấy được tầm quan trọng của nguyên tắc này trong
tố tụng hình sự, nó là cơ sở cho các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự và được
áp dụng một cách thống nhất trong công tác điều tra, xử lý tất cả các vụ án hình
sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Do đó, cần có những giải
pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện nguyên tắc này trong thời gian tới.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×