Tải bản đầy đủ

Đương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đương sự là một khái niệm pháp lý đặc thù của lĩnh vực tố tụng tại Tòa án, thể
hiện mối quan hệ đặc biệt quan trọng đối với tất cả các vụ án bao gốm nhiều lĩnh
vực như dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế… Không vụ án nào lại không có
đương sự bởi vì không có đương sự thì sẽ không có vụ án đó. Chính vì lẽ đó mà
việc xác định tư cách đương sự trong vụ án là rất quan trọng không thể thiếu được
trong quá trình tố tụng. Trong vụ án dân sự cũng vậy, đương sự được coi là chủ thể
quan trọng, nếu thiếu đi chủ thể này thì vụ án dân sự không thể phát sinh. Trong bài
viết dưới đây, nhóm em xin được đề cập đến vấn đề :” Đương sự và việc xác định
tư cách của đương sự trong vụ án dân sự”
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung về đương sự trong vụ án dân sự trong vụ án dân sự.
1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự.
Vụ án dân sự là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện để
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích
nhà nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp. Trong
các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Trong một số trường hợp tuy họ không có quyền lợi ích liên quan đến vụ án
dân sự nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước
trong lĩnh vực được tham gia phụ trách. Họ có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức

(có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân).
Theo quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS 2004: “Đương sự trong vụ án
dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan”. Như vậy các đương sự trong vụ án dân sự khá phong phú
đa dạng bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập.
Có thể định nghĩa về đương sự trong vụ án dân sự như sau: “Đương sự trong
vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ
trách”.
2, Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai
yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự
là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS nên để tham gia vào quan hệ pháp
1


luật TTDS thì đương sự phải có năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi
TTDS.
* Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự: Là khả năng pháp luật
quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền và
nghĩa vụ TTDS.
Năng lực pháp luật TTDS là năng lực pháp luật dân sự có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lực pháp luật TTDS.
“Mọi cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật TTDS như nhau trong việc yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1, Điều 57
BLTTDS 2004). Như vậy, đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các chủ
thể có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Năng lực pháp luật TTDS của cá nhân bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại của
cá nhân từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Năng lực pháp
luật TTDS của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ
chức đó không còn tồn tại.
* Năng lực hành vi TTDS của đương sự: Là khả năng tự mình thực hiện
quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS (khoản 2,
Điều 57 BLTTDS 2004) khác với năng lực pháp luật tố tụng của đương sự là như
nhau thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng tự mình thực
hiện quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS
(khoản 2, Điều 57 BLTTDS 2004). Khác với năng lực pháp luật tố tụng dân sự của
đương sự là như nhau thì năng lực hành vi TTDS là yếu tố luôn có sự biến động và
được xác định ở các mức độ khác nhau.
Năng lực hành vi TTDS có mối quan hệ mật thiết với năng lực hành vi dân sự,
cũng như năng lực pháp luật TTDS, một chủ thể được xác định là có năng lực hành
vi TTDS nếu chủ thể đó có năng lực hành vi dân sự.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 57 BLTTDS thì đương sự từ đủ 18 tuổi trở
lên có đầy đủ năng lực hành vi TTDS trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Theo hướng
dẫn tại Nghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 thì người chưa đủ 18
tuổi vẫn có thể có đầy đủ năng lực hành vi TTDS (người vợ chưa đủ 18 tuổi họ có
quyền tham gia TTDS) hoặc người đủ 18 tuổi nhưng lại không có đầy đủ năng lực
hành vi TTDS (trong trường hợp Tòa án cấm cha, mẹ làm đại diện cho con thì họ
không được tham gia TTDS).
2


II. Xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS, đương sự trong vụ án dân sự
bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Nguyên đơn dân sự
Khoản 2 Điều 56 BLTTDS quy định: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là
người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy
định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi
ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu
Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ
trách cũng là nguyên đơn”.
Như vậy, nguyên đơn có hai trường hợp:
Trường hợp 1: Nguyên đơn là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm
phạm.
- Người có quyền lợi bị xâm phạm hay tranh chấp với bị đơn
Nguyên đơn phải là những chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Khi nhận thấy quyền lợi của bản thân bị
xâm phạm hoặc có tranh chấp chủ thể đó tự mình yêu cầu cơ quan chức năng bảo
vệ quyền lợi cho mình. Vì vậy, nguyên đơn phải chứng minh giữa nguyên đơn và
người bị kiện đã tồn tại một quan hệ pháp luật và quan hệ đó thuộc thẩm quyền về
dân sự của Tòa án. Việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm hại xuất phát từ ý chí chủ
quan của nguyên đơn. Bởi nguyên đơn là người cho rằng quyền lợi của mình bị
xâm phạm, còn nguyên đơn có thực sự bị xâm hại hay không thì chỉ có thể khẳng
định được khi có bản án, quyết định của tòa án. Khi chưa có bản án, quyết định của
tòa án có hiệu lực pháp luật khẳng định vấn đề đó thì quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn mới chỉ dừng lại là giả thiết bị xâm hại.
- Tự mình khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện thay
Trường hợp nguyên đơn đã tự mình khởi kiện, thì nguyên đơn phải là người có
đầy đủ năng lực hành vi TTDS và trực tiếp khởi kiện vụ án dân sự.
Đối với trường hợp người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc
tranh chấp nhưng không có hoặc không đầy đủ năng lực hành vi TTDS thì việc
khởi kiện do người đại diện hợp pháp của người đó tiến hành.
3


Về nguyên tắc, chủ thể có quyền lợi trong vụ kiện mới được thực hiện quyền
khởi kiện nhưng trong một số trường hợp nhất định pháp luật cho phép người khác
có thể thực hiện việc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Những người này khởi kiện hoàn toàn vì quyền lợi của đương sự chứ không phải
quyền lợi của bản thân mình. Cá nhân, cơ quan tổ chức vì lợi ích của người khác
mà khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được
khởi kiện, thì người khởi kiện sẽ là nguyên đơn.
Đối với cá nhân chưa thành niên (trừ trường hợp cá nhân từ đủ mười lăm tuổi
đến chưa đủ mười tám tuổi không mất, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản
riêng của mình – khoản 6 Điều 57 BLTTDS); người mất năng lực hành vi dân sự;
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện hợp pháp của họ (đại
diện theo pháp luật) có quyền khởi kiện vụ án. Trong trường hợp nguyên đơn là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; do những người này
không có năng lực hành vi TTDS, nên người đại diện hợp pháp đó có quyền thực
hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn tại Tòa án (1)
Đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của chính cơ quan, tổ chức đó thì
người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện, và cơ quan tổ
chức khởi kiện là nguyên đơn trong vụ án.
VD: Trường hợp theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2006/NQHĐTPTANDTC khi xét thấy có đủ điều kiện để thụ lý vụ án do cơ quan, tổ chức
khởi kiện theo quy định tại Điều 163 BLTTDS thì việc xác định tư cách nguyên
đơn như sau: Đối với cơ quan về dân số - gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn là:
* Người được cơ quan về dân số - gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó theo quy đinh tại khoản 3 Điều 55 Luật Hôn
nhân và gia đình;
* Người con được cơ quan về dân số - gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ
nữ khởi kiện vụ án đề yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật
Hôn nhân và gia đình;
* Cha mẹ được cơ quan về dân số - gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi
dân sự quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình.
4


Trường hợp 2: Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ
lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước phải có điều kiện sau: Thứ nhất, cơ quan, tổ
chức đó có những nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định. Thứ hai, lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước cần yêu cầu Tòa án bảo vệ phải thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức
đó phụ trách. VD: Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có quyền khởi kiện vụ án
dân sự để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm
môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường
công cộng…
2. Bị đơn trong vụ án dân sự
Theo quy định tại khoản 3 điều 56 BLTTDS 2004: “Bị đơn trong vụ án dân sự
là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật
này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm hại”.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì cá nhân, cơ quan, tổ chức bị
xác định là bị đơn trong VADS khi có những điều kiện sau:
Thứ nhất, bị đơn là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền
theo quy định của BLTTDS khởi kiện.
Thứ hai, bị đơn là người được giả thiết đã xâm phạm đến quyền, lợi ích của
nguyên đơn hoặc có tranh chấp với nguyên đơn. Việc bị đơn có thật sự xâm phạm
đến quyền lợi của nguyên đơn hay không thì phải chờ đến khi Tòa án xét xử vụ án,
phải dựa vào bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trên
thực tế có thể xuất hiện trường hợp nguyên đơn hoặc các chủ thể khởi kiện đã khởi
kiện không đúng chủ thể có vi phạm hoặc tranh chấp với nguyên đơn nhưng tòa án
vẫn thụ lý, TA vẫn xác định chủ thể bị kiện này là bị đơn. Nếu theo quy định của
pháp luật thì trường hợp này TA sẽ giải quyết VADS và bác yêu cầu của nguyên
đơn. Trong một số trường hợp thì bị đơn cũng có thể trở thành nguyên đơn, theo
quy định tại khoản 1 Điều 219 BLTTDS 2004 thì khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu
cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn
trở thành nguyên đơn.
Trên cơ sở quy định của pháp luật nội dung thì việc xác định tư cách bị đơn
được cụ thể trong một số trường hợp:
5


TH1: Đối với việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại của cá nhân gây ra
theo điều 606 BLDS 2005, tư cách bị đơn được xác định như sau: Người từ đủ 18
tuổi trở lên gây thiệt hại (khoản 1 điều 606 BLDS 2005) thì họ chính là bị đơn dân
sự, trừ trường hợp họ mất năng lực hành vi dân sự;Người chưa thành niên dưới 15
tuổi gây thiệt hại (đoạn 1 khoản 2 điều 606 BLDS 2005) mà còn cha mẹ thì cha mẹ
của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự; Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
gây thiệt hại (đoạn 2 khoản 2 điều 606 BLDS 2005) thì người gây thiệt hại là bị
đơn dân sự và cha mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà
có người giám hộ (khoản 3 điều 606 BLDS 2005) thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị
đơn dân sự.
TH2: Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do công chức, viên
chức, người của pháp nhân, người của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (điều 619,
điều 620) thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường được quy định tại điều 33 Luật
trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Theo đó bị đơn trong trường hợp này là cơ quan,
tổ chức quản lý cán bộ, cơ quan tiến hành tố tụng,…
TH3: Đối với các quan hệ bảo lãnh thì chủ nợ có thể khởi kiện bên bảo lãnh
để yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn
mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong
trường hợp các bên có thỏa thuận thì chủ nợ có thể kiện bên bảo lãnh để yêu cầu họ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn mà bên có nghĩa
vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (điều 361 BLDS 2005). Như
vậy, bị đơn sẽ là người bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện nhưng bên có
nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu không thỏa mãn các điều kiện này thì bị
đơn phải là người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng...
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự.
Khoản 4 điều 56 BLTTDS 2004 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng
việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ
được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được tòa án chấp nhận
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi kiện của nguyên đơn và việc thụ lý
6


của Tòa án. Nếu nguyên đơn không khởi kiện và Tòa án không thụ lý thì không thể
xuất hiện tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 61 BLTTDS 2004 thì người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: “có thể yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng
với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn”.
Thứ nhất, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và
bị đơn. Trong VADS lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn
nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn.
Theo quy định tại Điều 177 BLTTDS 2004 thì yêu cầu của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan được coi là yêu cầu độc lập khi: Việc giải quyết vụ án đó
liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến
vụ án đang được TA giải quyết; Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng
một vụ án làm cho việc giải quyết của vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Như vậy, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là yêu
cầu khác với các yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn.
Thứ hai, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về
phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia
vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng
của nguyên đơn hoặc bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn do có quyền và lợi ích luôn phụ thuộc
và gắn liền với quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên yêu cầu của họ bao
giờ cũng đi kèm và phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn. Vì vậy, họ
không thể khởi kiện để Tòa án giải quyết, mà quyền lợi của họ sẽ được giải quyết
ngay trong vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn.
III. Thực tiễn của việc áp dụng các quy định pháp luật về đương sự và xác
định tư cách của đương sự và một số kiến nghị
1.
Thực tiễn
Trong những năm qua, công tác giải quyết khiếu nại, xét xử phúc thẩm việc
giải quyết vụ việc dân sự của TAND các cấp dù đã có nhiều kết quả đáng khích lệ
nhưng vẫn chưa thể hoàn toàn tránh khỏi những thiếu sót dẫn tới nhiều bản án phải
sửa lại nhiều lần, thậm chí phải hủy bản án để xử lại. Một trong những nguyên nhân
7


chính dẫn đến sự việc này liên quan đến việc xác định tư cách đương sự trong tố
tụng dân sự.
Vấn đề này đã được rút kinh nghiệm trong các báo cáo tổng kết và báo cáo
tham luận của tòa án chuyên trách trực thuộc TANDTC tại hội nghị tổng kết công
tác ngành Tòa Án. Cụ thể: Báo cáo tổng kết ngành tòa án năm 2011 của TANDTC
kết luận: Một trong những thiếu sót, khuyết điểm thường gặp trong công tác giải
quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và
tuyên bố phá sản là xác định sai tư cách của người tham gia tố tụng, xác định sai
thời hiệu khởi kiện.
Tổng hợp lại, những sai sót trên thực tế mà TAND hay gặp phải là:
Thứ nhất, Khi bị đơn chết, TA không đưa người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố
tụng của bị đơn vào tham gia tố tụng. Khoản 1 Điều 62 BLTTDS quy định:
“Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ
tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”, theo đó, khi có
đương sự trong vụ án dân sự chết thì Tòa án phải làm rõ là họ có để lại tài sản thừa
kế hay không và ai là người được hưởng tài sản thừa kế của họ để từ đó triệu tập
người thừa kế vào tham gia tố tụng và giải quyết vụ án. Nếu chưa có người thừa kế
quyền và nghĩa vụ tố tụng thì căn cứ vào khoản 1 Điều 189 BLTTDS để tạm đình
chỉ giải quyết vụ án, nếu không có người thừa kế thì căn cứ điểm a khoản 1 Điều
192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ hai, là trong thời gian qua, khi giải quyết các việc dân sự như: yêu cầu
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế (viết gộp là mất hoặc
hạn chế) năng lực hành vi dân sự, yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại
nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tuyên bố một người là đã chết, đã
có nhiều Tòa án xác định người tham gia tố tụng gồm người yêu cầu và người bị
yêu cầu; hoặc biến tướng thành một bên là... với một bên là... Với cách ghi như vậy,
vô hình trung các Tòa án đã xác định những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc
hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích... là
đương sự tham gia tố tụng. Với cách ghi như vậy, vô hình trung các Tòa án đã xác
định những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích... là đương sự tham gia tố tụng. Từ các
quy định của BLTTDS thấy rằng, trong giải quyết việc dân sự, do không có tranh
chấp nên không có nguyên đơn và bị đơn như trong vụ án dân sự mà chỉ có người
yêu cầu. Đương sự chỉ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự
kiện pháp lý như: sự kiện một người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự,
8


sự kiện một người vắng mặt nơi cư trú, sự kiện một người mất tích hoặc đã chết...
Do đó, việc một số Tòa án xác định người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích... như là một bị đơn là không đún
Thứ ba, sai sót do không đưa ra đầy đủ người tham gia tố tụng. Việc bỏ sót
người tham gia tố tụng là một trong những sai lầm nghiêm trọng nên tòa án cấp trên
phải hủy bản án hoặc hủy khắng nghị bản án, quyết định có hiệu lực để giải quyết
lại. Các sai lầm thường gặp là việc tòa án đã không đưa đầy đủ người tham gia tố
tụng trong trường hợp tòa án giải quyết vụ việc liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
của người nào đó mà không có ai đề nghị họ tham gia tố tụng. Trường hợp này xảy
ra tại Hà Nội cũng khá nhiều. Theo thống kê năm 2008, Hà Nội có 139 vu án bị
hủy, trong đó có 64 vụ bị hủy do xác định thiếu người tham gia tố tụng, xác định sai
tư cách đương sự.
Thứ tư, Tòa án giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự. Trong một
số vụ việc như đòi nhà cho thuê, chiếm hữu nhà bất hợp pháp,... Tòa án đã giải
quyết quá phạm vi yêu cầu của đương sự. Sự việc này đã vi phạm nguyên tắc quy
định trong Điều 5 BLTTDS về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
2. Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện
Để việc giải quyết vụ án dân sự một cách đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các đương sự và lợi ích của nhà nước cần hoàn thiện một số quy định của
pháp luật về đương sự như sau:
- BLTTDS cần bổ sung thêm khái niệm: “Đương sự là người tham gia tố tụng
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của
nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”.
- Bộ luật TTDS cần quy định rõ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên
nguyên đơn hoặc bị đơn; qua đó xác định chính xác tư cách của đương sự nhằm
đưa vụ án dân sự giải quyết nhanh chóng và đúng đắn.
Cụ thể: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người
tham gia và vụ án dân sự đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền lợi
của mình, yêu cầu của họ độc lập với yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn. Còn
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn
hoặc bị đơn là người tham gia và vụ án để bảo bệ quyền lợi của mình, yêu cầu của
họ phụ thuộc vào yêu cầu của bên nguyên đơn hoặc yêu cầu phải tố của bên bị đơn.

9


- BLTTHS cần quy định: Đối với vụ án dân sự mà có nhiều nguyên đơn, bị
đơn, nếu quyền và lợi ích giữa các nguyên đơn và bị đơn không mâu thuẫn thì họ là
đồng nguyên đơn và bị đơn. Nếu quyền và lợi ích mâu thuẫn với nhau thì họ là
những nguyên đơn và bị đơn độc lập.
- BLTTDS cần gộp hai quy định tại khoản 4, 5 điều 57: Đương sự là người
dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự thì việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ do người đại diện của họ thực hiện.
BLTTDS cần quy định rõ trường hợp đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng
không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng, đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng
vẫn có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ. Và trường hợp người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì năng lực hành vi TTDS của họ chỉ bị hạn chế trong lĩnh vực bị
cấm.
Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật về đương sự, để việc xác định
tư cách của các loại đương sự một cách đúng đắn thì cần thiết phải nâng cao trình
độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ thẩm phán cả về số lượng và chất lượng
song song với công tác tuyên truyền pháp luật để khi tham gia vào quan hệ pháp
luật tố tụng thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có sự hiểu biết để bảo vệ quyền, lợi ích
của mình và nhà nước.
C. KẾT LUẬN
Đương sự trong vụ án dân sự là chủ thể đặc biệt quan trọng. Việc xác định
thành phần, tư cách của đương sự có ý nghĩa quan trọng giúp cho quá trình giải
quyết vụ án một cách chính xác, khách quan. Tuy nhiên các quy định trong
BLTTDS còn chưa thực sự đầy đủ, còn tồn tại một số bất cập như đã nêu ở trên. Vì
vậy hoàn thiện pháp luật là nhu cầu tất yếu góp phần tạo điều kiện giải quyết các vụ
án dân sự của Tòa án được nhanh chóng chính xác.

Danh mục tài liệu tham khảo

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Bộ luật dân sự 2005

Nghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005

Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTPTANDTC

Giáo trình luật tó tụng dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội

“Đương sự trong vụ án dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Hiền-DS33A
10



“Đương sự trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp”, Lê Thị
Phượng-DS31B

http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/5031-Xac-dinh-tu-cachtham-gia-to-tung-khong-dung-luat#ixzz2MWrjLIQl

Tạp chí Nghề Luật số 2/2006

MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................1
B. NỘI DUNG...................................................................................................1
I. Khái quát chung về đương sự trong vụ án dân sự trong vụ án dân sự...........1
1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự.........................................................1
2, Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự.........1
II. Xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự......................................3
11


1. Nguyên đơn dân sự........................................................................................3
2. Bị đơn trong vụ án dân sự..............................................................................5
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự..........................7
III. Thực tiễn của việc áp dụng các quy định pháp luật về đương sự và xác
định tư cách của đương sự và một số kiến nghị........................................................8
1.Thực tiễn.........................................................................................................8
2. Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện........................................................9
C. KẾT LUẬN.................................................................................................10

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×