Tải bản đầy đủ

Nội dung của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này

Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước
để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của
công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một
nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến
pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Điều 16 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này
cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện một cách hiệu quả. Để tìm hiểu rõ hơn về
nguyên tắc này, nhóm em lựa chọn đề tài: “Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện nguyên tắc này”.

I. Những vấn đề chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật

1. Cơ sở pháp lý nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để
tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là
phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận
trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ
sung năm 2001 quy định rất rõ về nguyên tắc này trong Điều 130, Điều 5 Luật Tổ chức

~1~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

Tòa án nhân dân và Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) năm 2003: “khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”..
Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ
và thực hiện triệt để. Bài viết phân tích và trình bày những nội dung cơ bản của nguyên
tắc và những giải pháp bảo đảm để nguyên tắc được thực thi có hiệu quả.
2. Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật
Nguyên tắc là “những quy định, phép tắc,tiêu chuẩn cơ sở, chỗ dựa để xem xét,
làm việc.
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và kết luận một người có tội và không
có tội,quyết định các hình phạt và các vấn đề liên quan đến các quyền của công dân như
bồi thường, các biện pháp ngăn chặn…Do tính chất quan trọng của hoạt động xét xử phải
tuân theo trình tự, thủ tục và nguyên tắc nhất định.
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nghĩa là phải tự mình đưa ra kết luận giải quyết vấn đề
trên cơ sở quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khác. Đó là
tư tưởng chủ đạo, định hướng trở thành xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán và Hội
thẩm khi được phân công xét xử vụ án. Nguyên tắc này trở thành nguyên tắc cơ bản của
Luật TTHS là “ những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số hoạt động
TTHS, được ghi nhận trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra định nghĩa về nguyên tắc trên như sau:
“nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong


TTHS là những tư tưởng chỉ đạo có tính bắt buộc thể hiện quan điểm của nhà nước trong
hoạt động xét xử được quy định trong luật TTHS, theo đó chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm
mới có quyền đưa ra phán quyết trên cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án
một cách khách quan, chính xác”.

II. Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật
1. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật
Độc lập nghĩa là tự đưa ra quyết định dựa trên những chứng cứ và quyết định của
pháp luật để quyết định về vụ án hình sự mà không phụ thuộc vào bất cứ sự tác động nào
khác. Lấy chủ thể của hoạt động xét xử để nghiên cứu thì sự độc lập biểu hiện trên hai
khía cạnh: độc lập với các yếu tố khách quan và độc lập với yếu tố chủ quan.

~2~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

1.1. Độc lập với các yếu tố bên ngoài
Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan
điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Quá trình nghiên cứu
hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các
tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có
trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những
chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Khoản 3 Điều 222 Bọ luật TTHS quy định “khi
nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”.
Nguyên tắc độc lập xét xử còn đòi hỏi sự độc lập của hội đồng xét xử với các cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân. “Cấp trên của quan tòa là luật pháp” (Các
Mác) có nghĩa là, khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên của Hội đồng xét xử
chính là pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc,
không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can
thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án
theo ý chủ quan của mình. Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều làm
ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên trong
hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ
quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét
mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính
khách quan của vụ án.
Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử. Hiện
nay, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên
môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, phải tách bạch từng mối quan hệ. Trong hoạt động nghiệp vụ,
mối quan hệ giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới là mối quan hệ tố tụng, chứ không
phải là mối quan hệ quản lý hành chính. Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp dưới về áp
dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không được quyết định hoặc gợi ý
cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể.
1.2. Độc lập với các yếu tố bên trong
Độc lập với các yếu tố bên trong là khi xét xử, các thành viên của Hội đồng xét xử
độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra kết
luận sự việc phạm tội, người phạm tội, mức hình phạt mà không bị phụ thuộc vào quan
điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Chỉ có thành viên của Hội đồng xét
~3~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

xử mới được tham gia nghị án. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán là người
biểu quyết sau cùng. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết
định theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn
bản và được lưu trong hồ sơ vụ án.
2. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật
Theo Từ điển tiếng Việt: “Độc lập là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ
cậy ai, không bị ai kiềm chế” 1. Nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được hiểu dưới hai khía cạnh là độc lập với các
yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong.
Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan
điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Quá trình nghiên cứu
hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các
tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có
trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những
chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Khoản 3 Điều 222 Bọ luật TTHS quy định “khi
nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”.
Nguyên tắc độc lập xét xử còn đòi hỏi sự độc lập của hội đồng xét xử với các cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân. “Cấp trên của quan tòa là luật pháp” (Các
Mác) có nghĩa là, khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên của Hội đồng xét xử
chính là pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc,
không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can
thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án
theo ý chủ quan của mình. Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều làm
ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên trong
hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ
quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét
mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính
khách quan của vụ án.
Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử. Hiện
nay, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên
1

Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr. 316.
~4~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, phải tách bạch từng mối quan hệ. Trong hoạt động nghiệp vụ,
mối quan hệ giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới là mối quan hệ tố tụng, chứ không
phải là mối quan hệ quản lý hành chính. Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp dưới về áp
dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không được quyết định hoặc gợi ý
cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể.
Độc lập với các yếu tố bên trong là khi xét xử, các thành viên của Hội đồng xét xử
độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra kết
luận sự việc phạm tội, người phạm tội, mức hình phạt mà không bị phụ thuộc vào quan
điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Chỉ có thành viên của Hội đồng xét
xử mới được tham gia nghị án. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán là người
biểu quyết sau cùng. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết
định theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn
bản và được lưu trong hồ sơ vụ án.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập không có nghĩa là xét xử tùy
tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải dựa
vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được áp đặt ý chí chủ quan
của mình. Điều này đòi hỏi có tính chất bắt buộc đối với Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân.
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc với nhau.
Độc lập là điều cần cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật
khi xét xử. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập khi xét xử. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến xét
xử tùy tiện.
Nguyên tắc độc lập trong xét xử không mâu thuẫn gì với nguyên tắc sự lãnh đạo
toàn diện và tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định tại Điều 4 Hiến pháp
1992. Vì pháp luật chính là sự thể chế hóa đường lối của Đảng, nên việc tuân thủ pháp
luật cũng chính là phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Mọi sự can thiệp của các cấp ủy Đảng
và đảng viên có chức vụ, quyền hạn vào việc xét xử của từng vụ án cụ thể của Hội đồng
xét xử đều thể hiện nhận thức không đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công
tác xét xử của Tòa án. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng đã chỉ rõ: “Đảng không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái luật; mọi
vi phạm đều đưa ra xử lý theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ, không được
làm theo kiểu phong kiến, dân thì phải chịu hình phạt, quan thì xử theo lễ. Phải nghiêm trị

~5~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

tất cả những kẻ phạm tội bất kỳ ở cương vị nào và phải đảm bảo công bằng về nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân” 2
3. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử
của Thẩm phán và Hội thẩm
Theo quy định tại Điều 16 BLTTHS: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”. Đây là nguyên tắc hiến định bảo đảm cho việc xét xử đúng
người đúng tội, đúng pháp luật và được tiếp tục ghi nhận trong BLTTHS với tư cách là
một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong BLTTHS.
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không có nghĩa là tách rời đường lối chính
sách của Đảng. Đảng không chỉ đạo xét xử từng vụ án cụ thể nhưng Đảng chỉ ra đường
lối xét xử trong từng giai đoạn cách mạng và đối với từng loại án. Độc lập xét xử cũng
không có nghĩa là không có sự kiểm sát và giám sát. Tòa án cấp trên có quyền thẩm tra
những bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới và hủy bỏ chúng trong trường hợp trái
pháp luật hoặc không có cơ sở đúng đắn. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không
có nghĩa là xét xử tùy tiện mà phải tuân theo pháp luật. Hoạt động của người Thẩm phán,
Hội thẩm và luật pháp có mối liên hệ luôn luôn thống nhất với nhau và không thể tách rời
nhau.
Như vậy, “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp
luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi
xét xử. Mối quan hệ này ràng buộc. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ
dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán.
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử có nghĩa là khi tiến hành xét xử họ
không bị lệ thuộc vào những ý kiến của những cơ quan, tổ chức, người có chức vụ quyền
hạn hay một người nào đó, không phụ thuộc vào ý kiến của những cơ quan, những người
tiến hành và tham gia tố tụng. Không ai, không một cơ quan nào có quyền can thiệp vào
hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm; không ai, không một cơ quan nào có thể
dùng áp lực và tác động đối với họ trong quá trình giải quyết vụ án.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau. Thẩm phán và Hội thẩm là
thành viên của hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét
đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội
2

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.
121.
~6~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

phạm, không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của thành viên khác trong Hội đồng xét
xử. Để bảo đảm sự độc lập của Hội thẩm trong khi xét xử, BLTTHS quy định Thẩm phán
phải là người biểu quyết sau cùng để không ảnh hưởng đến tính độc lập của Hội thẩm.
Các vấn đề của vụ án đều phải được giải quyết bằng cách biếu quyết và quyết định theo
đa số. Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử được bảo đảm bằng một loạt các
yếu tố, trong đó có các chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và chế độ bào Hội thẩm nhân dân;
tính tự chủ của họ.
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ
giữa các cấp xét xử. Tòa án cấp trên không được quyết định hoặc gợi ý cho Tòa án cấp
dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể. Đồng thời, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm,
Thẩm phán cũng không bị lệ thuộc bởi các nhận định, những phán quyết của Tòa án cấp
dưới.
4. Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập. Nội dung này đảm bảo tính khách
quan, công bằng của các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ
của Thẩm phán và Hội thẩm, bảo đảm hoạt động của hoạt động xét xử. Tính độc lập của
Thẩm phán và Hội thẩm thể hiện trong mối quan hệ với các cấp xét xử.
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật. Điều này có nghĩa rằng
khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ, dựa vào các quy định của
pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được tùy tiện, chủ quan trong việc áp dụng pháp
luật. Khi thực hiện hoạt động xét xử – hoạt động gắn liền với việc củng cố pháp chế và
trật tự pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm càng phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật.
Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán
và Hội thẩm xem xét, đối chiếu với sự việc đã xảy ra, với hành vi được đưa ra xét xử.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra các phán quyết của
mình về việc phạm tội và hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác, phù hợp với
diễn biến thực tế của vụ án đã xảy ra. Ngoài việc tuân theo pháp luật khi xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc bởi bất kì điều kiện nào.
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập xét xử, nhưng độc lập trong khuôn khổ tuân theo
pháp luật. Nội dụng độc lập khi xét xử và nội dung chỉ tuân theo pháp luật có mối liên hệ
rất chặt chẽ.

~7~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

III. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên
tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật và nguyên nhân
1.1.

Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân

“Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một trong những nguyên tắc đặc trưng của
thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động xét xử, có rất nhiều
trường hợp nguyên tắc này bị coi nhẹ. Có thể nói khi bàn về vấn đề các thẩm phán có
thực sự độc lập hay không, có hoàn toàn dựa vào pháp luật để đưa ra bản án mà không có
bất kì sự tác động nào hay không, chúng ta có thể nhận thấy nhiều bất cập. Trong thực tế,
khi quyết định một bản án, thẩm phán bị chi phối bởi rất nhiều thứ, từ chỉ đạo của cấp
trên, ảnh hưởng từ cấp ủy đảng, từ lãnh đạo tòa… Thế mới có chuyện thời gian gần đây
báo chí rầm rộ đưa tin về việc thẩm phán N.C.C của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị
kỉ luật ở mức phê bình vì “không báo án với chánh án và uỷ ban Thẩm phán, đến khi lãnh
đạo toà yêu cầu dừng tuyên án để báo cáo về vụ án này thì Thẩm phán C. không chấp
hành. Có vụ trước khi xử, Thẩm phán C. đề xuất y án sơ thẩm và được uỷ ban Thẩm phán
đồng ý nhưng khi ra toà, Thẩm phán C. lại tuyên sửa án sơ thẩm. Có vụ khi báo án, Thẩm
phán C. đề xuất mức án từ bảy đến tám năm tù nhưng cuối cùng lại tự ý phạt bị cáo 10
năm tù (không báo cáo với uỷ ban Thẩm phán và chánh án) với lý do tại phiên toà phát
sinh tình tiết mới...” Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tính độc lập của thẩm phán ở đâu trong
trường hợp này? Không chỉ trường hợp của thẩm phán C, Năm 2007, Pháp Luật
TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp đất đai có dấu hiệu cho thấy kết quả xét xử đã
được duyệt trước. Số là dù đã bị TAND Tối cao huỷ án theo thủ tục giám đốc thẩm vì xử
sai luật nhưng TAND huyện Cái Bè (Tiền Giang) sau đó vẫn xử lại y như cũ. Sau đó,
Thẩm phán chủ toạ phiên toà thú thật với đương sự là phải xử như vậy vì áp lực của lãnh
đạo toà, xử xong về ngủ không được, chỉ mong bản án của mình sẽ bị huỷ để lương tâm
đỡ day dứt. Thẩm phán này cũng phân tích những điểm sai trong bản án của chính mình
tuyên để đương sự kháng cáo.
Trong những trường hợp như vậy, vai trò của Hội thẩm nhân dân nằm ở đâu? Có
thể nói Thẩm phán chịu nhiều áp lực, từ nhiều phía. Tuy nhiên khi quyết định một bản án,
thẩm phán và hội thẩm nhân dân sẽ cùng thảo luận, vậy mà khi những bản án sai phạm rõ
ràng như trên được đưa ra, ý kiến của hội thẩm nhân dân ở chỗ nào? Đó chính là một
trong những ví dụ điển hình cho thấy việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân.
~8~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

Cũng có thể nói thêm, thực trạng đó cũng có sự tác động từ những nhân tố bên ngoài tác
động đến hoạt động xét xử của tòa án như là sự tác động của chánh án; sự tác động của
các cấp ủy Đảng; sự tác động của các tổ chức, cá nhân khác, đây là sự tác động thường
xuyên đối với hoạt động xét xử như thông qua người tham gia tố tụng hay là lợi dụng ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của người có chức quyền tác động đến hoạt động xét xử
với mục đích lợi cho họ. Ngoài ra cũng phải kể đến sự tác động của báo chí, dư luận cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xét xử.
1.2. Nguyên nhân của thực trạng
Mỗi biểu hiện của việc không tuân thủ nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đều do một hay nhiều nguyên nhân sinh ra. Có thể
khái quát các nguyên nhân thực trạng sau:
Thứ nhất, từ yếu tố pháp luật, đây là yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng đến nguyên tắc
trên, sở dĩ có việc Thẩm phán và Hội thẩm áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, có sự
không độc lập, không thống nhất bằng chứng bằng cuộc họp liên ngành, thỉnh thị án, có
sự tác động của các cá nhân khác đến hoạt động xét xử trước hết do hệ thống pháp luật
chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có chế tài cần thiết.
Thứ hai, nguyên nhân từ yếu tố chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là khả năng hiểu biết pháp luật và vận
dụng pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được phân công xét xử phải có nghiệp
vụ cao, nhưng do trình độ nghiệp vụ không đồng nhất về hiểu biết pháp luật và vận dụng
pháp luật cũng khác nhau do vậy cũng ảnh hưởng đến công tác xét xử.
Thứ ba, từ yếu tố đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp của thẩm phẩn và
Hội thẩm nhân dân được hình gắn liền với hoạt động nghề nghiệp. Do vậy, Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân có đạo đức nghề nghiệp tốt thì việc ra phán quyết một bản án sẽ chính
xác, khách quan, mang đến sự công bằng cho xã hội. Ngược lại đạo đức nghề nghiệp của
họ mà kém thì sẽ dẫn đến sự oan sai, bất bình cho xã hội.
Ngoài ra, còn nguyên nhân từ sự tổ chức hoạt động của tòa án nhiều lúc còn lỏng lẻo,
chưa khoa học. Hay mối quan hệ giữa Đảng và tòa án có sự chi phối trên thực tế. Và
nhiều khi Thẩm phán và Hội thẩm chưa được quan tâm đúng mức, mức lương thực tế
thấp trong nền kinh tế thị trường cũng dễ dẫn đến những biểu hiện tiêu cực.
2. Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

~9~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

Để nâng cao tính độc lập trong xét xử của các Hội đồng xét xử, hạn chế tối đa oan
sai, tiêu cực; xét xử đúng người, đúng tội, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49/NQTW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, nhóm chúng em
mạnh dạn đề xuất các kiến nghị sau:
Thứ nhất, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Các Thẩm phán phải được đào
tạo chuẩn (có trình độ tốt nghiệp đại học và trên đại học chuyên ngành luật) và thường
xuyên được cập nhật những kiến thức mới về tin học, ngoại ngữ, pháp luật quốc tế. Đồng
thời, có tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh cho sự công bằng, bảo vệ lẽ phải. Chỉ khi
Thẩm phán có một trình độ chuyên môn cao với cái tâm trong sáng, tôn trọng sự công
bằng, thì họ mới không bị chi phối bởi những suy nghĩ lệch lạc hoặc những tác động bên
ngoài mang tính chất vụ lợi cá nhân. Khi đó, Thẩm phán sẽ có niềm tin nội tâm vững chắc
để xét xử đúng pháp luật. Cùng với Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân cũng phải được
bồi dưỡng tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử để đủ năng lực khi xét
xử.
Đổi mới quy trình bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng rút ngắn thủ tục, giảm sự can
thiệp của các cơ quan chính quyền địa phương. Nhiệm kỳ năm năm đối với Thẩm phán
các cấp hiện nay là quá ngắn. Vì vậy, để Thẩm phán yên tâm công tác, tận dụng được tối
đa kinh nghiệm xét xử và dám thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, cần kéo dài nhiệm kỳ của
Thẩm phán. Mặt khác, để thực hiện bổ nhiệm Thẩm phán có chất lượng, phải thực hiện
thường xuyên quy trình luân chuyển cán bộ, nguồn bổ nhiệm Thẩm phán cấp trên nên là
Thẩm phán cấp dưới trong một thời hạn nhất định, nguồn bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh
án Tòa án cấp trên nên chú trọng lấy từ các Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp dưới đã
làm tốt công tác quản lý, xét xử.
Cần hoàn thiện các quy định để nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán như quy định
về kỷ luật, quy định về bãi miễn khi Thẩm phán vi phạm phẩm chất đạo đức hoặc năng
lực xét xử yếu kém. Bởi vì, pháp luật quy định người Thẩm phán độc lập trong xét xử thì
họ cũng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình.
Thứ hai, xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức, bổ trợ tư pháp vững mạnh.
Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công
chứng, giám định, hộ tịch… tuy không trực tiếp quyết định các bản án, nhưng sự khách
quan, kịp thời, chính xác của các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần bảo đảm chất
lượng xét xử của Tòa án. Nếu hoạt động bổ trợ tư pháp kém hiệu quả, sẽ dẫn đến sự sai
lệch trong kết quả điều tra, truy tố và khi xét xử, Thẩm phán rất dễ sai lầm, đưa ra phán
~ 10 ~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

quyết không đúng pháp luật. Vì vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp, phải hoàn thiện
pháp luật về luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch theo hướng công khai, minh bạch,
đơn giản và thuận tiện cho người dân.
Thứ ba, tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội, của Hội đồng
nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động
của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về
hoạt động xét xử.
Thứ tư, tăng cường cơ sở vật chất, chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ
Tòa án. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc
cho các Tòa án; cần có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm
phán, cán bộ Tòa án để họ yên tâm công tác và tăng khả năng tự vệ phòng, chống tiêu cực
trong hoạt động xét xử. Mặt khác, Nhà nước cần quy định chế độ bảo đảm an ninh đối cơ
quan Tòa án, Thẩm phán và gia đình họ trong trường hợp thi hành công vụ.
Thứ năm, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không chồng chéo, mâu thuẫn
với nhau; các văn bản hướng dẫn thi hành và giải thích luật phải kịp thời. Có như vậy mới
tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử có cơ sở pháp lý vững
chắc và chỉ tuân theo pháp luật.

Trong nhiều năm qua, pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã có nhiều tiến bộ
trong việc quy định, phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến
hành tố tụng. Đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả. Tuy
nhiên, nhiều quy định còn bất cập; một số quy định còn vướng mắc trong quá trình
triển khai thực hiện trên thực tế. Vì vậy cần hoàn thiện hơn nữa các quy định trong tố
tụng hình sự để nâng cao tính độc lập trong xét xử, hạn chế tối đa oan sai, xét xử đúng
người, đúng tội không để lọt tội phạm; đảm bảo quyền và lợi ích cho người tham gia
tố tụng. Đây cũng là đòi hỏi của xã hội ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

~ 11 ~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

MỤC LỤC
A. MỞ BÀI

1

B. NỘI DUNG

1

I. Những vấn đề chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo

1

pháp luật

1. Cơ sở pháp lý nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1
2

2. Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
2

II. Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
3. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật

2
3

1.1. Độc lập với các yếu tố bên ngoài

3

1.2. Độc lập với các yếu tố bên trong
4. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật

4

5. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm

6

phán và Hội thẩm

6. Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

7

IV. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc Thẩm phán

8

và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân

8

theo pháp luật và nguyên nhân

1.1. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân

8

dân
9

1.2. Nguyên nhân của thực trạng

10

2. Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật
*

C. KẾT LUẬN

~ 12 ~


Trường Đại học luật Hà Nội

Bài tập nhóm tháng 1 TTHS

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992
 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. CAND, Hà
nội, 2007, 2008.
 Khoa luật-Đại học Quốc gia, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia
Hà Nội, 2001.
 Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử các vụ án hình sự, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
Trường Đại học Luật Hà Nậti, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội,
2007, 2008.
 Trường Đại học Luật Hà Nội, Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2000.
 Viện khoa học pháp lý, Chế định thẩm phán, một số vấn đề lý luận và thực tiễn

 Võ Khánh Vinh, Bình luật khoa học luật tố tụng hình sự 2003, Nxb CAND, Hà Nội 2004
Phạm Hồng Hải, Mô hình lí luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội,
2003.

 Và một số website
1.

http://www.nclp.gov.vn

2.

http://www.vietlaw.gov.vn

3.

http://www.vietnamlawjournal.com.vn

http://toaan.gov.vn/

~ 13 ~



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×