Tải bản đầy đủ

Ý nghĩa của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc này (8d)

Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam
MỤC LỤC
Trang

LỜI NÓI ĐẦU

2

NỘI DUNG

2

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC

2

1. Khái niệm

2


2. Cơ sở của nguyên tắc

3

3. Nội dung của nguyên tắc

3

II. Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC

5

1. Ý nghĩa chính trị xã hội

5

2. Ý nghĩa pháp lý

6

3. Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn

7

III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC

7

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGUYÊN
TẮC.

9

KẾT LUẬN

11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

12

1


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước
để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả
của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi
xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc này đang được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và Điều 16 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003. Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng
được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để. Bài viết sau đây, nhóm chúng em xin
trình bày về“Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc này”.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC.
1. Khái niệm.
"Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật" là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật Tố tụng hình sự, được hiểu là
trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc bởi bất
cứ yếu tố nào khác ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt
động xét xử của tòa án.
2. Cơ sở của nguyên tắc.
2.1. Cơ sở lý luận.
Việc quy định nguyên tắc này gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo
cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực. Tính độc lập của thẩm phán, hội thẩm là
2


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam. Sự vi
phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền
lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này
2.2. Cơ sớ thực tiễn.
Nguyên tắc“khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật” không chỉ là một nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp của Nhà
nước ta mà còn được quy định trong Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới.
Điều 88 Hiến pháp nước CHDCND Triều Tiên quy định: “trong khi thi hành
chức quyền của mình, các thẩm phán đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật”.
Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ Đức cũ (năm 1949) quy định:
“Thẩm phán độc lập khi xét xử, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật”…
Tuy việc quy định có khác nhau về hình thức nhưng nội dung cơ bản là giống
nhau.
2.3. Cơ sở pháp lý.
Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được qui
định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát
triển của Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 4 bản Hiến
pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy có sự thay đổi rất
nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc độc lập của các thẩm phán
trong hoạt động xét xử đều được qui định trong các bản hiến pháp và các đạo luật
khác được ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân
sự. Văn bản hiện hành là Điều 130 Hiến pháp 1992 và Điều 16 BLTTHS, quy định
rất rõ: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
3. Nội dung của nguyên tắc.
3.1. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Thứ nhất là độc lập với các yếu tố bên ngoài:
+ Các cơ quan quản lí không được can thiệp vào việc xét xử của Tòa án, vì công
tác xét xử đã được Nhà nước giao cho Tòa án.

3


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

+ Khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Tòa án không lệ thuộc, không bị
ràng buộc, bị chi phối bởi ý kiến của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như với
các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân khác. Các cơ quan, tổ chức, cá
nhân không được can thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử
(HĐXX) để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của mình.
+ Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử.
Hiện nay, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ
đạo chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, phải tách bạch từng mối quan hệ, tòa án cấp
trên không được quyết định trước về chủ trương xét xử cụ thể một vụ án buộc tòa
án cấp dưới phải tuân theo. Đồng thời khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, Thẩm
phán cũng không bị lệ thuộc bởi các nhận định, phán quyết của Tòa án cấp dưới.
- Thứ hai là độc lập với các yếu tố bên trong:
Nghĩa là khi xét xử, các thành viên của HĐXX độc lập với nhau trong việc
nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận sự việc phạm tội,
người phạm tội, mức hình phạt mà không bị phụ thuộc vào quan điểm của các
thành viên khác trong HĐXX. Chỉ có thành viên của HĐXX mới được tham gia
nghị án. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau
cùng. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định
theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn
bản và được lưu trong hồ sơ vụ án.
3.2. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật.
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà độc
lập trong khuôn khổ pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm phải dựa vào các quy định
của pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được áp đặt ý chí chủ quan của mình.
Nó đòi hỏi, “thẩm phán và hội thẩm không một bước xã rời pháp luật, không có bất
kỳ một sự lẩn tránh nào dối với pháp luật, không có thà thứ cho bất kỳ hành vi vi
phạm pháp luật nào”. Đó là đỏi hỏi có tính chất bắt buộc đối với thẩm phán và hội
thẩm nhân dân. Hoạt động của thẩm phán và hội thẩm nhân dân luôn luôn phải trên
cơ sơ pháp luật.
4


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

3.3. Mối quan hệ giữa độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật.
“Độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Độc
lập là điều kiện cần thiết để thẩm phán và hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp
luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để thẩm phán và hội thẩm độc lập
khi xét xử. Mối quan hệ này là ràng buộc. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo
pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán.
II. Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC.
Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Cụ thể:
1. Ý nghĩa chính trị xã hội:
- Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan Tòa án trong hệ thống các cơ quan
nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Chỉ có tòa án mới
có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa
án (cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm) phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân
theo pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái
pháp luật. “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra xét xử
bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có đặc ân nào. Tư
pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh.
Độc lập xét cử có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh
doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng
những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ
chế tài phán xét xử độc lập, vô tư khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con
người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi người cầm cân nảy mực thực sự độc
lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó.
Độc lập xét xử cũng là một điều quan trọng để đảm bảo sự thành công của việc
phòng chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao
5


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án. Hoạt động xét
xử không phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ
là hoạt động của quan tòa mà còn có sự tham gia giám sát, tham gia xét xử của
nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là Hội thẩm. Nguyên tắc gián
tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân làm chủ, nhân
dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử.
- Nguyên tắc này nói lên tính dân chủ của pháp luật xã hội chủ nghĩa, tính quyền
lực của cơ quan xét xử, tính chủ động của thẩm phán và hội thẩm khi xét xử, tính
độc lập của mỗi thành viên khi nghị án, từ đó giúp thẩm phán và hội thẩm vận dụng
tri thức pháp luật của mình vào việc xét xử vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật. Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai
mệnh đề gắn liền với nhau, có mối quan hệ logic với nhau “Độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật” nó có tác dụng rất lơn đối với thẩm phán và hội thẩm. Nó giúp cho
hội thẩm và thẩm phán xác định rõ trách nhiệm của mình, khi tiến hành xét xử
không được tùy tiện mà phải tuân theo pháp luật, tránh tình trạng xét xử trái pháp
luật, làm oan người vô tội để lọt tội phạm và người phạm tội, từ đó giúp cho thẩm
phán và hội thẩm tư duy vụ án một cách đúng đắn.
2. Ý nghĩa pháp lý:
Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành hoạt động xét
xử khách quan, đúng pháp luật. Nội dung này bảo đảm tính khách quan, công bằng
của các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm
phám và Hội thẩm, bảo đảm chất lượng của hoạt động xét xử. Đây cũng là cơ sở
đảm bảo Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác
dụng khi nguyên tắc “độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của
Thẩm phán và Hội thẩm.
3. Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc
6


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

này cũng nhằm quy định trách nhiệm cho thẩm phán và hội thẩm về bản án mà
mình đã tham gia xét xử, nhằm tăng thêm trách nhiệm về cá nhân mỗi thành việc
khi tham gia xét xử vụ án. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết,
thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán
và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét
xử.
Tóm lại, “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là
một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Hoạt động xét xử phải
đảm bảo đúng pháp luật và trình tự, thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải
chính xác và có căn cứ pháp lý. Khi xét xử các vụ án hình sự, hội đồng xét xử căn
cứ vào các tình tiết của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên
tòa công khai và căn cứ vào pháp luật để xác định tội phạm cũng như hình phạt đối
với người phạm tội. Các thành viên của hội đồng xét xử (Thẩm phán và Hội thẩm)
không để bất cứ ai vì bất cứ lí do gì chi phối mà xử lí không đúng pháp luật. Khi
xét xử thẩm phán và hội thẩm không được dựa vào quyết định, kết luận của cơ
quan điều tra, viện kiểm sát mà phải tự mình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, kết
hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên tòa xét xử để có kết luận riêng của
mình đối với từng vấn đề. Độc lập xét xử được quy định trong Hiến pháp và pháp
luật của đa phần các nước trên thế giới. Điều đó một lần nữa khẳng định giá trị của
nguyên tắc này trong hoạt động xét xử.
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC.
Trên thực tế hiện nay, nguyên tắc này đã được các chủ thể của hoạt động xét xử
tuân thủ và ngày càng phát huy ý nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động
xét xử của Tòa án được khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay còn rất
nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập của thẩm phán. Đây là một
trong những nguyên nhân làm cho hoạt động xét xử của các thẩm phán thiếu khách
quan, xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình
trong quần chúng nhân dân. Cụ thể như sau:

7


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát
huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Trên thực tế, sự quá
“chủ động” của Thẩm phán làm cho Hội thẩm ở vào tình trạng lệ thuộc, thiếu chủ
động trong quá trình chứng minh tội phạm và cũng chính vì thế khi đưa ra phán
quyết, Hội thẩm cũng chỉ là người quyết định theo Thẩm phán.
- Thẩm phán và Hội thẩm thường lệ thuộc vào những thông tin, tài liệu có trong
vụ án, những quyết định, kết luận của cơ quan điều tra, viện kiểm sát…
- Thường có sự thống nhất chứng cứ và định hướng trước việc xét xử. Đó là
việc họp án ba ngành, họp bản án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước
khi xét xử. Thực tiễn hiện nay có rất nhiểu trường hợp lạm dụng việc “thỉnh thị” án
và họp bản án ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Việc thỉnh thị án tạo nên tâm
lý cấp dưới ỷ lại cấp trên, không có sự độc lập trong quyết định của mình, vi phạm
nguyên tắc nói trên ngay từ chính chủ thể của hoạt động xét xử.
- Không chỉ có vậy, hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm còn chịu sự
tác động của các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố bên ngoài ở đây có thể là Chánh
án, các cấp ủy Đảng, các cơ quan báo chí, dư luận, các cá nhân tổ chức khác…
Một vụ việc cụ thể xảy ra ở Khánh Hòa vào năm 2011, nguyên tắc độc lập xét
xử của thẩm phán đã bị vi phạm nghiêm trọng. Cụ thể:
Sự kiện thẩm phán N.C.C. ở Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Khánh Hòa bị
kiểm điểm, phê bình vì khi xét xử, không báo án với Ủy ban thẩm phán
(UBTP) và Chánh án đã gây nhiều tranh luận trong giới luật gia.
Trong 6 tháng cuối năm 2010,thẩm phán C được phân công xét xử một số vụ án
hình sự sơ và phúc thẩm.Trong đó có 6 vụ án thẩm phán C.làm chủ tọa có vi phạm
trong việc chấp hành chỉ đạo của lãnh đạo và thiếu sót trong việc “báo án”, cụ thể:
Có vụ án trước khi xét xử, thẩm phán đã không báo án với chánh án và UBTP. Khi
phát hiện, chánh án đã yêu cầu thẩm phán phải dừng việc tuyên án để báo cáo lại
vụ án cho tập thể UBTP nghe, nhưng thẩm phán đã không chấp hành mà vẫn tuyên
án. Có vụ phúc thẩm, trước khi xử có báo án, thẩm phán đã đề xuất đường lối xét
8


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

xử là giữ nguyên án sơ thẩm. UBTP đã thông qua và thống nhất đường lối là y án
sơ thẩm. Tuy nhiên, khi xét xử, thẩm phán đã tuyên xử sửa án sơ thẩm; có vụ khi
báo án với UBTP, thẩm phán đã đề xuất mức hình phạt với bị cáo là 7-8 năm tù,
nhưng tại phiên tòa phát sinh tình tiết mới, khác với tình tiết đã báo với UBTP,
thẩm phán chủ tọa HĐXX đã căn cứ vào tình tiết này để quyết định hình phạt khác
với mức hình phạt đã đề xuất (xử tăng mức án mà UBTP đã thống nhất là 7-8 năm
tù lên 10 năm tù) và cũng không báo cáo với UBTP và Chánh án. Với những vụ xét
xử không có “báo án”, thẩm phán C. đã bị kiểm điểm, phê bình!
Một câu hỏi được đặt ra là: Có hay không vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử
của thẩm phán?
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGUYÊN
TẮC.
Nguyên tắc này bảo đảm cho tòa án thực hiện tốt các chức năng xét xử của mình
theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của thẩm phán và hội
thẩm. Muốn cho nguyên tắc này được thực hiện tốt thì chúng ta có thể áp dụng một
số giải pháp sau đây:
- Thứ nhất về pháp luật thì:
+ Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo không bị mâu
thuẫn, chồng chéo giữa các lĩnh vực hay chế định khác nhau. Đồng thời phải có các
văn bản hướng dẫn thi hành và giải thích luật, tạo điều kiện cho thẩm phán và hội
thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật.
+ Cần hoàn thiện các quy định để nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán như
quy định về kỷ luật, quy định về bãi miễn khi Thẩm phán vi phạm phẩm chất đạo
đức hoặc năng lực xét xử yếu kém. Bởi vì, pháp luật quy định người Thẩm phán
độc lập trong xét xử thì họ cũng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những phán
quyết của mình.
- Thứ hai về yếu tố chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp thì:
Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Các Thẩm phán phải được đào
9


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

tạo chuẩn (có trình độ tốt nghiệp đại học và trên đại học chuyên ngành luật) và
thường xuyên được cập nhật những kiến thức mới về tin học, ngoại ngữ, pháp luật
quốc tế. Đồng thời, có tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh cho sự công bằng, bảo vệ
lẽ phải. Chỉ khi Thẩm phán có một trình độ chuyên môn cao với cái tâm trong sáng,
tôn trọng sự công bằng, thì họ mới không bị chi phối bởi những suy nghĩ lệch lạc
hoặc những tác động bên ngoài mang tính chất vụ lợi cá nhân. Khi đó, Thẩm phán
sẽ có niềm tin nội tâm vững chắc để xét xử đúng pháp luật. Cùng với Thẩm phán,
các Hội thẩm nhân dân cũng phải được bồi dưỡng tập huấn nâng cao kiến thức
pháp luật, kỹ năng xét xử để đủ năng lực khi xét xử.
- Thứ ba về tổ chức và hoạt động của tòa án thì:
+ Trong thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không nhất thiết phải có hai
hội thẩm nhân dân mà chỉ cần một hội thẩm nhân dân là đủ. Tất nhiên, sự tham gia
xét xử của hội thẩm nhân dân là cần thiết nhưng phần lớn hội thẩm nhân dân không
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật không sâu thì họ khó có thể
độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật.
+ Có thể áp dụng việc bổ nhiệm thẩm phán suốt đời sau khi tổ chức thi và
tuyển chọn một cách khách quan, nghiêm túc. Các cuộc thi vào ngạch thẩm phán
do do hội đồng quốc gia tổ chức. Hội đồng phải gồm những thẩm phán và hội thẩm
nhân dân, các luật sư giỏi, có đạo đức và có kinh nghiệm công tác.
- Thứ tư về cơ sở vật chất và chế độ chính sách đối với Hội đồng xét xử và các
cơ quan khác thì:
+ Phải tăng cường cơ sở vật chất, chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ
Tòa án. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện
làm việc cho các Tòa án; cần có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng
đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án để họ yên tâm công tác và tăng khả năng tự vệ
phòng, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử. Mặt khác, Nhà nước cần quy định
chế độ bảo đảm an ninh đối cơ quan Tòa án, Thẩm phán và gia đình họ trong
trường hợp thi hành công vụ.

10


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

+ Đồng thời, phải xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức, bổ trợ tư pháp
vững mạnh. Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp
như luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… tuy không trực tiếp quyết định các
bản án, nhưng sự khách quan, kịp thời, chính xác của các hoạt động bổ trợ tư pháp
sẽ góp phần bảo đảm chất lượng xét xử của Tòa án.
- Ngoài ra có thể tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội,
của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, nâng cao
chất lượng hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên
truyền, cung cấp thông tin về hoạt động xét xử.
Cuối cùng, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử cũng cần
được chú trọng như một giải pháp nâng cao tính độc lập của thẩm phán. Tính độc
lập của Thẩm phán trong xét xử không phải là một vấn đề mới. Tuy nhiên, để hoàn
thiện các định chế đảm bảo cho nguyên tắc hiến định này được thực hiện không
phải là vấn đề đã được giải quyết trọn vẹn. Cho đến thời điểm hiện nay đây vẫn là
vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng.
KẾT LUẬN
Nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật” là một nguyên tắc Hiến định và là một nội dung quan trọng của luật tố tụng
hình sự. Việc nghiên cứu và tìm hiểu nội dung của nguyên tắc này không chỉ có ý
nghĩa đối với các cơ quan và các cán bộ làm công tác pháp luật mà còn cần thiết
đối với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân vì nó bảo
đảm cho thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử không bị ràng
buộc bởi bất cứ yêu tố nào khác ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên
ngoài vào hoạt động xét xử của tòa án. Thực tiễn áp dụng thì nguyên tắc này đã và
đang bị vi phạm nguyên trọng. Do vậy, cần phải có những giải pháp thiết thực để
nhằm nâng cao tính hiệu quả của nguyên tắc. Việc tìm hiểu và nắm vững nguyên
tắc này và những quy định mới của pháp luật sẽ tạo điều kiện cho tòa án giải quyết
11


Bài tập nhóm số 1

Luật tố tụng hình sự Việt Nam

vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, chống được các biểu hiện tiêu cực
nhằm từng bước thực hiện công bằng xã hội trong tố tụng hình sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – NXB CAND
2. 170 Câu hỏi – đáp Bộ luật tố tụng hình sự - NXB Lao động xã hội.
3. Bình luận khoa học bộ môn Tố tụng hình sự - PGS.TS. Phạm Hồng Hải.
4. Trường đại học Luật Hà Nội, Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình
sự Việt Nam – NXB CAND.
5. Từ Thị Hải Dương, Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chi
tuân theo pháp luật, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà nội 2009.
6. Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật – Trần Vân Kiên – Chánh án TAND TP Nam Định.
7. Một số giải pháp nâng cao vị thế của đội ngũ thẩm phán trong Tố tụng Hình
Sự đáp ứng yêu cầu cải cách Tư pháp - Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh
tế – Luật học 25 (2009).
8. Việc một thẩm phán bị kiểm điểm, phê bình vì không “báo án”Baokhanhhoa.com.vn
9. Tiếp tục bàn về sự độc lập của thẩm phán - THS. Đinh Thế Hưng– Viện Nhà
nước và Pháp luật

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×