Tải bản đầy đủ

Nêu chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung ( 8 điểm)

MỤC LỤC

MỞ BÀI
Để phù hợp với sự phát triển về kinh tế- xã hội, theo thời gian, hệ thống pháp
luật nước ta từ năm 1945 đến nay đã quy định về chế độ tài sản của vợ chồng với
những nội dung và hình thức khác nhau. Theo luật hôn nhân và gia đình thì chế độ
tài sản bao gồm các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập
tài sản của vợ chồng,… và điều này có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc
điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để vợ chồng thực hiện
các quyền và nghĩa vụ về tài sản trong suốt thời kỳ hôn nhân. Hiện nay, đã có rất
nhiều vụ tranh chấp tài sản khi chia tài sản, vậy nên, để tìm hiểu rõ hơn về chế độ
tài sản em xin nghiên cứu đề tài : “ Nêu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn
Nhân và Gia Đình năm 2000 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung” làm đề tài cho
bài tập lớn học kỳ của mình. Do nhận thức về vấn đề này còn hạn chế nên bài viết
còn nhiều sai sót, rất mong thầy cô bỏ qua.
Em xin chân thành cảm ơn!


NỘI DUNG
I)


Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.

1) Khái niệm, đặc điểm, của chế độ tài sản vợ chồng.
1.1) Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng.
Chế độ tài sản của vợ chồng được nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của
quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan, không phụ
thuộc vào các điều kiện kinh tế- xã hội, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa
để nhà nước quy định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
Định nghĩa: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật
điều chỉnh về tài sản của vợ chồng , bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài
sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên
tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng. Hiện nay, chưa có khái niệm về chế độ tài
sản của vợ chồng quy định trong văn bản cụ thể cho nên, những định nghĩa chỉ
mang tính khách quan.
1.2) Đặc điểm về chế độ tài sản


+ Về chủ thể quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, các bên phải có quan hệ
hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau( không những phải có năng
lực chủ thể trong pháp luật dân sự quy định mà còn phải thực hiện các điều kiện
kết hôn được quy định trong luật hôn nhân và gia đình).
+ Hình thức sở hữu là sở hữu chung hợp nhất ( dù vợ chồng có lựa chọn loại chế
độ tài sản nào thì cũng phải có nhiệm vụ đóng góp tài sản nhằm đảm bảo đời sống
chung của con cái.
+ Chế độ tài sản này chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân ( chấm dứt khi 1 bên vợ
hoặc chồng chết; hoặc ly hôn)
+ Mang tính đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
Ngoài ra thì chế độ tài sản còn có những vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong quan
hệ hôn nhân , chế độ này giúp vợ chồng có cách xử sự đúng theo yêu cầu của pháp
luật và phù hợp với đạo đức xã hội; góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản
trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại.
2) Khái quát về nội dung của chế độ tài sản trong luật hôn nhân và gia đình
năm 2000.
2.1) Chế độ tài sản chung


Về việc xác định tài sản chung của vợ, chồng.Theo điều 27 Luật HN&GĐ năm
2000 quy định về tài sản chung của vợ, chồng bao gồm: “1. Tài sản chung của
vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung
và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi
tên của cả vợ chồng.


3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”
Theo quy định này, ngoài việc dự liệu căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nhà làm luật đã sử dụng các nguyên tắc suy
đoán để xác định những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưng không đủ
cơ sở xác định là tài sản riêng của vợ chồng thì duo coi là tài sản chung của vợ,
chồng. Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng là khi họ đã kết hôn với nhau.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các thu nhập hợp pháp khác
của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân và có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền
trúng xổ số mà vợ chồng có duo hoặc những tài sản mà vợ, chồng có đươc quy
định trong BLDS về quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định duo ai là
chủ sở hữu ( Điều 247); đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy( Điều
248);…
Trường hợp vợ chồng cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế
theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản duo thừa kế “ theo hàng thừa kế”
đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện
nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận là tài sản chung của vợ, chồng.
Tài sản chung của vợ, chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có
được sau kết hôn. Theo Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì: Quyền sử dụng đất mà cả
vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng được nhà nước giao, kể cả giao khoán thì
cũng thuộc tài sản chung của vợ, chồng; sau khi kết hôn thì quyền sử dụng đất của
cả vợ và chồng hay chỉ một bên vợ hoặc chồng được nhà nước cho thuê là tài sản
chung của vợ chồng; quyền sử dụng đất của cả vợ và chồng có được trước khi kết
hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung của vợ, chồng khi có thỏa thuận.
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung của mình đó là: vợ, chồng
bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản chung;..


Về việc chia tài sản chung của vợ chồng .
+ Chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong
điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 , quy định này xuất phát từ thực tiễn đời sống
xã hội, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng,
cũng như quyền lợi của những người khác liên quan đến tài sản chung của vợ,
chồng.
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, trên nguyên tắc đảm bảo quyền
tự định đoạt của vợ, chồng, Khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định
: “ Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận duo
thì yêu cầu tòa án giải quyết”. Việc vợ, chồng tự thỏa thuận với nhau khi chia


tài sản khi ly hôn sẽ phù hợp với nguyện vọng của mỗi bên,tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thi hành án sau này, trường hợp Tòa án giải quyết, để đảm bảo
quyền lợi chính đáng của 2 bên thì trước khi quyết định phải xác định tài sản
của vợ chồng, đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung,.. để quyết định cho thỏa
đáng.
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị tòa
án tuyên là đã chết, khi đó thì quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt , tài sản chung của
vợ chồng sẽ duo chia theo yêu cầu của người vợ, chồng còn sống hoặc của


những người thừa kế của người vợ, chồng chết.
Việc xác định tài sản này phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản, pháp luật quy
định các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với khối tài sản chung và mục đích
của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu gia đình, đảm bảo cho vợ
chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích chung của
gia đình; những lợi ích đó còn là cơ sở trong việc chia tài sản chung của vợ, chồng.
2.2) Chế độ tài sản riêng
Theo điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định :
“ 1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài
sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được
chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật
này; đồ dùng, tư trang cá nhân.
2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.
Theo khoản 2 điều này thì vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng
vào tài sản chung; do vậy, việc quy định vợ, chồng có tài sản riêng không làm ảnh
hưởng đến tính chất của quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng tới hạnh
phúc gia đình. Việc vợ chồng nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài
sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng vào khối tài sản chung của vợ, chồng
phải được lập thành văn bản có chữ ký của cả vợ,chồng và văn bản đó phải có
công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, theo điều 33 Luật HN&GĐ thì tài sản riêng của vợ, chồng thì vợ hoặc
chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt độc lập không phụ thuộc vào ý
chí của người kia. Người có tài sản riêng phải chứng minh được đó là tài sản riêng
của mình bằng các giấy tờ đã được công chứng, chứng thực hoặc có sự công nhận


của bên kia,..; nếu không chứng minh được thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản
chung.
Như vậy , Luật HN&GĐ hiện hành đã xác định rõ chế độ tài sản của vợ chồng
gồm sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung nhất và sở hữu của
vợ chồng đôí với tài sản riêng. Đây là chế độ tài sản mà pháp luật đã quy định. Vợ,
chồng không thể tự thoả thuận để làm thay đổi chế độ tài sản của họ mà phải tuân
theo pháp luật.

II) Những vấn đề về sửa đổi bổ sung về chế độ tài sản trong Luật Hôn
Nhân và Gia đình năm 2000.
Chế độ tài sản của vợ chồng rất quan trọng đối với quan hệ hôn nhân trong thực
tế, nhưng việc áp dụng lại gặp nhiều khó khăn, và sau đây em xin trình bày một số
vấn đề cần sửa đổi và bổ sung về chế độ tài sản trong Luật Hôn Nhân và Gia Đình
năm 2000.
1) Về tài sản chung của vợ chồng.
• Thứ nhất, về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ
chồng đã chia tài chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau đó lại khôi phục
chế độ tài sản chung. Trong điều 9, điều 10, NĐ số 70/2001/NĐ-CP có quy
định về vấn đề này; tuy nhiên, nhiều vấn đề về hậu quả pháp lý sau khi chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa được pháp luật hôn
nhân và gia đình quy định cụ thể.
Cần sửa đổi và bổ sung 1 số vấn đề sau:
+ Pháp luật cần quy định những lý do chính đáng để vợ chồng chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân .
+ Việc chia tài sản chung phải do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau nhưng
dứt khoát phải được Tòa án công nhận hoặc phải được công chứng,chứng
thực theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế tối đa hành vi của vợ, chồng
lợi dụng việc chia tài sản chung để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ tài sản
đối với người khác. Quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ các trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
+ Sau khi chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân( dù là 1
phần hay toàn bộ tài sản chung của vợ chồng) thì chế độ tài sản chung của vợ
chồng phải được coi là chấm dứt; phần tài sản mà vợ,chồng đã được chia, kể
cả các hoa lợi do kinh doanh hoặc những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên
trong thời ký hôn nhân phải được coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng.
+ Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không làm chấm dứt
quan hệ vợ chồng trước pháp luật, Có trường hợp thì vợ chồng tự thoả thuận
và yếu cầu Toà án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Có trường hợp


-

-

sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng
vẫn sống chung hoặc không sống chung thì Luật cần dự liệu về nghĩa vụ của
vợ chồng đối với nhau, đối với con chung và nghĩa vụ đóng góp tài sản chung
nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình.(1)
• Thứ hai, về nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng : tại các điều 29,
điều 30, điều 31, điều 96 của Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 chỉ quy
định nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà Luật
không dự liệu nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân hoặc một bên vợ,chồng chết trước. Và nguyên tắc chia đôi này có
dựa vào công sức đóng góp của mỗi bên; tuy nhiên, trên thực tế để xác định
được chính xác công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì và
phát triển khối tài sản chung trong nhiều trường hợp không hề đơn giản vì tài
sản chung của vợ chồng duo tạo dựng không phụ thuộc bởi công sức, mức thu
nhập… giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi thực hiện quyền
sở hữu đối với tài sản chung luôn tính bằng nhau ; vậy nên cũng khó xác định
và khó bảo vệ đúng đắn quyền lợi của một bên.
Luật năm 2000 cần dự liệu cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ
chồng trong cả ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định. Vì
nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất, tài sản chung
của vợ chồng duo tạo dựng không phụ thuộc bởi công sức, mức thu nhập
cao,thấp,nhiều,ít khác nhau giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi
thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung và tỉ lệ phần quyền sở hữu là như
nhau.
• Thứ ba, Nghĩa vụ chung về tài sản vợ chồng
Căn cứ vào các quy định tại điều 25, khoản 2 Điều 28 và khoản 3 Điều 95 của
Luật HN&GĐ năm 2000, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng chưa được
luật định cụ thể.
Ở điều 25 thì trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp
pháp do một trong 2 người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu
của gia đình. Vậy nên, Luật cần quy định “ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia
đình” bao gồm các nhu cầu về ăn ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi
phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của các thành viên trong
gia đình.
Ở Khoản 2 điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 về tài sản chung của vợ chồng
được đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng thì Luật cần quy định
cụ thể bao gồm: các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt
thiết yếu của gia đình ; các khoản nợ liên quan đến việc quản lý, sử dụng, định

1() . Trang 181,

Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.




đoạt tài sản chung của vợ chồng hay các khoản nợ liên quan đến công việc mà
cả 2 vợ chồng cùng thực hiện…(2)
• Thứ tư, Bên cạnh đó, theo điều 27 Luật hôn nhân và Gia Đình thì tài sản
chung của vợ chồng là tài sản vợ chồng hiện có, tài sản đang thuộc quyền sở
hữu của vợ chồng mà không quy định cụ thể các tài sản mà vợ chồng nợ hay
cho vay của người thứ 3 có thuộc tài sản chung của vợ chồng hay không? Do
đó việc giải quyết trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn. . (3). Cho nên, Luật
cũng cần quy định về những khoản nợ,vay vào trường hợp nào thuộc tài sản
chung, trường hợp nào không thuộc tài sản chung. Ví dụ như nếu vợ hoặc
chồng có cho người khác nợ trước khi kết hôn thì khi trả lại thì sẽ lấy thuộc
tài sản chung vì khi kết hôn thì vợ , chồng đã đóng góp công sức vào tài sản
chung của mình và quyền bình đẳng đối với tài sản đó của 2 người là như
nhau nên họ sẽ được sử dụng tài sản đó như nhau.
• Thứ năm, Trong trường hợp xác định tài sản chung của vợ chồng khi vợ
chồng tuyên bố đã chết mà sau đó lại trở về. Trường hợp này pháp luật chỉ
mới dự liệu quan hệ hôn nhân được khôi phục( nếu người chồng, người vợ kia
chưa kết hôn với người khác), còn vấn đề tài sản chung của vợ chồng chưa
được dự liệu cụ thể, khi quan hệ hôn nhân được khôi phục thì chế độ tài sản
chung của vợ chồng có đương nhiên được khôi phục hay không? Tính từ thời
điểm nào? Đối với những thu nhập của người chồng, cợ kia có duo coi là tài
sản chung hay không? Đây là những vấn đề thực tiễn chưa có sự thống nhất
khi giải quyết.
Giải pháp sửa đổi, bổ sung: Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2000 và Điều 83
BLDS cần quy định cụ thể theo hướng : khi phán quyết của Tòa án tuyên bố
vợ, chồng chết có hiệu lực pháp luật,quan hệ hôn nhân chấm dứt, kể cả trường
hợp sau này người vợ,chồng đã bị tuyên bố chết trở về cũng không thể đương
nhiên hồi phục quan hệ hôn nhân ngay được kể cả trong trường hợp người
vợ,chồng còn lại chưa kết hôn. Nếu vợ, chồng muốn tái hôn lại với nhau cần
đăng kí kết hôn theo thủ tục chung; từ đó sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân mới
và chế độ tài sản mới phát sinh sẽ được áp dụng trong thời kỳ hôn nhân này.
Thứ sáu, khi vợ chồng đã ly hôn mà lại muốn kết hôn lại với nhau thì chế độ tài
sản sẽ được quy định như thế nào?
Giải pháp trong trường hợp này sẽ là: Vì Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có
quy định cụ thể về chế độ tài sản trong trường hợp này nên trong thực tế gặp
rất nhiều vướng mắc. Do đó cần phải có quy định bổ sung theo hướng những

2().Trang 188, , Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án
tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.
3().Trang 42, Nguyễn Thị Thìn, “Một số vấn đề về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay”, Khoá
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.


tài sản của vợ chồng được chia từ khối tài sản chung khi ly hôn thuộc sở hữu
riêng của mỗi bên vợ ,chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chồng được xác lập
từ khi kết hôn lại với nhau. Khối tài sản chung của vợ chồng bao gồm những
tài sản được quy định tại khoản 1 điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, cũng có
thể gồm những tài sản được chia riêng trước khi ly hôn được vợ chồng thỏa
thuận nhập vào khối tài sản chung của vợ, chồng.
• Thứ bảy, Theo nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật HN&GĐ 2000 thì tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng khi đăng
ký phải ghi tên của cả vợ và chồng bao gồm : “nhà ở, quyền sở hữu đất và
những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu” (khoản 1
điều 5) . Thực hiện quy định này, hiện nay các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và giấy đăng ký ô tô, xe máy đã tiến hành ghi tên vợ và
chồng, những người đã được cấp giấy chứng nhận có thể yêu cầu cấp lại giấy tờ
ghi tên cả vợ và chồng.Tuy nhiên, ngoài những tài sản nói trên thì “ những tài
sản khác” là tài sản nào vẫn chưa quy định rõ (4 ).
Vì thế,các nhà làm Luật cần quy định rõ ràng hơn về các “ tài sản khác” này.
Ngoài ra,Theo Luật HN&GĐ năm 2000 và pháp luật tố tụng dân sự, các biện
pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo quản tài sản chung của vợ chồng khi vợ
chồng có yêu cầu ly hôn, chưa được quy định rõ ràng. Trên thực tế, đã có rất
nhiều trường hợp lợi dụng điều này để thực hiện các hành vi tẩu tán, giấu giếm
tài sản chung, mưu cầu lợi ích cá nhân không chính đáng làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của người còn lại và các con. Vì thế , Luật HN&GĐ phải dự liệu về
vấn đề quản lý tài sản chung khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Đồng thời, Luật
còn phải quy định cụ thể đối với vấn đề đối với các giao dịch do vợ, chồng thực
hiện liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng trong thời gian họ có ly hôn thì
trường hợp nào vợ, chồng được thực hiện hoặc không thực hiện những giao
dịch.(5)
2) Đối với tài sản riêng của vợ chồng.
Mặc dù Luật năm 2000 đã có các quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với Luật
HN&GĐ năm 1986. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật, từ những vướng mắc
trong thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng và để đảm bảo
khi áp dụng thì Luật năm 2000 cần có những bổ khuyết như sau:

4(). Trang 188,189, Đinh Thị Mai Phượng, “ Bình luận khoa học Luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam năm 2000”,
Nxb Chính Trị Quốc Gia.
5(). Trang 193, , Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án
tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.


+ Đối với tài sản mà vợ chồng được hưởng do cùng hàng thừa kế theo pháp luật,
về nguyên tắc thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng
có thỏa thuận rõ ràng.
+ Luật cần quy định cụ thể nguồn gốc tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân bao gồm
những gì thuộc tài sản riêng của vợ, chồng. Và khi có tranh chấp về tài sản này,
theo từng trường hợp cụ thể mà xét xem đồ dùng tư trang các nhân có nguồn gốc
và giá trị như thế nào so với khối tài sản chung của vợ,chồng và mức thu nhập thực
tế của vợ, chồng để xác định chính xác và hợp lý tài sản riêng của vợ, chồng. Vì
thế , đối với những đồ nữ trang hay của hồi môn mà cha mẹ cho con trong ngày
cưới thì phải quy định nếu cha mẹ cho làm của riêng thì thuộc tài ản riêng của vợ
chồng, nếu cha mẹ cho chung thì sẽ thuộc tài sản chung ; nếu cợ chồng có tranh
chấp thì chia cho người đang sử dụng những đồ nữ trang đó.
+ Đối với những hoa lợi , lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân thì: Luật và những văn bản hướng dẫn cần quy định cụ thể về hậu quả
pháp lý khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; cần khẳng
định việc chia tài sản chung của vợ chồng không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng
trước pháp luật.
+ Theo khoản 3 điều 33 Luật HN&GĐ, nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên vợ
chồng được thanh toán từ tài sản riêng của người có nghĩa vụ. Vậy nghĩa vụ riêng
về tài sản của vợ chồng bao gồm những nghĩa vụ gì? Tuy nhiên thì quy định đó còn
quá chung chung, chưa có căn cứ cụ thể để xác định loại nghĩa vụ tài sản này. Vì
thế, các nhà làm luật phải có những quy định cụ thể về nghĩa vụ riêng về tài sản
của vợ, chồng như : các nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay của người
khác từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình, nghĩa
vụ mà vợ, chồng có từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của
gia đình; nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ,chồng nhưng được
vợ,chồng sử dụng nhằm mục đích riêng, không đáp ứng nhu cầu thiết yếu và lợi
ích chung của gia đình,…


KẾT BÀI
Chế độ tài sản của vợ chồng là chế định quan trọng của Luật HN&GĐ. Từ khi
Luật HN&GĐ có hiệu lực, bên cạnh những thuận lợi, kết quả đạt được với việc
góp phần ổn định các quan hệ HN&GĐ, bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của
vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình, các tranh chấp về tài sản giữa vợ
và chồng luôn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tế áp dụng.Vậy nên, các
nhà làm luật cần dự liệu kĩ càng hơn nữa về các quy định về chế độ tài sản cũng
như tổ chức thực hiện những quy định đó, đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp
luật đối với chế độ tài sản của vợ chồng ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009

2.

Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.
Nguyễn Thị Thìn, “Một số vấn đề về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt
Nam hiện nay”, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
Đinh Thị Mai Phượng, “ Bình luận khoa học Luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt
Nam năm 2000”, Nxb Chính Trị Quốc Gia.

3.
4.


DANH MỤC VIẾT TẮT:
Luật HN&GĐ: Luật hôn nhân và gia đình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×