Tải bản đầy đủ

Bài tập nhóm tháng số 1 luật khuyết tật đề 9 (9 điểm)

BÀI LÀM
I) CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1. Khái niệm:
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề sức khỏe và chăm sóc s ức
khỏe người khuyết tật đều được mọi người quan tâm. Tr ải qua nhiều th ế k ỉ,
việc chăm sóc sức khỏe người khuyết tật chuyển dần từ mục đích t ừ thiện
của các cá nhân, tổ chức sang trách nhiệm xã hội của nhà nước và cộng đồng.
Chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật được hiểu trong mối liên
hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các y ếu t ố môi tr ường bên ngoài nh ư
thức ăn, nước uống, điều kiện vệ sinh… với các yếu tố môi tr ường bên trong
như di truyền, gen, tế bào… giữa các hoạt động đề phòng s ự phát sinh ra
bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật… đến việc điều trị kịp thời và ph ục h ồi s ức
khỏe cho người khuyết tật1.
Xuất phát từ vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, mong muốn
bảo đảm cho người khuyết tật được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bình đ ẳng
như những người khác và theo kịp pháp luật các nước trên th ế gi ới, pháp lu ật
Việt Nam đã quy định cụ thể chế độ này trong hệ thống pháp lu ật n ước
mình. Theo đó, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành v ề người khuy ết
tật, có thể hiểu chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là tổng hợp các
quy định về quyền của người khuyết tật được nhà nước, cộng đồng xã h ội
thực hiện các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh, ch ỉnh hình, ph ục h ồi

chức năng nhằm giúp người khuyết tật ổn định sức khỏe, vượt qua những khó
khăn bệnh tật, vươn lên hòa nhập cộng đồng.
Trong hệ thống các chế độ đối với người khuyết tật, chế độ chăm sóc
sức khỏe là chế độ quan trọng. Ở Việt Nam, với truyền th ống nhân đ ạo
“thương người như thể thương thân”, Đảng, Nhà nước và toàn dân luôn tôn
trọng và chăm lo, bảo vệ sức khỏe người khuyết tật. Trong quy đ ịnh Hi ến
pháp qua các lần sửa đổi đều khẳng định người khuyết tật được hưởng các
quyền của công dân nói chung, trong đó có quyền được chăm sóc s ức kh ỏe.
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Trang 146.

1


Khi Luật người khuyết tật ra đời, chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết t ật
được quy định tại chương III, từ Điều 21 đến Điều 26. Ngoài ra, trong các lu ật
chuyên ngành khác cũng có các điều khoản quy định v ề việc chăm sóc s ức
khỏe người khuyết tật, đó là: Luật người cao tuổi (Điều 12), Luật khám
bệnh, chữa bệnh (Điều 3), Luật hoạt động chữ thập đỏ (Điều 7), Lu ật b ảo v ệ
sức khỏe nhân dân (Điều 2, 41), Luật bảo hiểm y tế (Điều 12 đ ến Đi ều 15),
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Điều 41, 42, 48, 52), Lu ật thanh
niên (Điều 27), Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách m ạng (Đi ều 9 đ ến
Điều 29)… Tùy từng đối tượng, dạng tật hoặc nhu c ầu c ủa ng ười khuy ết t ật
mà pháp luật quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết t ật đ ược th ực
hiện khác nhau, theo đó người khuyết tật được hưởng một hoặc nhiều ch ế
độ trong quá trình chăm sóc sức khỏe.
Để đáp ứng nhu cầu cần thiết của người khuyết tật cũng nh ư đ ảm b ảo
mục đích chăm sóc sức khỏe toàn diện, pháp luật về chăm sóc sức kh ỏe
người khuyết tật quy định các “kênh” khác nhau để thực hiện hoạt động này.
Xuất phát từ chức năng xã hội của mình, Nhà nước thống nhất quản lý nhà
nước và quản lý chuyên môn về chăm sóc sức khỏe người khuy ết t ật. Hàng
năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chế độ chăm sóc sức kh ỏe
người khuyết tật. Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các t ổ ch ức, cá nhân đ ầu
tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kĩ thuật, vật ch ất đ ể thực hi ện ho ạt đ ộng
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật đồng thời quy định trách nhi ệm c ủa gia
đình người khuyết tật thực hiện các biện pháp giáo dục sức kh ỏe, ngăn ngừa
và giảm thiểu khuyết tật, khuyến khích sự vươn lên của chính bản thân
người khuyết tật.
2. Ý nghĩa:
Trước hết phải khằng định rằng, chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
được quy định khá đầy đủ và cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam và cơ bản
phù hợp với quy định của Công ước quốc tế cũng như pháp luật các nước trên thế
giới. Việc quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật có ý nghĩa vô cùng
to lớn, thể hiện ở các khía cạnh sau:
2


Thứ nhất, ý nghĩa xã hội và nhân văn:
Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trước hết thể hiện ở ý nghĩa xã
hội và nhân văn. Rõ ràng, việc quy định trong hệ thống pháp luật nước ta chế độ
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, trước hết thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc trong
mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng, thể hiện sự quan tâm,
sẻ chia, cảm thông của xã hội, của cộng đồng với những con người phải chịu
những rào cản, khó khăn hơn trong cuộc sống. Với những quy định cụ thể trong
nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, qua đó phần nào đáp ứng
được nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của bộ phận người khuyết tật trong xã
hội, giúp đỡ họ khắc phục các bất lợi, mặc cảm, cố gắng vươn lên trong cuộc sống.
Thứ hai, ý nghĩa pháp lí:
Phải khẳng định rằng, chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được quy định
là một chế độ pháp lý đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước ta trong vấn
đề này. Quyền được chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật đã được ghi nhận tại
nhiều văn bản pháp lý khác nhau như: Tuyên ngôn chung về quyền con người của
LHQ, Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, Công
ước về quyền trẻ em..v..v... Ở Việt Nam, quyền được chăm sóc sức khỏe của người
khuyết tật được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao – Hiến pháp và
trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Hiện nay, vấn đề này được quy
định cụ thể tại Chương III, từ Điều 21 đến Điều 26 Luật người khuyết tật 2010.
Qua đó, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho người khuyết tật được thực hiện các
quyền của họ, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe trên thực tế. Đồng thời,
pháp luật quy định trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, nhất là ngành y tế và cộng
đồng xã hội trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nhăm nâng cao chất lượng,
hiệu quả và công bằng xã hội trong các hoạt động này và cũng quy định những chế
tài xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền được chăm sóc sức khỏe của người
khuyết tật.
Thứ ba, ý nghĩa kinh tế:
Người khuyết tật là những người do có những khiếm khuyết không mong
muốn về cơ thể mà họ gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, trong
việc hòa nhập cộng đồng, cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của
3


mình. Do đó, điều kiện quan trọng đầu tiên là giúp đỡ họ khắc phục phần nào sự
khó khăn về sức khỏe, vì thế việc quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết
tật được coi là điều kiện để người khuyết tật có cơ hội tham gia các quyền khác.
Bởi vì khi sức khỏe được đảm bảo, người khuyết tật sẽ tìm kiếm việc làm mang lại
thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình của họ. Với lực lượng khá đông đảo
hiện nay, nếu được chăm sóc sức khỏe phù hợp, hiệu quả, người khuyết tật sẽ trở
thành nguồn nhân lực tiềm năng cho nhân loại và đất nước. Thực tế đã chứng minh
họ là những người luôn được đánh giá cao về long tận tụy, sự trung thành và ý chí
vươn lên trong công việc. Tấm gương nỗ lực của họ cũng tạo ra động lực phán đấu
cho các thành viên khác trong xã hội. Ngoài ra, khi sức khỏe được đảm bảo, người
khuyết tật sẽ có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội khác, thự hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ công dân, có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước.
3. Kết quả thực hiện hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật:
Thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật số 06/1998/ PL – UVTVQH ngày
30/7/1998 của ủy ban thường vụ Quốc hội, Quyết định s ố 239/2006/QĐ-TTg
ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tr ợ giúp người tàn
tật giai đoạn 2006- 2010 và Thông tư Liên tịch s ố 46/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH
ngày 11/5/2007 của liên Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Th ương binh và Xã h ội
hướng dẫn sử dụng kinh phí thực hiện quyết định 239/ QĐ – TTg. Đặc biệt cùng
với sự ra đời của văn bản Luật có giá trị pháp lý cao nh ất – Lu ật ng ười khuy ết t ật
năm 2010, Nhà nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc chăm sóc s ức
khỏe cho người khuyết tật. Theo báo cáo đến nay các địa phương đã c ấp th ẻ b ảo
hiểm y tế cho 100% người khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo, th ực hi ện ch ỉnh
hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ ch ỉnh hình miễn phí cho kho ảng 300
ngàn người khuyết tật; cung cấp phương tiện tr ợ giúp nh ư xe lăn, xe đẩy, chân
tay giả cho trên 100 ngàn người; phẫu thuật ch ỉnh hình và tr ợ giúp ph ục h ồi ch ức
năng cho hàng trăm ngàn trẻ em khuyết tật. Mạng l ưới ph ục h ồi chức năng d ựa
vào cộng đồng đã được phát triển ở 46/63 tỉnh, thành phố với 215 huyện, trên
2.420 xã... Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã h ội của Quốc h ội năm 2008 có
4


52,4% người khuyết tật đi khám bệnh, phục hồi ch ức năng nh ận đ ược s ự h ỗ tr ợ
về kinh phí (giảm viện phí).
Một số địa phương đã triển khai các đề án trợ giúp người khuyết t ật, trong
đó có việc trợ giúp chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và Quảng Bình là m ột
trong những tỉnh đã đạt được những thành tựu trong hoạt động chăm sóc s ức
khỏe cho người khuyết tật. Những năm qua, ngành Y tế tỉnh Quảng Bình đã tổ
chức nhiều hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nh ận thức
cho người dân đối với vấn đề này. Từ các nội dung và ch ủ đ ề v ề phòng ng ừa
khuyết tật, phục hồi chức năng cho người khuyết tật... các ho ạt đ ộng truy ền
thông của ngành đã thu hút được sự chú ý của cộng đồng, đặc biệt là nh ững
người khuyết tật, khuyến khích họ tham gia vào hoạt đ ộng ph ục h ồi ch ức năng
tại cộng đồng và các cơ sở y tế.
Ngoài ra, ngành còn phối hợp lồng ghép các chiến dịch truy ền thông,
chương trình y tế để thu hút người dân tham gia vào các ho ạt đ ộng chăm sóc
sức khỏe cho người khuyết tật tại cộng đồng. Ngành đã xây dựng được một
mạng lưới cán bộ chuyên trách theo dõi công tác ph ục h ồi chức năng t ừ t ỉnh
đến cơ sở.
Ở các bệnh viện huyện, thành phố, bộ phận phục hồi chức năng cũng
được lồng ghép trong khoa Y học cổ truyền. Với nhiệm vụ ph ục hồi chức năng
cho người khuyết tật, người bệnh sau tai biến... từ Bệnh viện Y h ọc cổ truy ền
đến những bệnh viện đa khoa tuyến huyện và các tr ạm y tế đã có nhiều c ố
gắng trong việc đầu tư máy móc, trang thiết bị như máy kéo giãn c ột s ống, máy
phục hồi chức năng chi trên, máy xoa bóp toàn thân đa ch ức năng, máy chi ếu
tia hồng ngoại, xe đạp tự luyện, máy tập chạy...
Để có được một đội ngũ cán bộ chuyên trách về lĩnh v ực ph ục h ồi ch ức
năng, trong đề án đào tạo nguồn nhân lực của các cơ s ở khám ch ữa b ệnh trong
Tỉnh đã có sự ưu tiên cho việc đào tạo đội ngũ cán b ộ chuyên v ề công tác này.
Nhiều đơn vị đã phối hợp với những bệnh viện đầu ngành, tr ường đại h ọc y
5


dược để cử cán bộ tham gia các khóa học ngắn hạn, các lớp chuyên khoa v ề
phục hồi chức năng...
Thời gian qua, công tác phục hồi chức năng dựa vào cộng đ ồng b ước đ ầu
đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Theo thống kê của Sở Lao đ ộngThương binh và Xã hội, toàn tỉnh hiện có trên 45.000 người khuy ết t ật, trong
đó số người khuyết tật nặng không có khả năng lao động và khả năng tự ph ục
vụ cho bản thân là 28.000 người. Từ năm 2006, t ỉnh Quảng Bình đã th ực hi ện
thành công các mục tiêu của chương trình xóa mù lòa, đem l ại ánh sáng cho
hàng ngàn người mù do đục thủy tinh th ể cùng nhiều hoạt đ ộng có ý nghĩa
khác.
Từ mục tiêu chung của toàn tỉnh là cải thiện ch ất l ượng cuộc s ống NKT,
từng bước tạo điều kiện cho NKT tham gia bình đẳng vào các ho ạt đ ộng c ủa
xã hội, xây dựng môi trường xã hội ngày càng chăm lo tốt hơn cho NKT, ngành
Y tế đã xây dựng nhiều giải pháp nh ằm giúp cho NKT được ti ếp c ận các d ịch
vụ y tế, nhất là những dịch vụ có chất lượng cao2.
II) GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
 Từ các dữ kiện đề bài cho là “em Như Ý bị dị dạng 4 đốt sống lưng, bị bệnh tim
bẩm sinh, mắt bị cận thị nặng, sức khỏe yếu” và từ những đặc điểm của các dạng
tật được quy định tại Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Người khuyết tật có thể kết luận em Như
Ý mắc dạng tật là Khuyết tật vận động: “là tình trạng giảm hoặc mất chức năng
cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển”.
Những người gặp khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn
thương, biểu hiện dễ nhận thấy là khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm,
nắm… Do đó, người khuyết tật vận động gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá
nhân, vui chơi, học tập và lao động (phù hợp với đặc điểm là em Ý bị dị dạng 4 đốt
sống lưng có thể dẫn đến khó khăn khi vận động, di chuyển). Còn các dấu hiệu
2 http://www.baoquangbinh.vn/suc-khoe/201212/Cham-soc-suc-khoe-cho-nguoi-khuyettat-Nhung-no-luc-dang-ghi-nhan-2103667/

6


"bệnh tim bẩm sinh, mắt bị cận thị nặng, sức khoẻ yếu" là những dấu hiệu của bệnh
lý thông thường chứ không phải là một dạng tật.
 Theo quy định tại chương III (từ Điều 21 đến Điều 26) Luật Người khuyết tật năm
2010, em Như Ý có thể được hưởng những chế độ chăm sóc sức khỏe sau:
* Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú (Điều 21):
“1. Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:
a) Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ
thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng dẫn người
khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng;
b) Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe người khuyết tật;
c) Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết
tật.”
Chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người khuyết tật bao gồm các quy định
của trạm y tế cấp xã trong việc giáo dục sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, khám chữa
bệnh và phục hồi chức năng cho người khuyết tật.
Sở dĩ em Như Ý được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú
bởi em là trẻ khuyết tật nên theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, công
tác chăm sóc sức khỏe cho em phải được coi trọng hàng đầu để kịp thời giải quyết,
giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt và giúp em phục hồi sức khỏe một cách nhanh nhất.
Như vậy ở đây, em Như ý sẽ được giáo dục, phổ biến kiến thức liên quan đến việc
chăm sóc sức khỏe của mình bởi hơn ai hết chính bản thân người khuyết tật hiểu rõ
nhất về sức khỏe của mình và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho bản thân vì thế
người khuyết tật cần có kiến thức hiểu biết về sức khỏe, các biện pháp phòng ngừa
bệnh tật để tăng cường sức khỏe. Em Như Ý cũng sẽ được lập hồ sơ theo dõi, quản
lý sức khỏe.
Hơn nữa, em không chỉ gặp dị dạng về đốt sống gây khó khăn về vận động
mà còn gặp rất nhiều bệnh nguy hiểm khác như tim bẩm sinh, cận thị nặng nên cần
có một chế độ chăm sóc sức khỏe, quản lý bệnh đặc biệt, điều kiện dinh dưỡng,
điều kiện sống và môi trường xung quanh cũng cần được chú trọng.
Theo đó, Ủy ban nhân dân Phường 4, Thành phố Vĩnh Long cần thực hiện
các hoạt động gồm:
7


- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về
chăm sóc sức khỏe cho gia đình em Như Ý, nhằm mục đích tăng cường kiến thức
và hiểu biết của người khuyết tật (em Như Ý) về việc tự bảo vệ và nâng cao sức
khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Bao gồm các nội dung:
- Cải thiện điều kiện dinh dưỡng và ăn uống hợp lí, cung cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường, các họat động về công tác phòng bệnh khác cho người khuyết
tật. Ngoài ra, đối với những trẻ em khuyết tật như em Như Ý cần tổ chức và giúp
đỡ em tham gia các chương trình giáo dục đặc biệt: giáo dục hòa nhập hay giáo
dục chuyên biệt.
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tật gây hậu
quả nặng hơn cho em Ý. Đây là hoạt động ngăn ngừa những tái phát gây ra có thê
làm cho tình trạng suy giảm chức năng trở nên nặng hơn.
Trạm y tế cấp xã, phường có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi, quản lí sức khỏe
cho em Như Ý, từ đó giúp cơ quan chức năng đưa ra những giải pháp hợp lí để
chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn.
* Khám bệnh, chữa bệnh (Điều 22)
“1. Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử
dụng các dịch vụ y tế phù hợp.
2. Người khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm y tế.
3. Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người
khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh”
Như Ý cần được quan tâm đặc biệt đến chế độ khám bệnh, chữa bệnh là bởi:
Thứ nhất, em thuộc đối tượng người khuyết tật là trẻ em, lại mắc chứng
khuyết tật vận động, gây rất nhiều khó khăn trong việc vận động, đi lại,… nếu
không được quan tâm chăm sóc sức khỏe kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều
đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của em cũng như các hoạt động vui chơi, hòa
nhập với bạn bè…
Thứ hai, em không chỉ mắc chứng khuyết tật vận động mà còn mắc nhiều
bệnh nguy hiểm khác như bệnh tim bẩm sinh, sức khỏe yếu,…nếu không được
chữa trị kịp thời sẽ có thể nguy hiểm đến tính mạng.
8


Ngoài ra, tật cận thị nặng cũng sẽ gây nhiều khó khăn trong các hoạt động
nhìn, đi lại,… nếu không có sự hỗ trợ của các công cụ như kính cận, kính áp tròng.
Trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, em Như Ý được đảm bảo các quyền
như mọi công dân khác: khám chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực
tế, quyền được giữ bí mật về tình trạng sức khỏe và đời tư ghi trong hồ sơ bệnh án,
quyền được tôn trong danh dự không bị kì thị, phân biệt đối xử trong khám chữa
bệnh; quyền được lựa chọn phương pháp chẩn đoán và điều trị…
Do đặc điểm riêng về sức khỏe, em còn được Nhà nước bảo đảm để khám
bệnh, chữa bệnh, sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp và được cơ sở khám chữa bệnh
thực hiện các biện pháp khám bệnh chữa bệnh phù hợp với khuyết tật nhằm khám
và chẩn đoán đúng bệnh, điều trị bệnh kịp thời, chăm sóc điều dưỡng phù hợp,
phục hồi chức năng nhanh chóng để người khuyết tật sớm ổn định sức khỏe.
Em sẽ được ưu tiên khám chữa bệnh qua các hình thức như: miễn, giảm viện
phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại, chi phí điều trị.
Khi khám bệnh, chữa bệnh, em còn được bảo hiểm y tế thanh toán các chi
phí y tế theo quy định của pháp luật bảo hiểm y tế.
* Phục hồi chức năng (Điều 24, 25)
Phục hồi chức năng đối với người khuyết tật bao gồm quy định về các biện
pháp y học, giáo dục, xã hội nhằm hạn chế tối đa việc suy giảm chức năng của bộ
phận cơ thể, đảm bảo cho người khuyết tật có cơ hội bình đẳng để hòa nhập xã hội.
Về mặt y học: người khuyết tật được phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dụng
cụ chỉnh hình, các phương tiện, thiết bị trợ giúp sinh hoạt đồng thời được thực hiện
các hoạt động điều trị khác như vật lí trị liệu, vận động trị liệu…
Về mặt giáo dục: người khuyết tật được thực hiện các hoạt động giáo dục
phù hợp với khuyết tật.
Về mặt xã hội; người khuyết tật được hòa nhập xã hội, tham gia các hoạt
động giáo dục, dạy nghề, vui chơi, giải trí…
Như Ý bị dị dạng 4 đốt sống lưng, đây là một dị tật có thể khiến em bị liệt
nửa thân người trên, khó cử động, đi lại, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh
hoạt hàng ngày. Do đó, em cần được ưu tiên áp dụng các biện pháp giúp phục hồi
chức năng như phẫu thuật chỉnh hình sớm thông qua các cơ sở chỉnh hình như:
9


viện chỉnh hình, phục hồi chức năng; bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng,…
để cố định cột sống, thực hiện các hoạt động điều trị khác như vận động trị liệu,…
để giúp em mau chóng hồi phục, trở lại như người bình thường. Cũng có thể thực
hiện các biện pháp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tức là chuyển giao kiến
thức về vấn đề khuyết tật, kỹ năng phục hồi và thái độ tích cực đến em và gia đình
nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật. Còn
nếu như đây là khuyết tật không thể chữa trị dứt điểm thì em sẽ được hỗ trợ, cung
cấp các thiết bị như xe lăn để trợ giúp cho vấn đề đi lại, sinh hoạt của em, bớt gánh
nặng cho gia đình và người thân.
Ngoài ra, đối với các bệnh khác như: bệnh tim bẩm sinh, em cần được ưu
tiên phẫu thuật để chữa trị dứt điểm, tránh nguy cơ tái phát bệnh gây nguy hiểm
đến tính mạng của em. Còn với tật cận thị nặng, nếu không chữa trị thì sau một
thời gian cũng sẽ gây nhiều bất tiện trong vấn đề đi lại, quan sát, học tập, thậm chí
dẫn đến mù lòa. Do vậy, cần có sự can thiệp về y tế như phẫu thuật tia mắt, hoặc
thường xuyên thăm khám để kiểm tra sự tăng độ của mắt, thay kính, hướng dẫn các
phương pháp chăm sóc, bảo vệ mắt để phần nào giảm thiểu các tật về mắt cho em
Ý.
Về giáo dục, em luôn là học sinh giỏi suốt chín năm liền mặc dù gặp rất
nhiều vấn đề về bệnh tật nên thiết nghĩ em cần được hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để
học tập tốt hơn, như: miễn giảm học phí, có các quỹ học bổng hỗ trợ, thực hiện các
hoạt động giáo dục phù hợp để em có thể tiếp cận dễ dàng hơn,…
Ngoài ra, tạo điều kiện cho em được tham gia các hoạt động vui chơi, giải
trí,… để giúp em hòa nhập hơn với bạn bè và những người xung quanh.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Người khuyết tật Việt Nam,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2011.
2. Luật Người khuyết tật năm 2010.
3. Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.
4. Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của
Luật Người khuyết tật.
5. http://www.baoquangbinh.vn/suc-khoe/201212/Cham-soc-suc-khoecho-nguoi-khuyet-tat-Nhung-no-luc-dang-ghi-nhan-2103667/

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×