Tải bản đầy đủ

bài tập nhóm tháng 1 môn luật SHTT (9 điểm)

PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG.
Ở tình huống này ta thấy anh X được công ty thời trang MT tuyển
dụng làm nhân viên phòng thiết kế thời trang của công ty. Anh X đã thiết kế một
bộ sưu tập thời trang có tên gọi “Thu quyến rũ”. Theo quy định của điều 736
BLDS thì “người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là tác giả
của tác phẩm đó” mặt khác tại khoản 1 điều 8 nghị định 100/2006/NĐ-CP quy
định “tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác
phẩm…”, có thể nói anh X là tác giả của bộ sưu tập thời trang trên bởi anh X là
người trực tiếp đã sáng tạo ra tác phẩm.
Theo quy định tại điều 739 BLDS thì: “quyền tác giả phát sinh kể từ
ngày tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất
định”. Thời điểm phát sinh quyền tác giả có ý nghĩa rất quan trọng bởi kể từ thời
điểm đó quyền tác giả và quyền của chủ sở hữu tác phẩm phát sinh. Căn cứ vào
tình huống thì anh X trực tiếp sáng tạo tác phẩm vào thời điểm là nhân viên
phòng thiết kế thời trang của công ty MT. Như vậy quyền tác giả của anh X phát
sinh tại thời điểm này.
Nếu dừng lại ở đây ta mới chỉ xác định được tác giả của tác phẩm là anh
X, thời điểm phát sinh quyền tác giả mà chưa thể khẳng định được rằng chủ sở
hữu quyền tác giả ở đây là ai. Có phải là anh X hay công ty thời trang MT là chủ
sở hữu? Để xác định chủ sở hữu trong trường hợp này chúng ta cần phải căn cứ
vào việc công ty MT có giao nhiệm vụ cho anh X liên quan đến việc sáng tạo bộ

sưu tập “Thu quyến rũ” hay không? Hợp đồng lao động giữa anh X và công ty
MT có liên quan gì tới việc thiết kế bộ sưu tập “Thu quyến rũ” không?
Việc xác định chủ sở hữu đối với tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng bởi sau đó anh X đã chuyển nhượng quyền sở hữu hộ sưu tập thời trang
này cho công ty thời trang K. Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, công ty K đã
đến cục bản quyền tác giả để đăng ký quyền tác giả đối với bộ sưu tập “Thu
quyến rũ” và được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm mỹ

1


thuật ứng dụng- bộ sưu tập “Thu quyến rũ”. Giấy chứng nhận quyền tác giả ghi
rõ anh X là tác giả, công ty K là chủ sở hữu tác phẩm.
Theo quy định tại khoản 1 điều 45 LSHTT thì chuyển nhượng quyền tác
giả là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với các
quyền quy định tại khoản 3 điều 19, điều 20… cho tổ chức, cá nhân khác theo
hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật liên quan. Như vậy việc chuyển
nhượng giữa anh X và công ty K phải được thực hiện theo hợp đồng, mặt khác
tại điều 46 có quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả theo đó hợp
đồng phải được lập thành văn bản với những nội dung như:
“Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển
nhượng;
Căn cứ chuyển nhượng;
Giá, phương thức thanh toán;
Quyền và nghĩa vụ của các bên;
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”
Trong phần nội dung của hợp đồng chuyển nhượng có quy định về căn
cứ chuyển nhượng: phải xác định bên chuyển nhượng là người có quyền sở hữu
quyền tác giả hoặc là người đã được chủ sở hữu quyền đó ủy quyền. Như vậy
anh X phải chứng minh mình là người có quyền sở hữu quyền tác giả để làm căn
cứ chuyển nhượng quyền tác giả.
Kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu quyền tác giả theo hợp đồng thì
công ty K có quyền đăng ký quyền tác giả đối với bộ sưu tập theo khoản 1 điều
50 LSHTT: “Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có
thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp đơn đăng ký quyền
tác giả, quyền liên quan”. Giấy chứng nhận quyền tác giả có ghi rõ anh X là tác
giả và công ty K là chủ sở hữu tác phẩm. Như vậy, công ty K hoàn toàn có
quyền công bố tác phẩm, hoàn toàn có quyền đưa bộ sưu tập thời trang ra công
chúng theo quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 19 và Điều 41 Luật sở hữu


2


trí tuệ (cụ thể trong trường hợp này công ty K đã đưa bộ sưu tập “Thu quyến rũ”
tham dự một cuôc thi thiết kế thời trang có sự tham gia của công ty MT).
Theo quy định tại điều 45 Nghị đinh 100/2006/NĐ-CP thì công ty MT
đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan chức năng và ban tổ chức vì cho rằng bộ sưu tập
này thuộc sở hữu của công ty MT và hành vi của công ty K là xâm phạm quyền
sở hữu quyền tác giả.
Lý do công ty MT đưa ra là; anh X thiết kế bộ sưu tập này khi đang là
nhân viên của công ty MT và việc thiết kế mẫu sản phẩm mới để tham dự cuộc
thi thiết kế cho mùa thu là nhiệm vụ công ty giao cho anh X. Ngược lại công ty
K cho rằng quyền sở hữu quyền tác giả của họ đối với bộ sưu tập là hợp pháp vì
anh X sáng tạo bộ sưu tập trên không phải theo nhiệm vụ được giao; anh X đã
chuyển nhượng quyền sở hữu quyền tác giả cho họ và họ đã đăng ký bản quyền.
Căn cứ khoản 3 điều 49 LSHTT thì “tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi
có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại”. Như vậy khi có tranh
chấp xảy ra thì công ty MT có nghĩa vụ chứng mình quyền tác giả của mình bởi
công ty K đã được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả.
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.
Để giải quyết tình huống trên chúng ta cần phải xác định chủ sở hữu tác
phẩm “Thu quyến rũ” thuộc về ai, mặt khác đề bài không đưa ra những thông tin
cần thiết để xác định chủ sở hữu tác phẩm này, vì vậy nhóm xin đưa ra hai giả
thiết để giải quyết tình huống.
Giả thiết thứ nhất: Anh X sáng tạo bộ sưu tập thu quyến rũ theo nhiệm
vụ mà công ty MT giao cho.
Một tác phẩm được coi là tác phẩm sáng tác theo nhiệm vụ được giao
nếu:
-

Giữa tác giả và tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả tồn tại một quan

hệ lao động;
3


-

Việc sáng tác ra tác phẩm nằm trong nhiệm vụ lao động của tác giả;

-

Tác phẩm được sáng tạo ra trong khi tác giả thi hành nhiệm vụ lao

động.
Anh X được tuyển dụng làm nhân viên phòng thiết kế thời trang của
công ty MT như vậy giữa anh X và công ty MT tồn tại quan hệ lao động. Giả
thiết của chúng ta là anh X sáng tạo bộ sưu tập “Thu quyến rũ” theo nhiệm vụ
mà công ty MT giao, nhiệm vụ lao động thông thường được quy định trong hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động, chỉ thị giao việc của người quản lý người lao
động. Mặt khác tác phẩm này phải được sáng tác khi tác giả thi hành nhiệm vụ
có thể là tại cơ quan hoặc tại nhà. Như vậy bộ sưu tập thu quyến rũ là tác phẩm
được sáng tạo theo nhiệm vụ được giao và thuộc quyền sở hữu của công ty MT
theo quy định tại khoản 1 điều 39 LSHTT: “Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác
phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định
tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận
khác”.
Công ty MT có quyền công bố tác phẩm theo quy định tại khoản 3 điều
19 LSHTT, mặt khác công ty K đã đem bộ sưu tập tham dự cuộc thi thiết kế thời
trang mà chưa có sự đồng ý của công ty MT như vậy công ty K đã xâm phạm
quyền tác giả được quy định tại điều 28 LSHTT. Như vậy việc công ty MT gửi
đơn tố cáo đến ban tổ chức và các cơ quan chức năng vì cho rằng bộ sưu tập này
thuộc sở hữu của công ty MT và hành vi của công ty K là xâm phạm quyền sở
hữu quyền tác giả của họ là hoàn toàn có căn cứ.
Công ty MT có thể kiện buộc công ty K phải chịu những chế tài nhất định
như: cảnh cáo hoặc phạt tiền (nếu hành vi đưa bộ sưu tập thời trang trên vào một
cuộc thi thời trang gây những tổn thất về vật chất, danh dự… cho công ty MT),
tịch thu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, đình chỉ thời hạn từ 90 ngày
đến 180 ngày hoạt động kinh doanh… theo quy định tại Nghị định 47/2009/NĐCP của Chính phủ ngày 13 tháng 5 năm 2009 quy định xử phát hành chính về

4


quyền tác giả, quyền liên quan (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định
109/2011/NĐ-CP).
Giả thiết thứ hai: Anh X sáng tạo bộ sưu tập thu quyến rũ không theo
nhiệm vụ mà công ty MT giao cho.
Như phân tích ở trên thì anh X là tác giả của tác phẩm, cùng với giả thiết
cho rằng anh X sáng tạo tác phẩm này không theo nhiệm vụ của công ty MT thì
ta có thể khẳng định rằng anh X là tác giả và là chủ sở hữu tác phẩm theo quy
định tại điều 37 LSHTT thì “tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất
- kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định
tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này”. Như vậy
anh X hoàn toàn có quyền chuyển nhượng quyền tác giả cho công ty K theo quy
định tại khoản 1 điều 45 LSHTT chuyển nhượng quyền tác giả là việc chủ sở
hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại
khoản 3 Điều 19, Điều 20… của Luật này cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp
đồng.
Vậy nên, hành vi chuyển nhượng quyền sở hữu bộ sưu tập thời trang
“Thu quyến rũ” giữa anh X và công ty K là hoàn toàn hợp pháp. Và, việc công
ty MT đã gửi đơn tố cáo đến ban tổ chức và các cơ quan chức năng vì cho rằng
bộ sưu tập này thuộc sở hữu của công ty MT và hành vi của công ty K là xâm
phạm quyền sở hữu quyền tác giả của họ là không có cơ sở bởi việc anh X là
nhân viên phòng thiết kế thời trang của công ty MT không có nghĩa là mọi sáng
tạo của anh X đều thuộc về công ty MT. Anh X có quyền cơ bản như mọi công
dân khác đó là quyền tự do sáng tạo, do đó, đối với những tác phẩm không phải
nhiệm vụ của công ty giao cho thì anh X hoàn toàn có quyền định đoạt tác phẩm
đó bằng cách chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng… tác phẩm cho một
cá nhân, tổ chức khác khi có nhu cầu.

5


Kết luận: hành vi chuyển nhượng quyền sở hữu bộ sưu tập giữa anh X và
công ty K là hoàn toàn hợp pháp, công ty K hoàn toàn có quyền đi đăng kí bản
quyền đối với bộ sưu tập này và đem bộ sưu tập này đi tham dự cuộc thi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam.
- Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
- Luật sở hữu trí tuệ.
- Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của bộ luật dân sự và luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả
và quyền liên quan.
- Nghị định 47/2009/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành
chính về quyền tác giả, quyền liên quan.

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×