Tải bản đầy đủ

Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng – hướng hoàn thiện các quy định pháp luật

Họ và tên: NINH THANH HẢI ngày sinh: 01/05/1973 nơi sinh: Nam Định
Học viên lớp nghiệp vụ công chứng khóa 14.2 Lớp A Số báo danh: 024.
Đề Tài Tiểu Luận
Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng –
Hướng hoàn thiện các quy định pháp luật.
Trong công tác đổi mới của Đảng và nhà nước ta hiện nay, sự phát triển kinh tế
- xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các thể chế pháp lý bảo
đảm cho các giao dịch dân sự đang được hình thành, hoàn thiện và ngày càng cần
thiết, tác động tích cực cho sự phát triển đất nước. Trong đó, vấn đề về công chứng
có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là biện pháp đảm bảo an toàn cho các quan hệ
dân sự liên quan.
I.

Khái quát chung về hoạt động công chứng

1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động công chứng.

“Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp
của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản
mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện
yêu cầu công chứng” (Điều 2 của Luật công chứng). Hoạt động công chứng đảm

bảo an toàn pháp lí cho các hợp đồng, giao dịch, giúp tạo lập các văn bản có giá trị
chứng cứ. Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính chuyên môn, nghề nghiệp
và chịu sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước.
Hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, bao gồm:
Thứ nhất: sự chứng nhận của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng về
tính xác thực của hoạt động giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan
hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác;
Thứ hai: là sự xác nhận của UBND cấp huyện và cấp xã về việc xác thực của
hoạt động giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, và quan
hệ xã hội khác;
Thứ ba: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng ở ngoài nước là Cơ quan
đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài.
2. Các tổ chức công chứng.

Trước đây Nghị định số 31/CP ngày 10/5/1996 của chính phủ về tổ chức và
hoạt động công chứng, Nhà nước đã đồng nhất việc công chứng - chứng thực của
các cơ quan khác nhau trong một tên gọi chung là công chứng.
1

1


Kể từ khi có Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của chính phủ đã có
sự phân biệt giữa hai loại việc này. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền công
chứng, chứng thực là phòng công chứng nhà nước, UBND cấp huyện, cấp xã và cơ
quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài. Thẩm quyền công chứng của phòng công
chứng nhà nước theo quy định là rất rộng bao gồm hầu hết các loại việc công
chứng, chứng thực, nhưng cũng không hạn chế thẩm quyền chứng thực của UBND
cấp huyện và cấp xã.
3. Cơ sở pháp lý của hoạt động công chứng.

Ngày 01/7/2007 khi Luật công chứng đi vào thực tiễn, công tác công chứng, đã
đi dần vào ổn định và đạt được kết quả khả quan, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ
chức khi có nhu cầu được công chứng. Đây là một bước đánh dấu sự thành công
trong công tác xã hội hóa công tác công chứng. Theo luật công chứng, tư nhân
cũng có quyền thành lập Văn phòng công chứng, theo đó các công chứng viên có
đầy đủ các điều kiện theo quy định của luật công chứng sẽ được phép mở các Văn
phòng công chứng. Như vậy, luật công chứng cho phép các tổ chức là cơ quan
hành chính chuyển đổi thành tổ chức dịch vụ công, hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ về tài chính. Theo luật công chứng, các Phòng công chứng và Văn phòng công
chứng chỉ nhận công chứng các hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà không chứng
thực bản sao, chứng thực chữ ký như trước đây.
Sự tách bạch giữa công chứng, chứng thực đã đem lại hiệu quả cao trong công
tác cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
II.

Thực trạng của hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay

Luật Công chứng có hiệu lực ngày 1-7-2007 đã tạo cơ sở pháp lý cho các tổ
chức hoạt động công chứng phát triển mạnh mẽ, phục vụ kịp thời nhu cầu công
chứng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Hoạt động công chứng đi vào nền
nếp, tạo hành lang pháp lý an toàn, ổn định, góp phần ngăn ngừa vi phạm pháp
luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội.
Với chủ trương xã hội hóa công chứng, hoạt động công chứng đã từng bước
phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ kịp thời nhu cầu công
chứng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Số lượng công chứng viên và tổ chức
hành nghề công chứng liên tục tăng. Việc thành lập các Văn phòng công chứng là
một trong những khía cạnh tích cực của việc xã hội hóa hoạt động công chứng,
giúp giảm tải rất nhiều những áp lực công việc công chứng trước đây khi hầu hết
các giao dịch dồn về các Phòng công chứng Nhà nước. Bên cạnh đó, cung cách
phục vụ ở các tổ chức công chứng cũng thay đổi. Việc đầu tư cho cơ sở vật chất
2

2


được chú trọng, chất lượng dịch vụ cũng được nâng lên, cung cách phục vụ linh
hoạt, thuận tiện, nhanh chóng hơn. Theo đánh giá của Sở Tư pháp, kết quả xã hội
hóa hoạt động công chứng đã mang lại hiệu quả rõ rệt, nâng cao sự an toàn pháp lý
cho các giao dịch, hợp đồng, góp phần phòng ngừa các vi phạm pháp luật trong các
quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại... Khi các giao dịch, hợp đồng được
thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng có tính chuyên môn, chuyên
nghiệp không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn đảm bảo tính chính xác, đúng
luật, hồ sơ văn bản công chứng được lưu giữ đầy đủ, lâu dài và có tính pháp lý,
góp phần phòng ngừa rủi ro, tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên khi tham gia hợp đồng, giao dịch, giúp ổn định cho sự phát triển kinh tế, xã hội
của từng địa phương. Bên cạnh đó thông qua hoạt động tiếp người yêu cầu công
chứng, các tổ chức hành nghề công chứng đã tích cực tuyên truyền, tư vấn cho cá
nhân, tổ chức những quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ
pháp luật cho người dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích mang lại cho tổ chức và cá nhân, công tác
công chứng cũng còn những thiếu sót, tồn tại. Nhất là sự tăng mạnh về số lượng
các Văn phòng công chứng - một mô hình mới đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Biểu
hiện cạnh tranh là điều dễ nhận thấy ở các Văn phòng công chứng, nhưng cũng
chính thế mà có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa một số tổ chức hành nghề
công chứng. Tình trạng một số tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên
công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản có dấu hiệu vi phạm
pháp luật như có biểu hiện công chứng “treo”, ủy quyền bán một tài sản cho nhiều
người, công chứng hợp đồng giao dịch khi chưa có đầy đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật, sự thiếu cẩn trọng trong thẩm định hồ sơ thu thù lao công chứng
chưa thống nhất… cũng là những vấn đề tồn tại của hoạt động công chứng hiện
nay.
Nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trên là do nhận thức của các cấp, các
ngành và một bộ phận nhân dân, cán bộ về ý nghĩa giá trị pháp lý của hoạt động
công chứng còn hạn chế; việc áp dụng pháp luật về công chứng và các quy định
pháp luật khác có liên quan chưa thống nhất; quy mô của các Văn phòng công
chứng nhỏ, đa số Công chứng viên không qua đào tạo nghề công chứng, chưa được
bồi dưỡng về nghiệp vụ, kinh nghiệm, kỹ năng hành nghề nên trong quá trình tác
nghiệp còn xảy ra sai sót, vi phạm pháp luật, có tình trạng cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động như lôi kéo khách hàng, đặt biển hiệu quảng cáo, công
chứng ngoài trụ sở không đúng quy định… đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng
của hoạt động công chứng.
III.
3

Trách nhiệm quản lý Nhà nước về công chứng.
3


Điều 11 Luật công chứng quy định
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chứng.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà
nước về công chứng và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng và trình Chính phủ chính sách phát triển công chứng;
b) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về công chứng;
c) Quy định chương trình khung đào tạo nghề công chứng, quản lý việc tổ chức,
đào tạo nghề công chứng; ban hành quy chế tập sự hành nghề công chứng; ban
hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng
viên; cấp thẻ công chứng viên;
d) Hướng dẫn nghiệp vụ công chứng; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công
chứng; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công
chứng;
đ) Tổng kết, báo cáo Chính phủ về công chứng;
e) Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về công chứng.
3. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng dẫn,
kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công chứng của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ
quan lãnh sự của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi
chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ
công chứng cho viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công
chứng.
4. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công
chứng.
5. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh) thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương
và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương
để đáp ứng nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân; tuyên truyền, phổ biến pháp
luật về công chứng;
b) Thành lập, giải thể Phòng công chứng; quyết định, thu hồi quyết định cho phép
thành lập Văn phòng công chứng; tổ chức việc cấp, thu hồi giấy đăng ký hoạt động
của Văn phòng công chứng;
c) Bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc ban đầu cho Phòng công chứng;
d) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng;
đ) Tổng hợp tình hình và thống kê về công chứng trong địa phương gửi Bộ Tư
pháp.
4

4


IV. Những tồn tại trong quản lý Nhà nước về hoạt động công chứng và giải

pháp khắc phục những hạn chế này.
Trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật công
chứng, chứng thực có sự chậm trễ: luật công chứng ra đời năm 2006 có hiệu lực
1/7/2007 nhưng mãi tới ngày 4/1/2008 thì mới có nghị định hướng dẫn thi hành
luật công chứng, nghị định số 75/2000/NĐ-CP của chính phủ ngày 8/12/2000 về
công chứng, chứng thực mãi đến ngày 20/2/2008 mới có quyết định số
01/2008/QĐ-BTP hướng dẫn về việc ban hành một số mẫu giấy tờ trong hoạt động
công chứng.
Về việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về công chứng, chứng thực chưa đươc
triển khai sâu rộng, nhiều người dân chưa hiểu được pháp luật về công chứng,
chứng thực. Chính vì vậy, tại các Văn phòng công chứng có những người dân đưa
giấy tờ đến yêu cầu chứng thực...
Trong việc đào tạo, xét duyệt, bổ nhiệm công chứng viên, bộ tư pháp chưa ban
hành quy chế về việc tập sự hành nghề công chứng dẫn đến tình trạng người tập sự
công chứng không biết mình được làm cụ thể những việc gì.
Việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực. công
tác thanh tra, kiểm tra về công chứng được Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ
chức thực hiện nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định do các Phòng công chứng
là cơ quan trực thuộc của Sở Tư pháp nên có những sai phạm đã không được nêu
ra và cũng không được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Những hạn chế trên đây xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau: chính sách
pháp luật về công chứng thiếu tính đồng bộ; số lượng chất lượng công chứng viên
chưa đủ đáp ứng nhu cầu công chứng; kiến thức pháp luật về công chứng, chứng
thực của nhân dân còn hạn chế; thanh tra kiểm tra hoạt động công chứng, chứng
thực còn mang tính hình thức.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật, cơ chế quản lý công chứng thuần túy
mang tính quản lý nhà nước. Ngay tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, mặc dù
công chứng đã chính thức được coi là một nghề nhưng chúng ta không tìm thấy bất
kỳ quy định nào về tổ chức và hoạt động của hiệp hội nghề nghiệp dành cho công
chứng viên chứ chưa nói đến vị trí và vai trò của chúng trong cơ chế quản lý công
chứng. Nói theo cách khác, bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước, các nhà làm luật
chưa xác định cơ cấu tổ chức cũng như chức năng quản lý mang tính xã hội nghề
nghiệp đối với hoạt động công chứng. Rõ ràng, điều đó khiến cho cơ chế quản lý
5

5


công chứng được tổ chức và vận hành giống như cơ chế quản lý các hoạt động
hành chính nhà nước thuần túy khác.
Nhìn chung, quy định về quản lý công chứng bao trùm lên tất cả lĩnh vực của
hoạt động bổ trợ tư pháp, từ việc ban hành chính sách; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức công chứng viên; thành lập, giải thể tổ chức hành nghề công chứng; đào tạo,
bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo; kỷ luật công chứng viên; xem xét giá trị pháp lý của văn bản công
chứng... Bên cạnh đó, do hiện nay chúng ta vẫn duy trì hệ thống tổ chức hành nghề
công chứng của nhà nước với một đội ngũ cán bộ phòng công chứng (bao gồm cả
công chứng viên) là viên chức nhà nước... nên ngoài việc phải chịu sự giám sát của
cơ quan có chức năng quản lý nhà nước đối với công chứng nói chung, các phòng
công chứng, công chứng viên...(với tư cách là đơn vị sự nghiệp hay viên chức nhà
nước...) còn phải chịu sự quản lý của cơ quan, cá nhân khác có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật về công chức, viên chức. Hiện nay, pháp luật của chúng ta
đang xếp công chứng là một chế định bổ trợ tư pháp còn về mặt tổ chức, các phòng
công chứng lại được xếp vào hệ thống cơ quan hành chính sự nghiệp. Chúng ta dễ
dàng nhận thấy công chứng gắn liền và song hành với cả hoạt động quản lý hành
chính lẫn hoạt động tư pháp nói chung (tư pháp ở đây được hiểu theo nghĩa hoạt
động xét xử của Tòa án). Tuy nhiên, cơ chế quản lý công chứng lại thuần túy chỉ
do cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trong
khi cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp lại không
có bất kỳ một nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng trong công tác quản lý công
chứng, ngoài việc xem xét giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Như vậy, cơ chế
quản lý hiện hành chưa phản ánh đúng bản chất công chứng. Khiếm khuyết này đã
được khắc phục phần nào theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006
nhưng vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng vẫn còn thụ động. Như vậy,
mặc dù đã có những thay đổi nhất định, nhưng nhìn chung, cơ chế quản lý công
chứng ở nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ cơ chế quản lý công chứng được
quy định tại pháp luật công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và
Liên Xô cũ. Ngay cả khi mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do đã được
manh nha thì cơ chế quản lý công chứng của Việt Nam vẫn chưa thực sự có những
thay đổi cho phù hợp. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý công chứng phải được hoàn
thiện theo hướng tăng cường hơn nữa vai trò chủ động quản lý công chứng của Tòa
án, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của hệ thống cơ quan này mà còn
phù hợp với bản chất công chứng.

6

6


Trên đây vấn đề vai trò quản lý nhà nước về công chứng ở nước ta hiện nay. Do
kiến thức tích lũy còn chưa đủ nên bài làm của em vẫn còn những hạn chế, có thể
sẽ có những sai sót không tránh khỏi, mong các thầy cô góp ý cho em. Em xin chân
thành cảm ơn!
Học viên

Ninh Thanh Hải

7

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×