Tải bản đầy đủ

Thành phần kinh tế nhà nước

A-MỞ ĐẦU

Như mọi người đều biết một đất nước không thể tồn tại được nếu thiếu đi sự
phát triển của một nền kinh tế. Tại sao người ta lại đánh giá một nước phát
triển hay chậm phát triển chính là dựa vào tiêu chí nền kinh tế của nước đó.
Ở nước ta hiện nay có một số thành phần kinh tế như: thành phần kinh tế nhà
nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế kinh tế cá thể,tiểu chủ,
kinh tế tư bản tư nhân; thành phần kinh tế tư bản nhà nước, thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế này luôn đan xen, tác
động lẫn nhau tạo nên sự phát triển của một đất nước, trong đó thành phần
kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong các ngành kinh tế ở nước ta.
Chúng ta biết đến các doanh nghiệp lớn như: Vinalines, Vietnam airlines,…
các doanh nghiệp này đều thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Và để hiểu
hơn về thành phần kinh tế này nhóm em đã phân tích chính sách của nhà
nước đối với thành phân kinh tế nhà nước theo pháp luật hiện hành.

B-NỘI DUNG
Thành phần kinh tế nhà nước theo cách hiểu hiện nay là thành phần
kinh tế do nhà nước với tư cách là người đại diện cho toàn dân làm chủ sở
hữu và tổ chức quản lý. Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các doanh
nghiệp nhà nước, hệ thống các cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa xã hội thuộc sở

hữu nhà nước, toàn bộ đất đai, hầm mỏ và các tài nguyên khác thuộc sở hữu
nhà nước.
INhững quy định pháp luật hiện hành về chính sách của Nhà
nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước.
Chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước được quy
định tại điều 19 Hiến pháp 1992 ( sửa đổi bổ sung năm 2001) và được cụ thể


hóa qua bộ Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 cùng một số văn kiện
khác.
Điều 19 – Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung: “Kinh tế nhà nước được củng
cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò
chủ đạo. Từ điều 19-Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung có thể thấy chính sách
của nhà nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước bao gồm ba điểm cơ bản
như sau:
Thứ nhất, “Kinh tế nhà nước được củng cố và phát triển, nhất là trong các
ngành và lĩnh vực then chốt”.
Kinh tế Nhà nước giữ các ngành then chốt nhằm đảm bảo cân đối vĩ mô của
nền kinh tế cũng như tạo đà tăng trưởng lâu dài bền vững và hiệu quả cho
nền kinh tế. Đó là các lĩnh vực như: công nghiệp sản xuất, tư liệu sản xuất
quan trọng, các ngành công nghiệp mũi nhọn, kết cấu hạ tầng vật chất cho
nền kinh tế như giao thông, bưu chính, năng lượng. Các ảnh hưởng to lớn
đến kinh tế đói ngoại như các liên doanh lớn, xuất nhập khẩu trong và các
lĩnh vực liên qan đén an ninh quốc phòng và trật tự xã hội. Tuy nhiên, quan
điểm nắm giữ này không có nghĩa là Nhà nước độc quyền cứng nhắc mà có
sự hợp tác, liên doanh hợp lý các thành phần kinh tế khác nhất là trong lĩnh
vực cơ sở hạ tầng, xuất nhập khẩu công nghiệp. Như vậy, kinh tế Nhà nước
phải tạo ra lực lượng vật chất hàng hóa và dịch vụ khả dĩ chi phối được giá
cả thị trường dẫn dắt cả thị trường bằng chính chất lượng và giá của sản
phẩm, dịch vụ mình làm ra. Mặt khác, trong điều kiện toàn cầu hóa, cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra, để giữ vững ổn định, kinh tế
Nhà nước phải giữ vị trí then chốt.


Thứ hai, kinh tế Nhà nước “ giữ vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế quốc dân.
Trong kinh tế Nhà nước, hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò
cực kỳ quan trọng trong việc phát triển hệ thống doanh nghiệp, cần thiết
trong giai đoạn hiện nay vì:
- Kinh tế Nhà nước dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất do đó
đầu tư phát triển kinh tế Nhà nước là tạo ra nền tảng kinh tế xã hôi chủ
nghĩa, tạo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và quản lí thị trường.
- Kinh tế Nhà nước nắm giữ các vị trí then chốt nên có khả năng chi phối
các thành phần kinh tế khác.
- Kinh tế Nhà nước có giữ được vai tro chủ đạo thì mới có thể đảm bảo
được định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường.Do đó, phải có
sự quản lí của nhà nước để “ Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ( Điều 15Hiến pháp 1992 sửa đổi).
Như vậy, vấn đề phát triển và tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
nước là một tất yếu khách quan cần thiết. Vai trò chủ đạo của thành phần
kinh tế Nhà nước được biểu hiện như sau:
- Làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và
quản lí vĩ mô. Nhà nước sử dụng chung tất cả các biện pháp có thể can
thiệp vào nền kinh tế làm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị
trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bố nguồn lực tối ưu
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa phù
hợp với giá trị truyền thống và văn hóa đát nước. Chức năng điều tiết
nền kinh tế quốc dân đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng doanh nghiệp như


một công cụ cần thiết bảo đảm cho nền kinh tế hoạt đọng một cách thông
suốt, đảm bảo lợi ích xã hội.
- Làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội. Để
nền kinh tế nước ta phát triển một cách nhanh chóng thì cần phải có
những bước tăng trưởng. Do vậy, cần có một lực lượng có sức mạnh
kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy lực lượng khác cùng phát triển. Doanh
nghiệp Nhà nước hiện nay có một thực lực to lớn nên chỉ có doanh
nghiệp Nhà nước mới có thể thực hiện được chức năng đòn bẩy. Những
vấn đề xã hội đang là một hạn chế lớn của nước ta, muốn phát triển kinh
tế xã hội Nhà nước phải giải quyết triệt để những vấn để đó. Để thực
hiện điều này, chúng ta cần có thực lực về kinh tế. Chỉ có thành phần
kinh tế Nhà nước mới có thể đảm nhận được vai trò làm lực lượng chủ
lực cho Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội.
- Mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát
triển, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới. Thành phần kinh tế Nhà nước
thể hiện vai trò chủ đạo làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế gắn liền
với công bằng xã hội đóng góp lớn vào GDP của toàn xã hội.
Để thành phần kinh tế nhà nước có thể thực hiện vai trò chủ đạo, chi phối
hoạt động của các thành phần kinh tế khác, cần áp dụng nhiều biện pháp
đồng bộ, trong đó có một số biện pháp chủ yếu sau đây:
- Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành,
những lĩnh vực trọng yếu; những cơ sở sản xuất thương mại, dịch vụ quan
trọng; một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc
phòng, an ninh… Nhà nước chỉ nên nắm một số không nhiều "những đài chỉ
huy" trong nền kinh tế, tức là những vị trí kinh tế then chốt, thông qua đó mà


điều tiết, chi phối, hướng dẫn hoạt động của các thành phần kinh tế khác,
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
-Giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu và sử dụng tư liệu sản xuất
của toàn dân bằng cách lựa chọn các hình thức kinh tế phù hợp.
-Đổi mới, dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại và
phát huy ưu thế về kỹ thuật tiến bộ nhất; liên kết, liên doanh với các thành
phần kinh tế khác nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả
kinh tế – xã hội.
-Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần thuộc sở hữu nhà nước là cổ phần chi
phối hoặc cổ phần đặc biệt.
-Tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu
sản xuất – kinh doanh trong điều kiện mới. Phương hướng chủ yếu hiện nay
là thành lập một số tổng công ty, tập đoàn kinh doanh lớn có uy tín, có tầm
vóc quốc gia và quốc tế, tạo thế và lực để phát triển, đủ sức cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong quan hệ kinh tế với nước ngoài.Đối với
những doanh nghiệp xét thấy không cần thiết hoặc thua lỗ kéo dài, không có
khả năng vươn lên, thì chuyển sang hình thức sở hữu khác, cho thuê, bán
khoán hoặc giải thể.
-Để nâng cao tính hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước xứng
đáng là bộ khung trong hệ thống các doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế,
cần phải nâng cao tính hạch toán, tính chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của giám đốc và tập thể người lao
động.


Thứ ba, kinh tế Nhà nước “cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. Hiện nay, kinh tế Nhà nước
vẫn được “ Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã
hoạt động có hiệu quả” ( Điều 20-Hiến pháp 1992). Tuy nhiên, để có thể
đứng vững, kinh tế tập thể cần phải kết hợp với các thành phần kinh tế khác
đặc biệt là thành phần kinh tế Nhà nước để kinh tế tập thể có thể phát huy
được thực lực của mình đồng thời hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp
Nhà nước.
Để cụ thể hoá chủ trương tại điều 19-Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ
sung, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước(sửa đổi 2003):"
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn,
điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối được chức dưới hình thức công ty
nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn"(điều 1). Theo đó
nhà nước tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những
ngành, lĩnh vực trọng yếu như : kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài
chính ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ
quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến
quốc phòng, an ninh. Với bộ luật này nhà nước đã tạo ra mặt bằng bằng
pháp lý chung cho các doanh nghiệp nhà nước đồng thời quy định về quyền
và nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Từ ngày Luật doanh nghiệp nhà nước
được ban hành đến nay tình hình kinh tế xã hội của nước ta có nhiều biến
đổi tích cực theo quá trình đổi mới đất nước.Thực hiện đường lối của Đảng
về phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật thi hành luật doanh nghiệp Nhà nước và các
văn bản về biện pháp để cải cách doanh nghiệp nhà nước để hoàn thành mục
tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.


II. Thực trạng của kinh tế Nhà nước và phương hướng hoàn thiện
1. Thực trạng
a) Ưu điểm
Thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua
đã khẳng định thành công bước đầu trong việc thực hiện chủ trương đúng
đắn của Đảng và mục tiêu thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước của
Chính phủ.
Với vai trò chủ đạo của các đơn vị kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
quốc dân, thời gian qua, các doanh nghiệp nhà nước đã thu được những
thành tựu nhất định như xây dựng được đội ngũ lao động kỹ thuật với trình
độ tay nghề cao, góp phần quan trọng xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tếxã hội, các dự án trọng điểm của Nhà nước phục vụ chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội dài hạn của đất nước, những dự án lớn hoặc có ý nghĩa chính
trị và hiệu quả xã hội lớn mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác không làm hoặc không đủ khả năng làm. Từ đó, năng lực, trình độ của
nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ
thuật được nâng lên, chuyên nghiệp hơn… Hiện nay, trong số 21 tập đoàn,
tổng công ty nhà nước thì có 11 đơn vị là tập đoàn kinh tế, có 10 doanh
nghiệp là tổng công ty 90, 91. Vượt qua những thách thức của năm 2011,
khối tập đoàn và tổng công ty Nhà nước đã phát huy nội lực, nâng cao năng
lực cạnh tranh, đạt lợi nhuận trên 128 ngàn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước
trên 200 ngàn tỷ đồng. Nhờ những nỗ lực của mình, các tập đoàn và tổng
công ty nhà nước đã giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và có lãi: doanh thu đạt
1.1387.327 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ; lợi nhuận đạt 128.324 tỷ
đồng, tăng 12%; nộp ngân sách đạt 202.857 tỷ đồng, tăng 20%; đóng góp


1.720,8 tỷ đồng cho công tác an sinh xã hội. Một đại diện tiêu biểu cho các
doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi nhờ chính sách của nhà nước trong thời
gian vừa qua là Tổng Công ty Hàng Không Việt Nam. Tổng công ty Hàng
không Việt Nam (Tổng công ty HKVN – Vietnam Airlines) đã hoàn thành
vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh năm. Doanh thu Vietnam Airlines
ước đạt 36.265 tỷ đồng, vượt kế hoạch 13,2%, tăng 47,3% so với năm 2009.
Sau khi đã trích lập đủ chi phí chênh lệch tỷ giá để bảo toàn vốn với số tiền
xấp xỉ 1.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế mại điện tử & làm thủ tục hành
khách trực tuyến.
b) Hạn chế
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, thành phần kinh tế nhà nước cũng
bộc lộ những mặt hạn chế, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong
các ngành kinh tế nhiều năm qua kém hiệu quả, kém linh hoạt làm ăn thua
lỗ, làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng của Nhà nước. Kinh tế Nhà nước có tỷ lệ
đầu tư rất cao nhưng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) chỉ đóng góp khoảng 37%-38% GDP. Trong năm 2009, theo báo
cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn,
tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng. Nhiều doanh
nghiệp nhà nước đang lâm nạn nợ nần, nảy sinh chuỗi nợ liên hoàn.
Cụ thể như tập đoàn điện lực Việt Nam EVN. Theo báo điện tử Dân
trí ra ngày 13-07-2012 : “Theo báo cáo của EVN, kết thúc năm 2011, tập
đoàn lỗ kinh doanh điện hơn 10.000 tỷ đồng. Các khoản đầu tư của EVN
vào các lĩnh vực ngoài ngành cũng liên tục gặp thua lỗ, tổng lợi nhuận thu
về, đạt tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư chỉ hơn 1%”.


Hiện trạng trên xảy ra tương tự với Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Vinaliness. Vinalines công bố lỗ 1.439 tỉ đồng trong sáu tháng qua”( theo
báo điện tử Tuổi trẻ online ra ngày 22-07-2012 của tác giả B.Hoàn). Một
thiệt hại vô cùng nghiêm trọng của Vinaliness là vụ chìm tàu Vinalines
Queen vào ngày 25-12-2011 tại vùng biển phía Đông Bắc đảo Luzon
(Philippines).
2. Giải pháp
Xử lý vấn đề này hoàn toàn không thể theo hướng đơn giản được, nếu cứ
giải quyết phần ngọn kiểu bất cập theo nhiệm kỳ bổ nhiệm, theo hướng
vướng đâu tháo gỡ đó là không ổn mà phải thực hiện một cách triệt để từ
gốc của mọi nguyên nhân
- Tiến hành đồng bộ các khâu bổ nhiệm cán bộ, kiểm soát tài chính, công bố
tiền rót cho các tập đoàn này được sử dụng như thế nào, tức là phải công
khai minh bạch, không nể nang.
- Một trong những giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của khối doanh nghiep
nhà nước là bán bớt những doanh nghiệp thua lỗ và thuần túy kinh doanh.
- Việc tái cơ cấu DNNN, nhất là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà
nước, trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
- Nâng cao cạnh tranh: môi trường càng cạnh tranh thì các doanh nghiệp
hoạt động càng hiệu quả hơn .
- Cải cách về giám sát: cần có 1 cơ quan duy nhất có năng lực tốt thực hiên
việc giám sát các DNNN vì có nhiều cơ quan giám sát với có chức năng
chồng chéo nhau, đặc biệt quan tâm đến tình trạng cán bộ,báo cáo tài chính...
C- KẾT LUẬN


Qua sự phân tích trên đây ta thấy được thành phần kinh tế Nhà
nước có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiểu được vai
trò của thành phần kinh tế Nhà nước, Đảng ta đã có những chính sách để
phát triển thành phần kinh tế nhà nước. Những chính sách này có thể đưa các
doanh nghiệp Nhà nước mà điển hình là các doanh nghiệp lớn như:
Vinashin. Petrolimex, … ngày một phát triển hơn theo hướng tích cực, hạn
chế đến mức thấp nhất những thiệt hại không đáng có. Tăng cường và phát
triển thành phần kinh tế Nhà nước để thành phần kinh tế này giữ vững vai
trò chủ đạo của thành phần kinh tế này trong các ngành kinh tế ở nước ta là
góp phần đưa đất nước phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×