Tải bản đầy đủ

LVTS 2018 thực hiện chính sách bảo trợ đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số tỉnh quảng bình

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN MINH ĐỨC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ
ĐỐI VỚI TRẺ EM VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, Năm 2018

1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI


TRẦN MINH ĐỨC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ
ĐỐI VỚI TRẺ EM VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN THỊ TÂM
HÀ NỘI, Năm 2018

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, trong đó đối tượng trẻ em dân tộc thiểu số
được đặt lên hàng đầu. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở
Châu Á phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (1990), Luật bảo vệ chăm sóc
và giáo dục trẻ em được Nhà nước Việt Nam ban hành năm 1991, đến ngày
05/4/2016 Quốc hội khóa XIII đã thông qua và thay thế Luật bảo vệ chăm sóc và giáo
dục trẻ em thành Luật trẻ em có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2017. Luật trẻ em có quy
định về việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em không phân biệt tín ngưỡng, dân tộc và đặc
biệt là trẻ em dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn 2011-2016, Chính phủ ban hành 03
nghị định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 05 chương trình, kế hoạch về bảo vệ, chăm
sóc trẻ em với mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và
trẻ em dân tộc thiểu số thuộc nhóm có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
Tuy vậy, theo tổ chức Save The Children, dù chính phủ và các tổ chức xã hội
đã cố gắng nhưng sự bất bình đẳng giữa trẻ em thành thị với nông thôn và dân tộc
thiểu số vẫn tồn tại. Các báo cáo của UNICEF tại Việt Nam cho thấy, đa phần bố mẹ
người dân tộc thiểu số thực sự gặp khó khăn trong việc tiếp cận y học hiện đại và cứ
bám theo những thói quen lạc hậu trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh. Bên cạnh đó,
ở những vùng sâu vùng xa việc đi lại còn khó khăn nên việc tiếp cận dịch vụ y tế còn
nhiều vấn đề bất cập. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5
tuổi ở Việt Nam luôn nằm ở mức cao so với thế giới và nhóm trẻ vùng dân tộc thiểu
số chiếm phần lớn.
Cũng như các tỉnh, thành phố trong cả nước, Quảng Bình đang đối mặt với
việc giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có việc chăm sóc hỗ trợ trẻ em ở vùng dân
tộc thiểu số đang được đặc biệt chú trọng, xem đây là một phần giúp nâng cao chất
lượng cuộc sống của các huyện vùng núi cao và toàn tỉnh nói chung. Tỉnh Quảng
Bình có hai dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn: dân tộc Bru-Vân Kiều và dân tộc Chứt,
với 5.607 hộ, 24.499 nhân khẩu, chiếm khoảng 2,3% dân số của tỉnh. Dân tộc Bru Vân Kiều gồm 4 nhóm: Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì. Dân tộc Chứt gồm 5 nhóm:
3


Sách, Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng. Các dân tộc thiểu số còn lại với số dân không
nhiều như: Thổ, Mường, Tày, Thái, Pa cô... Đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng
Bình sinh sống chủ yếu ở các xã vùng sâu, biên giới, nơi có điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội hết sức khó khăn [39]. Năm 2017, theo điều tra, khảo sát của Ban Dân tộc
tỉnh, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống thì
có 68 cặp tảo hôn trong số 308 cặp kết hôn tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
chiếm 26,30%, tăng 5,89%. Một số xã có tỷ lệ tảo hôn cao như Thượng Hoá (Minh
Hóa) chiếm 41,18%, Kim Thuỷ (Lệ Thủy) chiếm 77,42% [21].
Trong những năm gần đây, nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch phát triển
giữa vùng DTTS, miền núi và các vùng khác trong tỉnh, UBND tỉnh Quảng Bình đã
ban hành Quyết định số 3310/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề án Chính sách đặc thù
hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi tỉnh Quảng Bình giai đoạn
2017-2020. Ban dân tộc tỉnh Quảng Bình cũng đưa ra đề án 498 “Giảm thiểu tình
trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 20152025”. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Lương Cương (trưởng phòng Tuyên Truyền và
Địa Bàn, Ban dân tộc tỉnh Quảng Bình) thì tình trạng tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số
vẫn còn tồn tại, đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh vẫn còn trẻ 13 tuổi bị ép tảo hôn [7].
Qua đó có thể thấy hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có một đề án hay chính sách bảo
trợ riêng biệt, hoàn thiện cho đối tượng là trẻ em thuộc vùng dân tộc thiểu số. Các
chính sách đưa ra chỉ là lồng ghép, thiếu toàn diện nên chưa giải quyết được các vấn
đề về giáo dục, y tế hay nạn tảo hôn cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số thuộc tỉnh
Quảng Bình.
Từ tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Thực
hiện chính sách bảo trợ đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình” làm
luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Chính sách công nhằm đánh giá đúng thực trạng
chính sách bảo trợ trẻ em vùng dân tộc thiểu số Quảng Bình, đưa ra giải pháp khắc
phục các hạn chế, phát huy những mặt thuận lợi để nâng cao hiệu quả trong việc
chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về vấn đề bảo trợ trẻ em đang
4


được các cơ quan ban ngành và các cấp địa phương quan tâm. Trong quá trình tìm
hiểu, tác giả nhận thấy có nhiều bài viết trên tạp chí, sách báo, các đề tài khoa học
hay công trình nghiên cứu về việc bảo vệ trẻ em. Dưới đây là một số bài viết có liên
quan đến đề tài:
- Ấn phẩm “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp
luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt
Nam”, Bộ Lao động thương binh xã hội và UNICEF, Hà Nội, 2009. Tài liệu đã
nghiên cứu một cách hệ thống pháp luật, chính sách bảo trợ trẻ em ở Việt Nam một
cách toàn diện, góp phần định hướng cho người nghiên cứu. Việc tham gia kí kết
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em được xem là một bước ngoặt lớn trong công cuộc
bảo vệ trẻ em ở Việt Nam. Chính phủ đã đưa ra nhiều nghị định, chính sách, chương
trình và ban hành luật trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em toàn diện. Bài viết đặt những văn
bản quy phạm pháp luật trong mối tương quan với Công ước Quốc tế vầ Quyền trẻ
em và tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề bảo trợ trẻ em. Thông qua tài liệu, chúng ta cũng
xác định điểm khác nhau giữa pháp luật Việt Nam và quốc tế, dự báo những diễn
biến mới trên thế giới về việc xây dựng các chính sách bảo vệ trẻ em.
- Năm 2014, Bộ Lao động, thương binh và xã hội và Tổng cục Thống kê Việt
Nam cho ra đời cuốn “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em – Các kết quả chính” dựa
trên Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO-IPEC) của Tổ chức Lao động Quốc tế. Tác phẩm đã góp phần cho việc thực
hiện mục tiêu toàn cầu hóa về xóa bỏ các hình thực lao động ở trẻ em theo chương
trình hành động quốc gia năm 2016 thông qua việc cung cấp dữ liệu về lao động trẻ
em.
Bài tham luận “Vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh”
của Mai Thị Quế trong Hội thảo khoa học: Chất lượng cuộc sống của người dân
thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế hiện nay (2012) do Viện Nghiên cứu
Phát triển thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đã đề cập đến thực trạng chăm sóc, bảo vệ
trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thể hiện rõ, đồng thời tác giả cũng chỉ ra
nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những tồn tại còn mắc phải. Bên cạnh
đó, tác giả đã đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách bảo
5


vệ, chăm sóc trẻ em của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
- Tác giả Lê Thị Oanh trong bài viết chuyên đề “Một số giải pháp cho trẻ lang
thang trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” đã mạnh dạn đưa ra nhận định: trẻ em lang thang
chính là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, là một thực tế khách quan của xã hội
hiện đại ngày nay.Tình trạng này khiến các em không đáp ứng đầy đủ những nhu cầu
thiết yếu, gây ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình hình thành nhân cách và phát triển toàn
diện của trẻ. Chính vì vậy, trẻ em chính là đối tượng cần nhận được sự quan tâm,
chăm sóc thường xuyên từ gia đình, nhà trường và xã hội. Giải quyết vấn đề trẻ em
lang thang chính là bảo đảm quyền được chăm sóc cơ bản của trẻ. Mặt khác, đây còn
là hình thức bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản lí xã hội về trẻ em và giúp ổn định
tình hình xã hội, góp phần phát triển đất nước. Giải quyết vấn đề trẻ em lang thang
chính là bảo đảm quyền được chăm sóc cơ bản của trẻ. Mặt khác, đây còn là hình
thức bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản lí xã hội về trẻ em và giúp ổn định tình
hình xã hội, góp phần phát triển đất nước. Giải quyết vấn đề trẻ em lang thang là việc
bảo đảm quyền được chăm sóc giúp đỡ đặc biệt của trẻ. Mặt khác còn góp phần ổn
định tình hình kinh tế xã hội đất nước, và nhằm bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản
lí xã hội về trẻ em.
- Nguyễn Hữu Quân (2013), “Hoạt động thực hiện chính sách trợ giúp xã hội
cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội tại Huyện Ngọc Hồi
– Huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Công tác xã hội,
Đại học khoa học xã hội và nhân văn. Luận văn đã rà soát, đánh giá các chính sách
trợ giúp trẻ em và nghiên cứu thực trạng hoạt động thực hiện chính sách trợ giúp tập
trung vào 2 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: trẻ em nghèo và trẻ em
khuyết tật trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Trong cuốn sách “Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm
2020” các tác giả đã tổng hợp các quan điểm về ASXH, nguyên tắc xây dựng hệ
thống ASXH, đề ra các mục tiêu phát triển ASXH đến năm 2020, trong đó đề ra mục
tiêu phát triển trợ giúp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
đối với trợ giúp xã hội thường xuyên: “Nâng cao hiệu quả công tác Chương trình xã
hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng dần mức trợ cấp thường xuyên phù
6


hợp với khả năng ngân sách nhà nước”, đối với cứu trợ đột xuất: “đảm bảo người dân
khi gặp rủi ro, thiên tai, bão lụt, bị chết người, mất tài sản được hỗ trợ kịp thời để
vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất, việc làm, đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc
sống”. Và đề ra các định hướng trong phát triển chính sách.
- Trong giáo trình nhập môn An sinh xã hội của Nguyễn Hải Hữu chủ biên
(2007), Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên của tác giả
Nguyễn Ngọc Toản (2011), Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim
Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Đặng Thị Hà Thu (2013)Phát
triển hệ thống an sinh xã hội đến năm 2020, đã nêu những lý luận về an sinh xã hội;
những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách an
sinh xã hội nói chung và chính sách bảo trợ xã hội nói riêng, phương pháp tiếp cận, hệ
thống thực thi, điểm mạnh, điểm hạn chế của chính sách bảo trợ xã hội hiện hành và
đề xuất, kiến nghị hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam;
Bên cạnh đó còn có một số bài viết nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành như:
“Thành công và bất cập trong thực hiện chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên
(2012)” của tác giả Nguyễn Đức Chiện; “Những bước tiến quan trọng trong công tác
bảo trợ xã hội (2014)”, “Định hướng đổi mới chính sách bảo trợ xã hội trong thời
gian tới (2015)” của Nguyễn Văn Hồi. Nhìn chung các bài viết đã chỉ ra được những
thành quả nổi bật của công tác xã hội và chị ra được định hướng cho tương lai.
Nhưng các tác phẩm chưa đi sâu hay lấy bảo trợ trẻ em làm đối tượng nghiên cứu
chính.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên, về phần lí luận chỉ mới đề cập
đến lý luận đến an sinh xã hội, trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng, những định
hướng giải quyết các vấn đề an sinh xã hội trong xu thế toàn cầu hóa, định hướng về
điều chỉnh chính sách bảo trợ xã hội, chưa đề cập đến quá trình tổ chức thực hiện
chính sách bảo trợ xã hội, kết quả đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp thường
xuyên chỉ mới thực hiện ở thời điểm năm 2010 trở về trước.
Trực tiếp bàn về thực trạng đời sống và chính sách bảo trợ đối với trẻ em vùng
dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, có thể kể đến những công trình sau:
- Thanh Hà (2017), Quảng Bình cải thiện, nâng cao điều kiện sống cho đồng
7


bào dân tộc thiểu số và miền núi, đã cho thấy một bức tranh sáng về đời sống của
người dân vùng cao, trong đó có người dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình. Đáng chú
ý, bài viết đã chỉ ra được tính tích cực, chủ động của chính quyền địa phương trong
việc triển khai, thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
- Nguyễn Lương Cương (2018), Kết quả điều tra tình trạng tảo hôn và hôn
nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Thượng Trạch, một số
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Thông qua những số liệu điều tra đáng tin cậy, bài báo đã nêu lên thực trạng đáng
buồn về tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết của đồng bào dân tộc thiểu sốở các
bản Cà Roòng I, Cà Roòng II, Bản Nịu, bản Ban, bản Khe Rung, bản Bụt, bản 51 và
bản Chăm Pu, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Từ đó, bài báo đã
đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên trong thời gian tới.
- Thanh Hoa (2018), Báo động tình trạng tảo hôn tại các xã vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, một lần nữa, cùng với Nguyễn Lương Cương, đã cho thấy hiện
tượng xã hội nhức nhối của người dân tộc thiểu số mà nguyên nhân là sự trói buộc
của các hủ tục không dễ gì dứt bỏ.
Chăm sóc và phát triển trẻ em chính là đầu tư và phát triển đất nước nói
chung, địa phương nói riêng. Hiện nay chính phủ, xã hội đều ý thức được tầm quan
trọng của lớp trẻ với tương lai của đất nước. Chính vì vậy đã và đang có rất nhiều
chương trình, chính sách chăm sóc và giáo dục trẻ.
Trong thời gian qua, Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ trẻ
em bằng những văn bản quy phạm páp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc
triển khai thực hiện của các cơ quan ban ngành trực thuộc, liên quan như: Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 2004); Chương trình ngăn ngừa và giải quyết
tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động
nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010; Chương trình
hành động quốc gia đấu tranh phòng, chống mại dâm giai đoạn 2006-2010; Chương
trình Hành động quốc gia về phòng, chống buôn bán người; Chương trình quốc gia
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 và giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch hành động
Quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014-2020; Chương trình
8


phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016-2020.
“Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015” đã thể hiện
được những nỗ lực vượt bậc của các địa phương trong việc xây dựng hệ thống cung
cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em, đặc biệt theo báo cáo thì chương trình đã thành công
trong việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ em liên tục; việc triển khai thí điểm các hoạt
động cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng được nhiều địa phương quan tâm” [3,
tr.8].
UNICEF trong báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” nhận định
rằng:“Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng
trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Việt Nam đã đưa vào thực thi các chính sách quốc gia nhằm khuyến
khích và hỗ trợ các gia đình” [75, tr.214].
Vào năm 2015, UNICEF thực hiện “Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm
2015” tại Việt Nam. Sau khi thực hiện chương trình với chủ đề “Hình dung mới về
tương lai: Đổi mới sáng tạo cho mọi trẻ em” Việt Nam đạt được một số tựu trong
công tác bảo đảm các quyền của trẻ em, nhất là việc nâng cao chất lượng sống của
trẻ. Đồng thời, báo cáo cũng kêu gọi cộng đồng chung tay đưa ra những ý tưởng, giải
pháp để xóa bỏ dứt điểm các vấn đề nổi bật mà trẻ em đang gặp phải. Đồng thời, báo
cáo cũng kêu gọi cộng đồng chung tay đưa ra những ý tưởng, giải pháp để xóa bỏ dứt
điểm các vấn đề nổi bật mà trẻ em đang gặp phải.Báo cáo cũng kêu gọi cộng đồng
cùng chung tay đưa ra những ý tưởng mới, các giải pháp mới để đối phó với các vấn
đề nổi cộm mà trẻ em đang phải đối mặt.
Ngày 22/4, tại Hà Nội, Ủy ban Dân tộc phối hợp với Tổ chức UNICEF tại
Việt Nam tổ chức Hội thảo: “Đề xuất giải pháp, chính sách hỗ trợ chăm sóc trẻ em
dân tộc thiểu số từ 0-5 tuổi”. Ủy ban Dân tộc đã trình Chính phủ Nghị quyết:“ Đẩy
mạnh phát triển nguồn nhân lực các DTTS giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến
năm 2030”, nhằm phát triển thể lực, trí lực, nâng cao ý thức xã hội và kỹ năng sống
cho trẻ em dân tộc thiểu số - nguồn nhân lực tương lai của vùng dân tộc thiểu số và
miền núi. Ủy ban Dân tộc nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng chăm sóc
trẻ em giai đoạn đầu đời từ 0-5 tuổi, đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng, không chỉ
9


phát triển thể lực mà còn phát triển trí tuệ, sự sáng tạo trong mỗi con người. Vì vậy,
Hội thảo lần này nhằm đánh giá toàn diện các chính sách về chăm sóc, bảo vệ trẻ em
cũng như rà soát các chính sách đã thực hiện và đề xuất giải pháp chăm sóc, hỗ trợ
trẻ em trong thời gian tới [17]. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một chính sách bảo
trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số dành riêng phù hợp với điều kiện dân cư, văn hóa
hay cơ sở, hạ tầng của từng địa phương.
Năm 2014, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội cho ra đời cuốn sách Cẩm
nang công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; bình đẳng giới và phòng chống
bạo lực gia đình dành cho cán bộ xã, phường, thị trấn”, nhằm hướng dẫn cho cán
bộ các cấp địa phương thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Đây là một
công trình có tính thiết thực cho các cán bộ chuyên trách. Cuốn cẩm nang gồm 2
phần , 4 chương đã đi sâu vòa công tác thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em; bình đẳng giới và chống bạo lực gia đình. Đồng thời, cuốn cẩm nang
cũng dành hẳn 1 chương cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, cuốn sách
chưa có chương mục nào dành riêng cho trẻ dân tộc thiểu số là những trẻ em chịu
nhiều thiệt thòi và có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
Trong khi đó tại Quảng Bình, ý thức được nguy cơ cao trẻ em dân tộc thiểu số
trở thành trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Ủy ban nhân dân tỉnh mà trực tiếp là Ban dân
tộc đã thực hiện đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025”(Đề án 498) trên địa bàn toàn
tỉnh. Theo Minh Tiến thuộc Ban dân tộc của tỉnh Quảng Bình, “Toàn tỉnh có 68 cặp
tảo hôn trong số 308 cặp kết hôn tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm
26,30%, tăng 5,89% so với năm 2016. Một số xã có tỷ lệ tảo hôn cao như Thượng
Hoá (Minh Hóa) chiếm 41,18%, Kim Thuỷ (Lệ Thủy) chiếm 77,42%” [50]. Tuy
nhiên đây mới chỉ là một khía cạnh trong vấn đề bảo trợ trẻ em. Trẻ em dân tộc thiểu
số Quảng Bình chưa có một chính sách, chương trình phát triển toàn diện.
Vào năm 2017, “Sở Lao động – Thương binh và xã hội đã phối hợp với Tổ
chức Plan Quảng Bình tổ chức truyền thông về phòng ngừa trẻ em kết hôn sớm, kết
hôn cận huyết thống tại địa bàn huyện Minh Hóa, Quảng Ninh và Lệ Thủy” [73],
chương trình chỉ gói gọn trong công tác truyền thông ở một số địa bàn trên toàn
10


tỉnh. Và thực sự chưa mang lại hiệu quả chính sách lâu dài cho trẻ em vùng dân tộc
thiểu số.
Như vậy, hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn chưa có một chính sách
bảo trợ trẻ em một cách toàn diện và lấy bảo trợ trẻ em làm đối tượng nghiên cứu
chính. Có chăng chỉ là một vài lĩnh vực như tảo hôn mà trẻ em là những nạn nhân
chính, còn các vấn đề về giáo dục, phát triển toàn diện cho trẻ thì hầu như chưa có.
Nhằm đi sâu vào chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số ở địa
phương Quảng Bình, tiếp nối cơ sở thì các đề tài đi trước và tổng hợp, hệ thống
chính sách của nhà nước đối với vấn đề bảo trợ trẻ em đặc biệt là trẻ vùng dân tộc
thiểu số Quảng Bình. Đề tài “Chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số
Quảng Bình”hi vọng sẽ xóa dần khoảng cách chênh lệch về chất lượng sống của trẻ
em dân tộc thiểu số với trẻ em thành phố, góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn
tại trong việc thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em dân tộc thiểu số và góp phần phát
triển đời sống người dân nơi đây, tạo tiền đề cho sự phát triển của địa phương trong
tương lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ trẻ
em đối với dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Bình, đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện
chính sách bảo trợ trẻ em vùng dân tộc thiểu số một cách hiệu quả nhất.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc
thiểu số.
- Tìm hiểu, phân tích đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước trong thực hiện
chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình.
- Đưa ra một số chính sách, mô hình tổ chức nhằm tạo điều kiện để trẻ em dân
tộc thiểu số cũng được hưởng các quyền lợi một cách công bằng. Đồng thời, đề xuất,
kiến nghị, giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đề ra và thực hiện
chính sách bảo trợ cho em đối với dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình tỉnh Quảng
Bình.
11


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện chính sách bảo trợ đối với trẻ em vùng
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: nghiên cứu một số khía cạnh của chính sách bảo trợ
trẻ em vùng dân tộc thiểu số Quảng Bình. Cụ thể là nội dung văn bản chính sách
pháp luật; nhân lực đề ra và thực hiện chính sách; đối tượng thừa hưởng chính sách;
nghiệp vụ hành chính công trong chính sách bảo trợ cho em đối với dân tộc thiểu số
của tỉnh Quảng Bình.v.v...
- Phạm vi về thời gian: Tổng hợp báo cáo và tình hình thực tiễn từ năm 2012
đến năm 2017, giải pháp thực hiện đến 2020.
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: các hoạt động thuộc lĩnh vực hành chính
công trong việc đưa ra và thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số
dựa trên thực tiễn cơ sở trên bàn tỉnh Quảng Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trước hết, luận văn được hoàn thành dựa trên quan điểm triết học của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lenin để nhìn nhận,
đánh giá đối tượng là chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số tại tỉnh
Quảng Bình. Khi tiếp cận vấn đề, tiến hành nghiên cứu tác giả không xem xét chính
sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số là thành tố tồn tại độc lập, mà đặt trong
đặc điểm dân tộc, bối cảnh của địa phương; dưới sự tác động của các mối quan hệ
gia đình, nhà trường, xã hội; mối quan hệ bổ trợ với các chính sách phát triển kinh tế,
văn hóa xã hội.
Đồng thời luận văn dựa trên tư tưởng của Hồ Chí Minh và những quan điểm
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về chính sách bảo trợ trẻ em, chính sách dân tộc,
chính sách phát triển văn hoá trong bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào
dân tộc thiểu số.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên
12


cứu chính được sử dụng là phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thảo luận
nhóm, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia.
a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Tổng hợp, phân tích các số liệu từ các báo cáo cơ sở, ấn phẩm, tài liệu, luận
văn... có liên quan đến vấn đề Chính sách công trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ
em, đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Bình để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Nghiên cứu các hồ sơ lưu trữ tại Ban dân tộc tỉnh Quảng Bình nhằm nghiên
cứu các chính sách dành cho đồng bào thiểu số nói chung và trẻ em nói riêng mà tỉnh,
huyện đã thực hiện nhằm nghiên cứu và đánh giá thực trạng chính sách bảo trợ trẻ
em đối với dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình
b) Phương pháp thảo luận nhóm
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm lần lượt với
các thành phần tham gia là: cán bộ chính sách huyện; trẻ em dân tộc thiểu số; các cặp
vợ chồng dân tộc thiểu số. Trong buổi thảo luận về chính sách bảo trợ trẻ em đối với
dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Bình, dựa vào thành phần tham gia mà tôi đưa ra
hướng thảo luận phù hợp để lấy được thông tin đa chiều, khách quan về: việc thực
hiện chính sách bảo trợ; nhu cầu mà trẻ mong muốn và tác động của chính sách với
trẻ; vai trò của phụ huynh, gia đình trong việc thực hiện chính sách. Sau khi nhận
được các ý kiến đa chiều, tôi tiến hành phân tích tổng hợp. Phương pháp này giúp
quá trình nghiên cứu diễn ra khách quan, có góc nhìn đa chiều và giúp nhìn nhận,
đánh giá đối tượng một cách toàn diện.
c) Phương pháp phỏng vấn sâu
Đồng bào dân tộc thiểu số phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao của 5 huyện Bố
Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, Lệ Thủy, Quảng Ninh. Dựa vào đặc điểm địa bàn,
trong quá trình nghiên cứu tôi tiến hành phỏng vấn sâu cho 3 nhóm đối tượng: (1)
Phỏng vấn cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện: về thực trạng, thuận lợi, khó khăn và
đề xuất kiến nghị về công tác quản lý, thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đối với
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; (2) Phỏng vấn cán bộ cơ sở về những
khó khăn trrong quá trình thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đề xuất kiến nghị; (3) Phỏng vấn trẻ em và người đại
13


diện hộ gia đình về đánh giá hiệu quả chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu
số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Mẫu phỏng vấn được phân bố cụ thể như sau: Phỏng vấn cán bộ quản lý (18
người): cấp tỉnh 3 người; cấp huyện 15 người (3 người/ huyện). Phỏng vấn cán bộ cơ
sở (30 người):
 Huyện Minh Hóa 6 người: chia đều 3 xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Tiến.
 Huyện Tuyên Hóa 6 người: chia đều 3 xã Lâm Hóa, Lê Hóa, Sơn Hóa.
 Huyện Bố Trạch 6 người: chia đều 3 xã Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn Trạch.
 Huyện Lệ Thủy 6 người: chia đều 3 xã Kim Thủy, Lâm Thủy, Ngân Thủy.
 Huyện Quảng Ninh 6 người: chia đều 3 xã Trường Sơn, Trường Xuân
- Phỏng vấn trẻ em (30 trẻ) và người đại diện hộ gia đình (30người)
 Huyện Minh Hóa 12 người: chia đều 3 xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Tiến.
 Huyện Tuyên Hóa 12 người: chia đều 3 xã Lâm Hóa, Lê Hóa, Sơn Hóa.
 Huyện Bố Trạch 12 người: chia đều 3 xã Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn
Trạch.
 Huyện Lệ Thủy 12 người: chia đều 3 xã Kim Thủy, Lâm Thủy, Ngân Thủy.
 Huyện Quảng Ninh 12 người: chia đều 3 xã Trường Sơn, Trường Xuân.
d) Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
- Phỏng vấn ý kiến chuyên gia về ngành hành chính công để giải đáp nguyên
nhân các vấn đề tồn tại trong việc đưa ra và thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đối
với dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Phỏng vấn ý kiến chuyên gia luật về quyền lợi trẻ em cần được hưởng và
phương thức thực hiện phù hợp với đối tượng trẻ vùng dân tộc thiểu số.
- Phỏng vấn ý kiến chuyên gia dân tộc học để nắm rõ phong tục tập quán dân
tộc thiểu số trên địa bàn Quảng Bình để đưa ra các chính sách phù hợp vừa đảm
bảo quyền trẻ em vừa không gây tác động tiêu cực đến truyền thống văn hóa của
người dân.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận

14


Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chính sách bảo trợ trẻ em
người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; trên cơ sở đó phân tích, đánh
giá làm rõ hơn hệ thống quản lý nhà nước về hành chính công đối với vấn đề này để
hoàn thiện khuôn khổ luật pháp, chính sách, cơ chế, giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác hành chính công từ cấp trung ương đến cấp cơ sở.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực tiễn quản lý chính sách bảo trợ trẻ em đối với
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, giúp nâng cao nhận thức của các nhà
quản lý, cán bộ cơ sở trực tiếp làm việc tại địa bàn với trẻ em vùng dân tộc thiểu số
về vai trò của chính sách bảo trợ trẻ em.
Tác giả hi vọng, những phát hiện mới của để tài nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa
học cho các nhà quản lý trong việc đề ra cơ chế chính sách phù hợp với và xây dựng
các chương trình chiến lược bảo vệ trẻ em đối với dân tộc thiểu số.
Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà nghiên cứu,
quản lý chính sách công xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách về vấn
đề bảo trợ trẻ em dân tộc thiểu số. Đây cũng là tài liệu mang tính thực tế cao cho sinh
viển, nghiên cứu sinh ngành chính sách công tham khảo phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo,
Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc
thiểu số;
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc
thiểu số ở Quảng Bình;
Chương 3: Mục tiêu, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách bảo
trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số ở Quảng Bình

15


16


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM
ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Theo tiến trình lịch sử, những quan tâm đầu tiên về chính sách công xuất hiện
cùng với sự ra đời của nền dân chủ Hy Lạp, nhưng khoa học chính sách chỉ mới nổi
lên từ giữa thế kỷ XIX, lúc mà khoa học chính trị bắt đầu chuyển trọng tâm nghiên
cứu từ triết học - chính trị sang nghiên cứu các thể chế, cơ cấu tổ chức nhà nước, thái
độ và hành vi ứng xử của các tổ chức và các cá nhân với nhau trong hoạt động kinh
tế, xã hội. Nhiều nhà khoa học trong thời kỳ này đã đi sâu nghiên cứu về các chuẩn
mực giá trị hoặc hành vi của chính phủ với mục đích lựa chọn nội dung, phương thức
hoạt động nhằm thoả mãn các nhu cầu của đời sống nhân dân. Những tư tưởng mới
này là nguyên nhân gây ra các cuộc tranh luận gay gắt về vai trò của nhà nước, về
quyền và nghĩa vụ của công dân và nhà nước. Đồng thời, sau các cuộc chiến tranh
thuộc địa, hàng loạt các nước bị tàn phá có nhu cầu cơ cấu lại nhà nước của mình,
các thể chế quốc tế mới cũng được thiết lập đã dẫn đến sự ra đời của một cách tiếp
cận mới về công bằng, bình đẳng, về việc tìm kiếm các giá trị và biện pháp phát triển
kinh tế - xã hội. Bối cảnh đặc biệt này làm nảy sinh một số cách tiếp cận mới về khoa
học chính sách. Một số cách tiếp cận tập trung vào các hành vi ứng xử ở cấp vi mô,
vào khía cạnh tâm lý của quần chúng, của các cử tri và nhà lãnh đạo; một số khác lại
tập trung vào những đặc điểm văn hoá, xã hội và một số lại tập trung vào bản chất
dân tộc và tính toàn cầu... Chính các cách tiếp cận theo hướng đổi mới trên đây đã
tạo ra cơ sở nền tảng cho sự ra đời của khoa học chính sách.
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng hay các tài liệu công thì
“chính sách” được nhắc tới rất nhiều, đây là thuật ngữ được của ngành chính sách
công. Đây được xem là một trong những thuật ngữ khó, không dễ để có thể định
nghĩa chính xác, đầy đủ các ý hay khía cạnh liên quan. Năm 1972, Thomas Dye đã
định nghĩa một cách ngắn gọn về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất
kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [78, tr.4]. Đây là một định
17


nghĩa này khá súc tích, nhưng chưa có hiểu biết sâu sắc về chính sách công. Định
nghĩa chưa đưa ra được quy ước hệ thống những hoạt động được gọi là chính sách
nhằm phân biệt với các hoạt động cử nhà nước.Đây là một định nghĩa này khá súc
tích, nhưng chưa có hiểu biết sâu sắc về chính sách công. Định nghĩa chưa đưa ra
được quy ước hệ thống những hoạt động được gọi là chính sách nhằm phân biệt với
các hoạt động cử nhà nước. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng đã chỉ ra những dấu hiệu
nhận biết nhất định về chính sách công. Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công
là nhà nước.Điều này có nghĩa là các quyết định của các doanh nhân, các tổ chức từ
thiện, các nhóm lợi ích, các cá nhân trong xã hội không phải là chính sách công. Khi
nói về chính sách công thì phải hiểu rằng đó là các hành động của nhà nước. Cho dù
trong thực tế, các hoạt động của các chủ thể phi nhà nước có thể hoặc chắc chắn ảnh
hưởng đến những gì nhà nước làm, nhưng bản thân những quyết định hoặc các hoạt
động của các chủ thể đó không tạo nên chính sách công. Chính sách công là biện
pháp mà nhà nước thực hiện trên thực tế để tác động điều chỉnh hành vi của mọi đối
tượng nhằm đạt mục tiêu mong muốn. Thứ hai, chính sách công bao gồm sự lựa
chọn cơ bản từ phía nhà nước theo hướng làm hoặc không làm gì. Quyết định này
được cán bộ, công chức nhà nước và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Nói một cách đơn giản hơn, chính sách công là sự lựa chọn tối ưu của nhà nước đối
với một đường lối hành động. Quan niệm về “không làm gì” có nghĩa là nhà nước
quyết định không tạo ra một chương trình mới, hoặc đơn giản chỉ là duy trì tình trạng
hiện tại của một quá trình kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, chúng ta phải coi đây là các
quyết định có tính toán.
Đến năm 1978, William Jenkins đưa ra định nghĩa mới, theo ông chính sách
công “là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc
một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các
phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm
quyền“ [78, tr.5]. Theo đó, chính sách được hiểu là cả một quá trình thực hiện một
tập hợp các quyết định có liên quan với nhau. Vì trên thực tế, hiếm khi nhà nước giải
quyết một vấn đề công bằng một quyết định đơn lẻ, mà hầu hết đều phải bao gồm
hàng loạt các quyết định khác nhau. Do đó, để hiểu một cách đầy đủ về chính sách
18


của nhà nước cần xem xét tất cả quyết định của các cá nhân, cơ quan nhà nước liên
quan đến lĩnh vực công mà chính sách hướng tới thực hiện. Hơn nữa, định nghĩa
chính sách công của W. Jenkins cũng cho rằng, chính sách chính là hành vi định
hướng mục tiêu của nhà nước. Nhìn từ khía cạnh này, chính sách công được xem là
hệ thống quyết định do nhà nước đề ra nhằm xác định mục tiêu, đưa ra giải pháp để
đạt được mục tiêu đó. Điều này cung cấp một số phương pháp đánh giá chính sách
công về sự thích đáng của mục tiêu và mối quan hệ phù hợp giữa mục tiêu và
phương tiện thực hiện.
James Anderson vào năm 1984 đã đưa ra định nghĩa về chính sách công một
cách khái quát hơn. Ông định nghĩa như sau: “Chính sách công là đường lối hành
động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính
trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [78, tr.6]. Định
nghĩa này bổ sung thêm hai thành tố cho các định nghĩa của W. Jenkins và T.Dye.
Thứ nhất, định nghĩa này đã chỉ ra rằng các quyết định chính sách thường được ban
hành bởi một tập thể các nhà hoạt động chính trị, thay vì một nhóm hoặc một nhà
hoạt động duy nhất trong bộ máy nhà nước. Thông thường các chính sách là kết quả
không chỉ của nhiều quyết định của một chủ thể, mà còn là kết quả của nhiều quyết
định được ban hành bởi các chủ thể ở những cấp và bộ phận khác nhau trong bộ máy
nhà nước. Thứ hai, định nghĩa này cũng làm sáng tỏ mối liên hệ giữa hành động của
nhà nước và sự nhận thức, mối quan tâm của các chủ thể khác trong xã hội về sự tồn
tại một vấn đề phát sinh hoặc đòi hỏi phải được giải quyết.
Đến năm 1990, B. Guy Peters lại đưa ra định nghĩa mới: “Chính sách công là
toàn bộ các hoạt động của nhà nưóc có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp
đến cuộc sống của mọi người dân” [78, tr.6]. Quan niệm này của B. Guy Peters đã
bổ sung thêm tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay
cộng đồng xã hội, đây được xem là một phần quan trọng của chính sách công. Hiểu
một cách đơn giản, chính sách công nhằm giải quyết những vấn đề công và quá trình
thực hiện sẽ ảnh hưởng đến một vài cá nhân, tổ chức trong xã hội. Điều này cũng
đưa ra gợi ý về tiêu chuẩn đánh giá chính sách công là tác động có mang tính xã hội
hay không.
19


Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam, chính sách được giải thích như sau:
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách
được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của
đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa...” [35, tr.475]. Theo định nghĩa này,
ta có thể thấy mục đích của chính sách công là đưa ra định hướng, lộ trình cụ thể để
thúc đẩy xã hội phát triển. Có thể nói, nhà nước sử dụng chính sách công như một
công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị.
Thông qua các định nghĩa, cách hiểu trên đây trên đây về chính sách công, có
thể đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là kết quả ý chí
chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan
với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn
đề công trong xã hội.
Khái niệm trên thể hiện rõ đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ
động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý. Đồng thời, khái niệm
cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá
nhân, tổ chức nhằm phù hợp với định hướng của nhà nước trong việc giải quyết
những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết
chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là chính sách phải thể hiện được vai trò
định hướng hành động theo những mục tiêu nhất định. Điều kiện tồn tại của chính
sách công, bao gồm: những tác động tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước thiết
lập; tinh thần nghiêm túc thực hiện của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề; chính
sách có hiệu lực trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Điều kiện bảo
đảm cho sự tồn tại được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính,
môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự bảo đảm bằng nhà nước.
1.1.2. Khái niệm chính sách bảo trợ trẻ em
Khái niệm “trẻ em” theo Điều 1 Công ước Liên hiệp Quốc về Quyền trẻ em
được quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em có quy định
tuổi vị thành niên sớm hơn.” [52, tr.35].
20


Phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc, theo quy định tại Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 thì: “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”
[5, tr.7]. Đồng thời, bộ luật cũng đưa ra các quyền cụ thể mà trẻ em được hưởng,
trong đó có các quyền cơ bản sau:
- Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt
nhất các điều kiện sống và phát triển.
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai
tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định
của pháp luật.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về
sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng để phát triển toàn diện.
- Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền
được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản
thân.Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng,
năng khiếu, sáng tạo, phát minh.
- Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí;được bình đẳng
về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù
hợp với độ tuổi.
- Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm
và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận
các quan hệ gia đình.Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát
huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích
tốt nhất của trẻ em.
- Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối
21


với tài sản theo quy định của pháp luật.
- Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.Trẻ em
được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can
thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
- Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với
cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly
cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.Khi phải cách
ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia
đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được
biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy
trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia
khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất
cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái
quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.
- Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc
thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ
đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích
tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về
nuôi con nuôi.
- Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được
bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.
- Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được
bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động
trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy
định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu
đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền
22


được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến
sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt:
Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc,
đánh tráo, chiếm đoạt.
- Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi
hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có
quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm
quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được
trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật;
không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân
thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.
- Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung
đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để
thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.
- Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo
đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.
- Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có
quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận
các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt
động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.
- Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định
của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em;
được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi
ý kiến, nguyện vọng chính đáng.
- Quyền của trẻ em khuyết tật:Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các
quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được
23


hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực
và hòa nhập xã hội.
- Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không
quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân
đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Bổn phận của trẻ em đối với gia đình:
Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia
sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ.
Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành
viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển
của trẻ em.
- Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo
dục khác:
Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội
và cơ sở giáo dục khác.
Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè.
Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo
chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường,
cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.
- Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội:
Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người
khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với
khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình.
Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về
an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài
nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em.
Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.
- Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước:
24


Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong
tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước.
Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ
em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.
- Bổn phận của trẻ em với bản thân:
Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của bản thân.
Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể.
Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang.
Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây
nghiện, chất kích thích khác.
Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy;
không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản
thân.
Bảo vệ trẻ em là bảo đảm cho trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền lợi, đồng thời
thực bổn phận ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm quyền, bổn phận của trẻ em theo
quy định của pháp luật.
Thông qua những lý luận về “chính sách công” và “bảo vệ trẻ em” tác giả đưa
ra định nghĩa về chính sách bảo vệ trẻ em như sau: “Chính sách bảo vệ trẻ em là tập
hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ
chính sách để giải quyết vấn đề bảo vệ trẻ em theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.
1.1.3. Khái niệm chính sách bảo trợ trẻ em đối với dân tộc thiểu số
"Dân tộc thiểu số" là khái niệm thuộc phạm trù "người thiểu số"- một trong
những nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp
lý quốc tế cũng như trong công tác nghiên cứu. Một nhóm người cùng sinh sống trên
một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc,
tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống
nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và
hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×