Tải bản đầy đủ

Phân tích nội dung của các quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ đặc trưng của các quyền nhân thân này (8đ)

MỤC LỤC:
A.

ĐẶT VẤN ĐỀ.........................................................................................................................................2

B.

NỘI DUNG..............................................................................................................................................2

I.

Khái quát chung.....................................................................................................................................2

1.

Khái niệm về quyền nhân thân.............................................................................................................2

1.1.

Định nghĩa...........................................................................................................................................3


1.2.

Đặc điểm..............................................................................................................................................3

2.

Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ....................................................................3

II.
Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ và đặc trưng của các quyền nhân
thân này...........................................................................................................................................................4
1.

Các quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.............................................................4

1.1.

Quyền nhân thân đối với tác phẩm..................................................................................................4

1.2.

Quyền nhân thân của quyền liên quan đến quyền tác giả.............................................................8

1.3.

Quyền nhân thân của tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp........................................................9

1.4.

Quyền nhân thân của tác giả giống cây trồng..............................................................................10

2.

Đặc trưng của quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.........................................10

III.
Thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến các quy định về quyền nhân thân liên quan đến
sở hữu trí tuệ và giải pháp hoàn thiện......................................................................................................12
1.


Thực trạng.............................................................................................................................................12

2.

Giải pháp hoàn thiện............................................................................................................................13

C.

KẾT LUẬN...........................................................................................................................................13

Bảng chữ viết tắt:
- BLDS 2005: Bộ luật Dân sự năm 2005
- LSHTT: Luật Sở hữu trí tuệ


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền
sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng là những quyền thuộc lĩnh
vực sở hữu trí tuệ. Tác giả các đối tượng này đồng thời hay không đồng thời là chủ
sở hữu đều được hưởng quyền nhân thân.Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực
sở hữu trí tuệ có những đặc trưng nhất định, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này em
xin chọn đề tài số 26: “Phân tích nội dung của các quyền nhân thân liên quan đến
lĩnh vực sở hữu trí tuệ; đặc trưng của các quyền nhân thân này” cho bài tập học kỳ
của mình.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1. Khái niệm về quyền nhân thân
I.1. Định nghĩa
Quyền nhân thân (Persionality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những
quyền gắn liền với bản thân của mỗi người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi
cá nhân.
Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân là một phạm trù pháp lý bao gồm
tổng hợp các quy phạm pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị nhân thân.
Theo nghĩa chủ quan, Điều 24 BLDS quy định: “quyền nhân thân được quy
định trong bộ luật này, là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Tóm lại, quyền nhân thân là quyền dân sự do pháp luật quy định gắn liền
với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể không định giá được thành tiền không thể
chuyển giao trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, quyền nhân thân là những quyền do pháp luật quy định phụ thuộc vào
các điều kiện: kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.


Thứ hai, quyền nhân thân là quyền luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và
nguyên tắc không thể chuyển dịch cho chủ thể khác (trừ những trường hợp pháp
luật quy định khác).
Thứ ba, quyền nhân thân gắn liền với các giá trị tinh thân của chủ thể.
Thứ tư, quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản (không thể đong đếm, giá trị
được bằng tiền,...)
2. Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền
nhân thân sau:
- Quyền nhân thân đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của
chủ thể đối với tác phẩm.
- Quyền nhân thân của quyền liên quan đến quyền tác giả: đối với quyền này
thì chỉ dành cho người biểu diễn.
- Quyền nhân thân của tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp là quyền nhân
thân tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn.
- Quyền nhân thân của tác giả giống cây trồng là quyền dành cho người đã
chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng.
II. Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ và đặc trưng
của các quyền nhân thân này
1. Các quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ
1.1. Quyền nhân thân đối với tác phẩm
Như định nghĩa nêu ở phần trên,quyền nhân thân đối với tác phẩm là quyền
mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm. Quyền nhân thân về bản chất
là các quyền luôn gắn liền với chủ thể nhất định mà không thể chuyển dịch được.
Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả
bao gồm: “1. Đặt tên cho tác phẩm; 2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm,
được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 3. Công bố


tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; 4. Bảo vệ sự toàn vẹn của
tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm”.
Tuy nhiên, trong những quyền nhân thân được liệt kê tại Điều 19 Luật Sở hữu
trí tuệ, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là
quyền luôn gắn liền với quyền tài sản, đó là quyền có thể chuyển giao được cho
người khác, được bảo hộ có thời hạn.
Nội dung cụ thể của từng quyền trong quyền nhân thân như sau:
- Quyền đặt tên cho tác phẩm
Tác giả có thể sử dụng tên gọi của tác phẩm để khái quát phần nào chủ đề tác
phẩm. Bên cạnh đó, tên tác phẩm thường phản ánh nội dung, ý tưởng của tác giả
trong tác phẩm, giúp công chúng có thể tiếp cận dễ dàng hơn với ý đồ của tác giả.
Việc đặt tên cho tác phẩm không những nhằm cá biệt hóa tác phẩm mà còn thể
hiện dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo của tác giả.Tên tác phẩm còn là cơ sở để
người đọc hình thành sơ bộ nội dung tư tưởng của tác phẩm ngay từ khi vừa biết
đến tác phẩm.
Tuy nhiên, việc đặt tên cho tác phẩm không có ý nghĩa pháp lý đối với việc
bảo hộ quyền tác giả vì tác phẩm có thể được bảo hộ thậm chí khi nó là tác phẩm
vô đề. quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân chỉ thuộc về tác giả của tác
phẩm, kể cả khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm theo những nhiệm vụ được giao hay
theo hợp đồng thì quyền đặt tên vẫn thuộc về tác giả, quyền đặt tên không áp dụng
trong trường hợp tác giả dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Điều
22 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quyền nhân thân được quy định: “1. Quyền đặt
tên cho tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ không áp dụng
đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác”.
Như vậy, quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân luôn gắn liền với tác
giả và không thể chuyển dịch sang cho người khác.
- Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm


Quyền đứng tên tác giả được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 738 BLDS và
quy định tại khoản 2 Điều 19 LHSTT như sau: “ đứng tên thật hoặc bút danh trên
tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng”.
Tác phẩm là kết quả hoạt động sáng tạo của tác giả, vì thế việc ghi tên trên tác
phẩm được công bố có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả. Kể cả trong trường
hợp tác giả không để tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm đã được công bố (tác
phẩm khuyết danh) thì quyền này vẫn thuộc về tác giả và tác giả có thể chứng
minh tư cách chủ thể của mình bất cứ thời điểm nào. Tác giả cũng có quyền yêu
cầu được nêu tên hoặc bút danh khi tác phẩm được sử dụng dưới các hình thức
khách nhau như: biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát thanh, truyền hình,... cho nên,
bất kỳ khi nào tác phẩm được công bố, sử dụng, tổ chức, cá nhân sử dụng phải nêu
tên thật hoặc bút danh của tác giả.
- Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác
phẩm(Khoản 3 Điều 19 LSHTT).
Công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng
bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy thuộc vào bản chất của tác
phẩm.
Đây là quyền rất quan trọng bởi hai lý do:
(i)Công bố tác phẩm làm thay đổi chế độ pháp lý đối với tác phẩm vì chế độ
pháp lý đối với tác phẩm chưa công bố và tác phẩm đã công bố là khác nhau.
Nhiều trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố thì không phải xin phép, không
phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Ví dụ như: tự sao chép một bản nhằm mục đích
nghiên cứu khoa học giảng dạy của cá nhân (Điều 25 LSHTT); nhưng nếu tác
phẩm đó chưa được công bố thì vẫn phải xin phép và trả tiền nhuận bút, tiền thù
lao.
(ii) Quyền công bố tác phẩm là tiền đề quan trọng để chủ sở hữu thực hiện
được các quyền tài sản đối với tác phẩm. Quyền công bố tác phẩm có thể thuộc về
tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc thuộc về chủ sở hữu quyền tác
giả trong trường hợp họ không đồng thời là tác giả.


Tác phẩm được coi là đã công bố nếu đáp ứng hai điều kiện: (i) tác phẩm phải
được phát hành đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp
lý của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm; (ii) việc công bố tác phẩm phải
do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực
hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Theo hướng dẫn tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP tại khoản 2 Điều 22 thì:
“Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định
tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công
chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ
theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc
do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả.
Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu,
điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác
phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ
tác phẩm kiến trúc”.
Theo đó, quyền công bố không phải chỉ thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả mà
còn có thể chuyển giao theo thỏa thuận của chủ sở hữu quyền tác giả.
Ngoài ra, theo quy định của LSHTT, quyền công bố là cơ sở quan trọng để
chủ thể thực hiện quyền sao chép và phân phối tác phẩm.
- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, không cho người khác sửa chữa,
cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại
đến danh dự và uy tín của tác giả.
Tác phẩm là kết quả lao động sáng tạo của tác giả và là một thể thống nhất
thể hiện nội dung, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của tác giả. Do đó, việc sửa chữa, cắt
xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung
cũng như nghệ thuật của tác phẩm, làm sai lệch, thâm trí bóp méo tư tưởng, chủ đề
mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của họ.


Ngoài ra hướng dẫn tại Nghị định 100/2006/ NĐ-CP tại khoản 3 Điều 22 thì
“Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén
tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc không cho
người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả”.
Vì thế, chỉ có tác giả là có quyền thay đổi nội dung của tác phẩm, kể cả trong
trường hợp việc thay đổi nhằm làm tăng giá trị nghệ thuật, giá trị thực tiễn của tác
phẩm, trừ trường hợp được tác giả cho phép. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số
ngoại lệ của quyền này:
(i)Trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm vì mục đích giảng dạy, nghiên cứu
không bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
(ii) Trường hợp sau khi tác phẩm được công bố, những người khác làm tác
phẩm phái sinh, có những thay đổi, sáng tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện
hay truyền đạt so với tác phẩm ban đầu cũng không bị coi là xâm phạm quyền bảo
vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. tuy nhiên, Luật không quy định rõ vấn đề những
ngoại lệ đối với việc bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. theo quan điểm của tác giả
thì tác phẩm phái sinh chia làm hai loại: tác phẩm dịch thuật, tác phẩm tuyển chọn
thì không được xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, nhưng đối với
tác phẩm chuyển thể, tác phẩm cải biên nếu có sự sáng tạo nhất định thì được công
nhận là không vi phạm quyền này.
1.2. Quyền nhân thân của quyền liên quan đến quyền tác giả
Khoản 2 Điều 29 LSHTT quy định về quyền nhân thân của người biểu diễn.
Theo đó nội dung của quyền này như sau:
- Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát
sóng cuộc biểu diễn.
Danh tiếng của người biểu diễn, tức là danh tiếng của một ca sỹ, diễn viên,
nhạc công, vũ công và các nghệ sĩ khác chỉ được công chúng biết đến khi tên của
họ được giới thiệu thông qua các cuộc biểu diễn. Việc giới thiệu tên khi biểu diễn,
khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn còn nhằm cá biệt hóa
hình tượng biểu diễn của người biểu diễn.


- Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa,
cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và
uy tín của người biểu diễn.
Trước hết, chúng ta có thể hiểu hình tượng biểu diễn là khái niệm trìu tượng
và có nội hàm khá rộng được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau như phong cách
biểu diễn, âm giọng, thái độ, cử chỉ,... Sự sáng tạo riêng phong cách biểu diễn của
mỗi người tạo nên hình tượng biểu diễn và gắn liền với tên tuổi của họ.
Chính vì vậy, người biểu diễn phải được bảo hộ về hình tượng biểu diễn nhằm
tránh người khác lợi dụng, xuyên tạc làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín cũng như
làm cho công chúng hiểu sai lệch về hình tượng biểu diễn của người biểu diễn.
Như vậy, quyền nhân thân của người biểu diễn là quyền nhân thân luôn gắn
liền với người biểu diễn, không thể chuyển giao cho người khác.
1.3. Quyền nhân thân của tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp
Quyền tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp là quyền tác giả của sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
Quyền nhân thân mà pháp luật ghi nhận cho tác giả đối tượng sở hữu công
nghiệp là quyền được ghi tên, họ tên dưới danh nghĩa được quy định cụ thể tại
Khoản 2 Điều 122 LSHTTnhư sau:
- Được ghi tên tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải
pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
- Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.
Tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp gồm hai loại: tác giả đồng thời là chủ
sở hữu văn bằng bảo hộ (tác giả đã tạo ra đối tượng đó bằng sự sáng tạo, công sức
lao động cũng như kinh phí riêng của mình); tác giả không đồng thời là chủ sở hữu
văn bằng hữu bảo hộ (tác giả đã tạo ra đối tượng đó bằng sự sáng tạo và công sức


của mình nhưng lại sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất của người khác thông qua hợp
đồng lao động, hợp đồng thuê nghiên cứu với chủ sở hữu văn bằng hay tác giả đã
chuyển giao quyền sở hữu đối tượng đó cho người khác thông qua hợp đồng
chuyển nhượng được kí kết với người khác).
Trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ thì việc ghi tên
trong các trường hợp trên cũng là quan trọng nhưng trong trường hợp tác giả không
đồng thời là chủ sở hữu thì việc ghi họ tên tác giả lại càng quan trọng hơn. Bởi vì
tác giả là người đã bỏ công sức, trí tuệ tưởng tưởng để sáng tạo ra một đối tượng sở
hữu công nghiệp. Tuy nhiên khi đối tượng sở hữu công nghiệp được công bố ra
công chúng, nhận được sự ngưỡng mộ, tán thành của mọi người mà tác giả lại
không được họ biết đến do không ghi tên tác giả. Điều này sẽ ảnh hưởng đến danh
dự của người sáng tạo và sẽ không có được sự khích lệ động viên để tiếp tục lao
động sáng tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp mới. Như vậy, ngay cả khi đối
tượng sở hữu công nghiệp mà tác giả sáng tạo ra đã chuyển quyền sở hữu cho
người khác nhưng việc ghi tên họ dưới danh nghĩa là tác giả của các đối tượng đó
cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
1.4. Quyền nhân thân của tác giả giống cây trồng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 185 LSHTT thì tác giả giống cây có
quyền nhân thân: “được ghi tên với danh nghĩa là tác giả trong Bằng bảo hộ
giống cây trồng, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ và trong các
tài liệu công bố về giống cây trồng”.
Cũng như quyền nhân thân của tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp, pháp
luật ghi nhận quyền được ghi tên của tác giả giống cây trồng nhằm tạo ra danh
tiếng cho tác giả và tạo sự khích lệ động viên để tiếp tục lao động sáng tạo ra các
đối tượng sở hữu công nghiệp mới. Như vậy, ngay cả khi giống cây trồng mà tác
giả chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng đã chuyển quyền sở hữu
cho người khác nhưng việc ghi tên họ dưới danh nghĩa là tác giả giống cây trồng
cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.


2. Đặc trưng của quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Hầu hết các quyền nhân thân đều là quyền luôn gắn liền với giá trị tinh thần
của chủ thể, không tính được bằng tiền và không thể chuyền giao cho người khác.
Tuy nhiên, riêng với quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ có
quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố (quy định tại khoản 3 Điều 19
LSHTT) là quyền nhân thân mà có thể chuyển giao. Và đây chính là đặc trưng của
quyền nhân thân này.
Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm của tác giả đã
được phân tích rõ ở phần I.1. Theo đó, quyền công bố hoặc cho phép người khác
công bố tác phẩm của tác giả không gắn liền với tác giả nên có thể được chuyển
giao khi đảm bảo các điều kiện do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1
Điều 742 về chuyển giao quyền tác giả. Ví dụ: một bài hát của ca sĩ được giao cho
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình thực hiện việc phát hành đến công chúng thì nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình chính là người công bố tác phẩm.
Khác với các quyền nhân thân gắn liền với tác giả không thể chuyển dịch
được pháp luật bảo hộ vô thời hạn, thì quyền công bố hoặc cho phép người khác
công bố tác phẩm của tác giả được bảo hộ có thời hạn. Theo khoản 2 Điều 27
LSHTT thì quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố có thời hạn bảo hộ
như sau:
- Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm
khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công
bố lần đầu tiên. Trong thời hạn năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm điện ảnh, tác
phẩm sân khấu được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được
tính từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông
tin về tác giả được xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b
khoản này;
- Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn
bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong
trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ
năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.


Và thời hạn bảo hộ này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của
năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
Tóm lại, quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố chính là đặc trưng
của quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Vì quyền này không gắn
liền với tác giả, có thể chuyển dịch được cho người khác... nên được pháp luật sở
hữu trí tuệ quy định rất chặt chẽ về các vấn đề liên quan đến quyền này. Ví
III. Thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến các quy định về quyền
nhân thân liên quan đến sở hữu trí tuệ và giải pháp hoàn thiện
1. Thực trạng
Thứ nhất, quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 LSHTT còn vướng
mắc.
Theo quy định của pháp luật, quyền nhân thân của tác giả bao gồm: quyền nhân
thân không thể chuyển giao và quyền nhân thân có thể chuyển giao(quy định tại
khoản 3 Điều 19 LSHTT). Trong đó, quyền nhân thân không được chuyển giao
được pháp luật bảo hộ vô thời hạn và tồn tại vĩnh viễn cùng với tác phẩm.
Trong các quyền nhân thân không thể chuyển giao thì “quyền bảo vệ sự toàn
vẹn tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm
dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” được
coi là quan trọng nhất và trong thực tiễn số đông hay bị xâm phạm nhất.
Cụm từ “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” có thể làm cho
Điều 19 khoản 4 được hiểu là: nếu một người thực hiện hành vi sửa chữa, cắt xén
hoặc xuyên tạc tác phẩm của người khác, nhưng lại chứng minh được là hành vi đó
không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả hoặc chứng minh là hành
vi đó đã làm cho tác phẩm “hay” lên thì không vi phạm điều 19 khoản 4.
Điều 22.3 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết“Quyền bảo vệ sự
toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy
định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa
chữa, cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả”.


Quy định như Nghị định 100/2006/NĐ-CP vừa nêu là để tránh cách hiểu
không thống nhất như trên, tạo ra cách hiểu chung nhất.
Tuy nhiên, những người soạn thảo Nghị định 100/2006/NĐ-CP đã tùy tiện cắt
xén cụm từ “xuyên tạc” trong Điều 19.4. Chính điều này đã gây khó khăn trong
việc giải quyết trường hợp nếu tác giả qua đời thì người sử dụng tác phẩm sẽ “thỏa
thuận” với ai. Bởi lẽ không thể thỏa thuận với người thừa kế quyền tài sản đối với
tác phẩm vì theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân quy định tại Điều 19.4
là không thể chuyển giao.
Đặc biệt là Điều 738.1d BLDS 2005 chỉ quy định quyền nhân thân: “bảo vệ sự
toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác
phẩm”.
Thứ hai,về quy định “các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa
vụ liên quan khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền nhân thân quy định tại
khoản 1,2 và 4 Điều 19 của LSHTT đối với các tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo
hộ thì có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm,
xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại” (Điều 30.2 Nghị định
100/2006/NĐ-CP). Một phần của quy định này không có khả năng thực thi. Bởi lẽ:
- Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tài sản, do đó cụm từ “bồi
thường thiệt hại” chắc chắn không phải là bồi thường về vật chất.
- Nếu bồi thường về uy tín và danh dự của tác giả thì tổ chức, cá nhân nào là
chủ thể nhận bồi thường? Hơn nữa, hành vi này chỉ xâm phạm các quyền nhân
thân không thể chuyển giao được quy định tại khoản 1,2 và 4 Điều 19 LSHTT (mà
các quyền này lại là vĩnh viễn thuộc về tác giả - là người đã chết).
2. Giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, sửa đổi quyền nhân thân không thể chuyển giao tại Điều 19.4
LSHTT cũng như Điều 738.1d BLDS 2005 đã quy định.
Thứ hai, để cho chặt chẽ có nên bỏ cụm từ “bồi thường thiệt hại” trong quy
định tại Điều 30.2 NĐ100. Việc phân tích một số bất cập như vừa trên là việc làm
rất khó, bởi vậy rất cần sự thảo luận của các nhà khoa học...


C. KẾT LUẬN
Trên đây là bài tiểu luận của em trình bày về quyền nhân thân liên quan đến
lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Do kiến thức còn hạn chế, tài liệu thu thập còn ít nên bài
viết còn nhiều thiếu sót. Mong quý thầy cô góp ý cho em nhằm bài viết được hoàn
thiện hơn.
***TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.
2.

Tài liệu: Nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệViệt Nam,
khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Lam, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×