Tải bản đầy đủ

Anh (chị) hãy lập các bước tư vấn cụ thể cho gia đình chị k để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình 2 nêu các kỹ năng cơ bản trong việc ngh

Đề bài 11:
Ông K có một người con gái duy nhất là H. Vợ ông đã mất từ năm 2004, con
gái ông đã lấy chồng và cả 2 vợ chồng đều ở cùng ông. Năm 2008 ông K mất, có
để lại di chúc cho vợ chồng chị H căn nhà quyền sử dụng 2ha đất nông nghiệp để
trồng cây hang năm ở ngay phía sau ngôi nhà (khi ông còn sống, con gái vẫn giúp
cha trồng cây trên mảnh đất đó và đến khi ông mất con gái ông vẫn tiếp tục sử
dụng đất đó). Nhưng theo quy hoạch, thời gian tới, tỉnh chủ trương mở khu công
nghiệp tại đây, vì vậy căn nhà và 2ha đất sẽ bị thu hồi. Theo thông báo của
UBND xã thì vợ chồng chị H sẽ chỉ được bồi thường phần đất có ngôi nhà; còn
2ha đất nông nghiệp thì không được bồi thường, do thời gian còn sống, ông K
chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai, mặt khác vợ chồng chị K
không được thừa kế 2ha đất nông nghiệp vì chồng chị K là cán bộ nhà nước. Hỏi:
1.

Anh (Chị) hãy lập các bước tư vấn cụ thể cho gia đình chị K để bảo

vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2.
Nêu các kỹ năng cơ bản trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ việc này?

MỞ ĐẦU

Cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì đất đai
cũng theo đó mà phát sinh rất nhiều bất cập, đó là các vấn đề về quy hoạch và sử
1


dụng đất. Các qui định pháp luật về đất đai còn bất cập, chưa rõ ràng nên đã dẫn
tới tình trạng người dân khiếu nại, khiếu kiện ngày một nhiều. Đồng thời kéo
theo đó là nhu cầu về giải đáp pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp lí ngày càng
tăng khiến cho hoạt động tư vấn pháp luật cũng ngày càng trở nên quan trọng và
cần thiết. Vậy để có thể tư vấn pháp luật một cách hiệu quả nhất thì người tư vấn
cần có những kỹ năng gì, và vận dụng nó như thế nào? Để rõ hơn về vấn đề này,
chúng ta sẽ tìm hiểu thông qua việc giải quyết tình huống trên.

NỘI DUNG
I. Khái quát chung về tư vấn pháp luật về đất đai.
1. Khái niệm.
Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp
luật. Tuy nhiên, từ góc độ lí luận và thực tiễn thì tư vấn pháp luật được hiểu là
việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử
sự đúng pháp luật; cung cấp các dịch vụ pháp lí giúp cho các cá nhân, tổ chức
thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của
một điều luật, một văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những qui định
pháp luật có liên quan mà còn là việc sử dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm
của các chuyên gia pháp luật. Như vậy, người thực hiện tư vấn phải sử dụng lao
động trí óc của mình để đưa ra một lời khuyên giúp khác hàng có một hướng giải
quyết đúng đắn.

2. Kỹ năng tư vấn pháp luật về đất đai.
Kĩ năng tư vấn pháp luật là năng lực, khả năng, kinh nghiệm của người tư
vấn trong việc vận dụng pháp luật để giải đáp, hướng dẫn, cung cấp các dịch vụ
2


pháp lí cho khách hàng dựa trên hoạt động nghề nghiệp của mình để trả lời các
yêu cầu của khách hàng.
Đây là kĩ năng được hình thành qua việc tích lũy kinh nghiệm của chuyên gia
am hiểu pháp luật qua hoạt động mang tính chất nghề nghiệp. Kĩ năng này được
thể hiện ra bên ngoài bằng tập hợp các thao tác, hành động để xây dựng quan hệ
và tìm hiểu cung cấp thông tin. Kết quả của sự vận dụng kĩ năng tư vấn hướng


vào việc để khách hàng tự quyết định phương thức để giải quyết vấn đề hiệu quả.
Tiếp xúc khách hàng, tìm hiểu yêu cầu tư vấn, thu thập, đánh giá chứng cứ là
một số những kĩ năng tư vấn pháp luật. Việc tiếp xúc khách hàng là công đoạn có
ý nghĩa rất quan trọng, nó định hướng cho toàn bộ hoạt động tư vấn pháp luật. Sự
thành công hay thất bại của hoạt động tư vấn do công đoạn này quyết định. Bởi
lẽ, nếu không nắm được yêu cầu của khách hàng và nội dung vụ việc thì nhà tư
vấn không thể tiến hành hoạt động tư vấn và không thu được phí từ khách hàng.
Tiếp xúc khách hàng gồm 6 bước sau:
- Bước 1: Người tư vấn tìm hiểu yêu cầu cụ thể của khách hàng;
- Bước 2: Người tư vấn xác định các vấn đề pháp lí phát sinh từ yêu cầu cụ
thể của khách hàng;
- Bước 3: Tìm, lựa chọn các quan điểm pháp lí và tiền lệ có liên quan trực
tiếp tới các vấn đề pháp lí liên quan tới yêu cầu của khách hàng;
- Bước 4: Người tư vấn áp dụng các qui định của pháp luật và tiền lệ phụ
hợp vào việc phân tích và giải quyết các vấn đề pháp lí liên quan yêu cầu của
khách hàng;
- Bước 5: Người tư vấn thu thập thêm các thông tin cần thiết cho việc phân
tích các vấn đề pháp lí đó và hoàn thiện việc nghiên cứu, phân tích các vấn đề
pháp lí;
- Bước 6: Người tư vấn trình bày với khách hàng kết quả việc nghiên cứu và
phân tích một cách có hệ thống.
3


Để thực hiện 6 bước này, chuyên gia tư vấn pháp luật phải sử dụng 3 kĩ
năng:
-

Kĩ năng nghe;

-

Kĩ năng nói;

-

Kĩ năng đặt câu hỏi.

II. Giải quyết tình huống.
1.

Anh (Chị) hãy lập các bước tư vấn cụ thể cho gia đình chị K để bảo

vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Bước tiếp xúc khách hàng:
Trước khi tiếp nhận các yêu cầu tư vấn từ phía khách hàng, luật sư hay
chuyên gia tư vấn phải trải qua thời gian tiếp xúc ban đầu với khách hàng. Thời
gian này tuy không dài nhưng rất quan trọng trong việc gây ấn tượng và tạo lòng
tin từ phía khách hàng. Từ đó tạo tâm lý cởi mở, thoải mái của khách hàng khi
trình bày diễn biến vụ việc cũng như trả lời các câu hỏi của chuyên gia tư vấn.
Đây là bước đệm để việc tiến hành hoạt động tư vấn diễn ra tốt đẹp, hiệu quả. Để
tạo sự tin tưởng, ấn tượng tốt với khách hàng thì luật sư hay chuyên gia tư vấn
cần vận dụng tốt các kỹ năng như kỹ năng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng phi ngôn
ngữ,…

Bước tư vấn khách hàng:
Thứ nhất, phân tích, giải thích cho khách hàng biết về việc thu hồi đất và
bồi thường như trên là trái pháp luật.
Sau khi tiếp xúc khách hàng, khi đã tạo được không khí cởi mở, thoải mái thì
đi tới lắng nghe phía khách hàng (cụ thể ở đây là chị H) trình bày diễn biến, nội
dung vụ việc. Trong quá trình nghe chị H trình bày nội dung vụ việc, chuyên gia
tư vấn có thể kết hợp với việc trao đổi để khai thác, làm rõ thông tin, tình tiết của
vụ việc. Với việc vận dụng các kỹ năng như kỹ năng nghe, nói, ghi chép, đặt câu
hỏi, đọc hồ sơ, người tư vấn có thể rút ra được những điểm quan trọng trong vụ

4


việc để từ đó phân tích cho chị H biết rằng quyền lợi của chị bi xâm phạm, việc
thông báo bồi thường như trên của UBND xã là trái pháp luật. Cụ thể:
 Khẳng định: Việc thông báo bồi thường như trên của UBND xã là sai.
 Giải thích: Việc thông báo của UBND xã được đề cập đến ở đây là vợ
chồng chị H sẽ chỉ được bồi thường phần đất có ngôi nhà, còn 2ha đất nông
nghiệp thì không được bồi thường, do thời gian còn sống, ông K chưa thực hiện
xong nghĩa vụ tài chính về đất đai, mặt khác vợ chồng chị H không được thừa kế
2ha đất nông nghiệp vì chồng chị K là cán bộ nhà nước là không phù hợp với quy
định của pháp luật. Vì:
 Thứ nhất:Trường hợp trên được hiểu là vợ chồng chị H được thừa kế hợp
pháp căn nhà của ông K để lại, tuy nhiên họ phải có giấy tờ hợp pháp chứng minh
đây là tài sản thừa kế ( theo quy định của pháp luật phải có bản di chúc có chứng
nhận của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn
đối với quyền sử dụng đất và căn nhà). Mặt khác căn nhà và quyền sử dụng mảnh
đất đó phải được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp thì
vợ chồng chị H được bồi thường toàn bộ( chứ không phải là một phần) đối với
căn nhà khi bị Nhà nước thu hồi.
Đối với 2ha đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, trước đây, theo Bộ luật Dân
sự cũ (năm 1995) có quy định người thừa kế đất nông nghiệp phải có điều kiện
như: có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích;
chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về
đất đai. Hiện nay, Bộ Luật dân sự mới (năm 2005) đã xoá bỏ những quy định này
và đất nông nghiệp cũng được coi là tài sản thừa kế như các loại tài sản khác.
Như vậy theo quy định trên thì vợ chồng chị H không thể bị tước quyền thừa kế
đối với quyền sử dụng 2ha đất trồng cây hàng năm.

5


 Vợ chồng chị H hoàn toàn được quyền hưởng thừa kế là căn nhà và quyền
sử dụng 2ha đất nông nghiệp mà ông K để lại theo di chúc, không vì lí do chồng
chị H là cán bộ nhà nước.
 Thứ 2: Theo quy định tại khoản 1, Điều 42- Bồi thường, tái định cư
cho người có đất bị thu hồi:
“1.Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật này thì người bị thu
hồi đất được bồi thường, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6,
7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của Luật
này”
Như vậy, phần đất có ngôi nhà và 2ha đất nông nghiệp mà vợ chồng chị H
được hưởng thừa kế khi bị Tỉnh thu hồi để mở khu công nghiệp không thuộc
những trường hợp không được bồi thường. Mà sẽ được bồi thường theo quy định
tại khoản 2 điều 42 Luật đất đai 2003:
“2. Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới
có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.”

 Thứ 3: Đôí với việc ông K chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Theo quy định của pháp luật thì khoản 5, điều 42, Luật đất đai năm 2003 đã quy
định:
“Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất
mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì
phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi
thường, hỗ trợ.”

6


Tại khoản 3, điều 6 của nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của
Chính phủ cũng quy định “Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với
nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện
nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà
nước” hay nếu việc thu hồi đất xảy ra sau ngày 01/10/2009 thì áp dụng khoản 3,
điều 14 nghị định của Chính phủ số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ
sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư. “Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định
của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số
tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.” ( kể từ ngày
01/10/2009)
Như vậy theo quy định này thì nghĩa vụ tài chính mà khi còn sống bố của chị
H (ông K) chưa thực hiện xong, khi mà được Nhà nước bồi thường do thu hồi đất
sẽ bị trừ đi trong giá trị được bồi thường. Như vậy, 2ha đất nông nghiệp vợ chồng
chị H sẽ vẫn được nhận bồi thường, chỉ bị trừ đi phần nghĩa vụ tài chính về đất
đai mà khi sống ông K chưa thực hiện.
Vậy: việc bồi thường thu hồi đất như trên là trái pháp luật.
Thứ hai, phân tích, tư vấn cho chị H về việc khiếu nại về sai phạm trên.
Sau khi đã căn cứ vào các quy định của pháp luật để phân tích, giải thích cho
chị H việc thu hồi, bồi thường như trên là không có căn cứ pháp luật thì người tư
vấn đi đến tư vấn cho chị H về việc khiếu nại sai phạm đó. Cụ thể:
Theo khoản 6, Điều 105 Luật đất đai 2003 có quy định về quyền của người
sử dụng đất “6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử
dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất
7


đai.” Và trong khoản 1 Điều 138 Luật đất đai 2003 có quy định “1. Người sử
dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về
quản lý đất đai.”
Đồng thời theo điểm a Khoản 2 Điều 138 Luật đất đai 2003 thì:
“a) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản
lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì
có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại
đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết
định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là
quyết định giải quyết cuối cùng;”


Như vậyđể được hưởng quyền lợi hợp pháp của mình, căn cứ vào

những quy định của pháp luật thì: vợ chồng chị H sẽ gửi đơn khiếu nại gửi đến
chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện.
2.
Nêu các kỹ năng cơ bản trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ việc này?
Để kết luận được chính sách thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho việc xây
dựng các khu công nghiệp hiện nay mà các địa phương đang thực hiện đã hợp lý
hay chưa thì trước hết ta cần vận dụng linh hoạt, có hiệu quả các kỹ năng trong
việc nghiên cứu hồ sơ vụ việc đất đại. Cụ thể:
 Kỹ năng nghe: Kỹ năng này được sử dụng trong giai đoạn gặp gỡ, tiếp
xúc khách hàng để tìm hiểu nội dung vụ việc. Trong quá trình nghe khách hàng
trình bày nội dung vụ việc, tư vấn viên, luật sư tư vấn cần nghe và khai thác các
thông tin để trả lời các câu hỏi sau đây:
- Khách hàng có thuộc đối tượng được Nhà nước bồi thường về đất và bồi
thường thiệt hại về tài sản trên đất hay họ chỉ thuộc đối tượng được bồi thường về
tài trên đất.

8


- Khách hàng có đủ điều kiện để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
hay không?
- Thời điểm Nhà nước thu hồi đất của khách hàng xảy ra khi nào?
- Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, khách
hàng có được thông báo về thời gian, lí do thu hồi và phương án tổng thể về bồi
thường giải phóng mặt bằng hay không?
- Đất mà khách hàng đang sử dụng bị Nhà nước thu hồi thuộc nhóm đất nào?
 Kỹ năng nói: Kỹ năng này được sử dụng khi giao tiếp nhằm tìm hiểu
thông tin vụ việc và yêu cầu tư vấn của khách hàng. Nó được sử dụng ở giai đonạ
hướng dẫn trả lời yêu cầu tư vấn bằng lời nói về các yêu cầu của khách hàng.
 Kỹ năng đọc, nghiên cứu hồ sơ vụ việc về thu hồi đất.
- Kỹ năng đọc lướt: Khi đọc hồ sơ vụ việc về thu hồi đất, luật sư tư vấn trước
tiên phải sử dụng kỹ năng đọc lướt để nắm được những nội dung chính của vụ
việc và trả lời được các câu hỏi sau:
+ Tên, tuổi, địa chỉ của khách hàng;
+ Diện tích đất bị thu hồi, vị trí khu đất bị thu hồi;
+ Thời gian thu hồi, mục đích thu hồi;
+ Cơ quan ra quyết định thu hồi đất;
+ Việc thu hồi đất của khách hàng có được bồi thường hỗ trợ tái định cư hay
không? Phạm vi bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Kỹ năng đọc kỹ: Sau khi đọc lướt để nắm được khái quát nội dung chính
của vụ việc thu hồi đất, luật sư tư vấn nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc bằng cách đọc
kỹ, đối chiếu, so sánh giữa nội dung hồ sơ vụ việc với các thông tin do khách
hàng cung cấp để nhằm đánh giá, thẩm tra tính chính xác giữa hồ sơ vụ việc với
thông tin của khách hàng. Trong quá trình đọc kỹ, luật sư tư vấn còn thực hiện
việc so sánh, đối chiếu nội dung hồ sơ vụ việc với các quy định của pháp luật
hiện hành để đánh giá các chứng cứ, tình tiết nào trong hồ sơ là hợp pháp; những
chứng cứ, chi tiết nào trong hồ sơ là không hợp pháp.
9




Kỹ năng ghi chép tài liệu, chứng cứ: Việc ghi chép trong hoạt động

tư vấn là rất quan trọng. Các ghi chép cần rõ rang, khoa học để ghi lại những tình
tiết quan trọng trong hồ sơ để có đc sự chuẩn bị tốt nhất cho công việc giải thích,
tư vấn cho khách hàng.

Kỹ năng tra cứu văn bản: Kỹ năng này được hình thành qua hàng
loạt các hoạt động tác nghiệp của người thực hiện tư vấn, căn cứ vào nội dung,
tình tiết vụ việc mà tra cứu các văn bản pháp luật liên quan
KẾT LUẬN
Nhiều năm qua, hầu như địa phương nào trong cả nước cũng đều xảy ra khiếu
kiện có liên quan đến tranh chấp đất đai. Từ thực trạng đó, việc xét xử các vụ án
tranh chấp đất đai cũng tỏ ra phức tạp và để lại nhiều hệ luỵ gây bức xúc trong
nhân dân. Các dạng tranh chấp đất đai lại đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen
lẫn nhau. Điều này đối với luật sư càng khó khăn bội phần khi thực hiện bảo vệ
quyền và lợi ích cho các thân chủ trong phiên toà. Vì vậy, với các vụ án tranh
chấp đất đai, luật sư phải biết xác định trọng tâm vấn đề để vào nghiên cứu hồ sơ
vụ án để bảo vệ qyền và lợi ích của khách hàng một cách hiệu quả nhất.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×