Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

KHOA ĐỊA LÝ

TIỂU LUẬN
MÔN ĐỊA LÝ KINH TẾ- XÃ HỘI ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI : Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến
tài nguyên thiên nhiên.

Thầy giáo hướng dẫn:
TS. NGUYỄN TƯỞNG

Học viên thực hiện:
BÙI THANH SƠN
Lớp: Cao học Địa lý- Khóa XXI

Huế, tháng 12/ 2012


0
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Tưởng
đã giúp đỡ em rất nhiệt tình trong quá trình học tập cũng
như khi thực hiện đề tài tiểu luận “ Nghiên cứu sức ép
của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên”.
Bài tiểu luận không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế,
Qua nhiều năm công tác chuyên môn chủ yếu giảng dạy ở
trường phổ thông, công tác nghiên cứu khoa học còn nhiều
hạn chế. Em kính mong thầy giáo góp ý để bài được hoàn
thiện hơn và để em có thêm nhiều kinh nghiệm cho nghiên
cứu khoa học.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn
Tưởng và kính chúc thầy luôn khỏe mạnh, tiếp tục cống
hiến cho sự nghiệp trồng người.
Häc viªn thùc
hiÖn

Bùi Thanh Sơn

1
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN : ..................................................................................... Trang 1
PHẦN A: MỞ ĐẦU. …………………………………………………..Trang 3
PHẦN B: NỘI DUNG ...........................................................................Trang 4
I. KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ ………...Trang 4
I.1.Dân số và sự gia tăng dân số………………………………………..Trang 4
I.2 Tài nguyên thiên nhiên:……………………………………………..Trang 7
II. SỨC ÉP CỦA GIA TĂNG DÂN SỐ NHANH ĐẾN TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN…………………………………………………………Trang 7
II.1. Mối tương quan giữa dân số và tài nguyên………………………..Trang 7
II.1.1. Công thức chung………………………………………………...Trang 7
II.1.2. Biểu hiện cụ thể…………………………………………………Trang 8
II.1.2.a. Cạn kiệt tài nguyên đất………………………………………..Trang 8
II.1.2.b. Cạn kiệt tài nguyên nước…………………………………….Trang 10
II.1.2.a. Suy giảm tài nguyên rừng …………………………………...Trang 12
II.1.2.a. Cạn kiệt tài nguyên khoáng sản……………………………...Trang 14
III. GIẢI PHÁP……………………………………………………….Trang 16
PHẦN C: KẾT LUẬN………………………………………………..Trang 19
PHẦN D: TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………… . Trang 20

2
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

PHẦN A: MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, dân số thế giới tăng rất nhanh, đặc biệt là các
nước đang phát triển. Sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên
nhiên và môi trường Trái Đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục
vụ cho các nhu cầu của con người. Vấn đề dân số hiện nay luôn là vấn đề
không chỉ các các chuyên gia, các nhà khoa học mà ngay cả các chính phủ,
các tổ phi chính phủ đều rất quan tâm. Tại sao mọi nơi, mọi lúc mọi người lại
quan tâm đến vấn đề dân số như vậy. Nếu ngay bây giờ thế giới không hành
động để bảo vệ môi trường thì nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường,
trong tương lai chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơ bất ổn, xung đột và tình trạng
di dân ồ ạt ở nhiều vùng trên thế giới. Thực trạng khai thác tài nguyên hiện
nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều trong tình trạng qua mức, dẫn đến
tài nguyên bị cạn kiệt nghiêm trọng, mà hệ quả đi kèm đó là mất cân bằng
sinh thái…đe dọa sự tồn tại và phát triển của con người. Đứng trước thực
trạng đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số
nhanh đến tài nguyên thiên nhiên” để nghiên cứu, nhằm nêu rõ sức ép của dân
số tới tài nguyên đồng thời đưa ra một số giải pháp làm giảm sức ép của dân
số tới tài nguyên.

3
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

PHẦN B: NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ.
I.1.Dân số và sự gia tăng dân số.
Để hiểu rõ về vấn đề dân số và sự gia tăng dân số, chúng ta cần quan tâm
đến những tiêu chí sau:
I.1.1. Gia tăng tự nhiên.
Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hoặc giảm đi) là do hai nhân
tố chủ yếu quyết định: sinh đẻ và tử vong.
a. Tỉ suất sinh thô.
Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so
với số dân trung bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰). Đây là
thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh.

Trong đó: S: tỉ suất sinh thô.
s: số trẻ em sinh ra trong năm.
Dtb: dân số trung bình.
b. Tỉ suất tử thô
Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung
bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰).

Trong đó: T: tỉ suất tử thô.
t: tổng số người chết trong năm.
Dtb: dân số trung bình.
c. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất
sinh thô và tỉ suất tử thô, đơn vị tính là phần trăm (%)

4
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Trong đó:

Tg: tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên.
S: tỉ suất sinh thô.
T: tỉ suất tử thô.

Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình biến
động dân số và được coi là động lực phát triển dân số.
Sự gia tăng dân số quá nhanh và sự phát triển dân số không hợp lí ở các
nước đang phát triển đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với
kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường.
I.1.2. Gia tăng cơ học.
Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư (những người rời khỏi nơi
cư trú) và nhập cư (những người đến nơi cư trú mới). Sự chênh lệch giữa số
người xuất cư và số người nhập cư được gọi là hiện tượng gia tăng cơ học.
I.1.3 Tình hình gia tăng dân số trên thế giới
Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu
người, với tỉ lệ gia tăng là 1,7%. Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình
độ phát triển của các nước. Các nước công nghiệp phát triển, tức là các nước
giàu thì tỉ lệ này là 0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là 2,1%/năm.

Biểu đồ 1: Sự gia tăng dân số thế giới giai đoạn 1804 đến 2011
Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990
(2,5 tỉ người). Khi ở các nước phát triển, dân số đô thị chỉ tăng gấp 2 lần thì
5
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

các nước đang phát triển tăng lên 5 lần trong cùng thời gian. Bước vào thế kỉ
XXI, dân số thế giới đã vượt quá 6 tỉ người. Theo ước tính 2006 của Cục Dân
số LHQ, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người trong 43 năm tới, từ mức 7
tỷ người hiện nay - một sự gia tăng tương đương với tổng dân số thế giới năm
1950.
Sự gia tăng dân số thế giới sẽ diễn ra chủ yếu tại các nước kém phát
triển. Dân số của các nước này sẽ tăng từ 5,4 tỷ người trong năm 2007 lên 7,9
tỷ trong năm 2050. Dân số của các nước nghèo như Afghanistan, Burundi,
Congo, Guinea-Bissau, Liberia, Niger, Đông Timor và Uganda dự đoán sẽ
tăng ít nhất 3 lần vào giữa thế kỷ này.
Cứ 4 ngày thì thế giới bổ sung thêm 1 triệu người hay nói cách khác thì
mỗi giây có 3 người chào đời. Chính sự gia tăng dân số làm ảnh hưởng đến
sản lượng lương thực, thực phẩm. Có khoảng 88 nước trên thế giới đang ở
tình trạng nghèo đói, trong đó Châu Phi chiếm tới một nửa.

Hình 1: Phân bố dân cư thế giới năm 2010

6
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

I.2 Tài nguyên thiên nhiên:
I.2.1. Định nghĩa:
Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố, thành phần tự nhiên có quan hệ
trực tiếp đối với sản xuất và đời sống mà ở một trình độ phát triển lực lượng
sản xuất nhất định chúng được sử dụng để thỏa mãn yêu cầu của xã hội.
I.2.2. Phân loại: Có nhiều cách phân loại khác nhau, theo cách phân loại dựa
vào khả năng đáp ứng thì tài nguyên thiên nhiên được phân làm 2 loại.
- Tài nguyên có hạn:
+ Tài nguyên phục hồi (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự
duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý.
Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái
không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên
đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v...
+ Tài nguyên không không phục hồi là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ
mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản
của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể
mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm.
- Tài nguyên vô hạn: loại tài nguyên có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến
năng lượng mặt trời. Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tài
nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra:
+ Năng lượng trực tiếp: là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá
trị định lượng có thể tính được
+ Năng lượng gián tiếp: là những dạng năng lượng gián tiếp của bức
xạ mặt trời bao gồm: gió, sóng biển, thuỷ triều,...
Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên còn được phân loại như: Tài
nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển,...
II. SỨC ÉP CỦA GIA TĂNG DÂN SỐ NHANH ĐẾN TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN.
II.1. Mối tương quan giữa dân số và tài nguyên.
II.1.1. Công thức chung.
Công thức: mô tả mối quan hệ giữa tài nguyên như sau:
(1)

Rt = Ro ekt
7

Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Hoặc
(2)

Rt = Ro : Ro kt

Trong đó: Rt: tài nguyên của loài người tại thời điểm t cần nghiên cứu,
tính từ khi loài người xuất hiện.
Ro: tài nguyên khi mới xuất hiện loài người.
e: cơ số lg tự nhiên (e= 2,7183).
t: thời gian loài người đã sử dụng tài nguyên.
Khi t=0 có nghĩa là lúc mới xuất hiện loài người, lúc này (1) hoặc (2) sẽ có
Rt = Ro đó là tính đúng đắn của công thức.
k: hệ số tiết kiệm tài nguyên
Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế
giới biểu hiện ở các khía cạnh:
Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên do khai thác quá mức các nguồn
tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm,
sản xuất công nghiệp v.v...
Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp
hoá và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước
đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá. Sự chênh
lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công
nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức.
Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô
thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng.
Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát
triển dân cư.
II.1.2. Biểu hiện cụ thể:
Dân số gia tăng nhanh khiến loài người ta sử dụng nhiều tài nguyên hơn
và làm cho chúng ngày càng cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm.
a. Cạn kiệt tài nguyên đất.
8
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Đất là nguồn tài nguyên vô giá đang bị xâm hại nặng nề. Diện tích đất đai
bình quân trên một đầu người ngày càng thu hẹp dần mà nguyên nhân cơ bản
nhất chính là vấn đề tăng dân số một cách nhanh chóng trên toàn thế giới,
trong đó các quốc gia đang phát triển và kém phát triển là có tỉ lệ tăng dân số
mạnh mẽ nhất.
Diện tích đất phân bố rất không đồng đều trên toàn thế giới: hiện nay,
diện tích các thành phố trên thế giới chiếm 0,3% diện tích trái đất và 40% dân
số thế giới. Diện tích trên Trái đất với hơn 70% là đại dương còn lại là đất liền
nhưng con người chỉ cư trú được với một diện tích chiếm 32% diện tích đất
liền, mặt khác dân số lại phân bố không đồng đều ở các quốc gia. Các nước
kém phát triển hoặc đang phát triển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều so với
các quốc gia phát triển.
Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có
khoảng 10 ha đất trở thành sa mạc. Diện tích đất canh tác trên đầu ngươi giảm
nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm
tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/đầu người. ở Việt Nam, số liệu thống kê cho thấy
sự suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hoá cũng đang
diễn ra với tốc độ nhanh. Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn
hoá, v.v. đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33
triệu ha đất tự nhiên được coi là “có vấn đề suy thoái”.
Bảng 1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới(ha/người)
Năm

-106

-105

-104

0

1650

1840

1930

1994

2010

O,125

1,0

5,0

200

545

1000

2000

5000

7000

3000

75

27,5

15

7,5

3,0

1,88

tính
Dân số
(triệu)
Diện
tích
(ha/ng)

15000
12.104

Bảng 2. Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở Việt
Nam
9
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Năm
1940

Dân số (triệu
người)
20,2

Diện tích đất nông
nghiệp (triệu ha)
5,2

Bình quân đầu
người(ha /người)
0,26

1955

25,1

4,7

0,19

1975

47,6

5,6

0,12

1980

53,7

7,0

0,13

1985

59,7

6,8

0,11

1990

65,7

7,1

0,105

1995

74

7,0

0,095

Hình 2: Đô thị hóa
b. Cạn kiệt tài nguyên nước.
Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là
nguồn tài nguyên đặc biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những
nhu cầu đang ngày càng tăng của con người. Trong tổng lượng nước của toàn
thế giới, có tới 97% là nước mặn, và trong số 3% nước ngọt có thể sử dụng, có
tới 70% tồn tại dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên những đỉnh núi
cao. Nước ngọt có thể sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu. Về
mặt địa lí, sự phân bố của nước là không đồng đều. 15% lượng nước ngọt toàn
10
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

cầu được giữ tại khu vực Amazon. Ngay trong khu vực Địa trung hải, các
nước giàu về tài nguyên nước (Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới
2/3 lượng nước toàn khu vực. Tình trạng này dẫn đến sự phân hóa những nước
giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên nước trên đầu người: giao động từ
chưa đến 100m3/năm đến 10.000m3/năm. Dưới ngưỡng 1000m3/năm/đầu
người những căng thẳng bắt đầu xuất hiện và ngưỡng thiếu nước được xác
định ở mức 500m3/năm. Không những thế lượng nước lại có sự phân bố
không đồng đều theo thời gian. Có một sự mất cân đối về lượng nước giữa
mùa khô hạn và mùa mưa và giữa các năm.
Trong vòng một thế kỉ vừa qua, trong khi dân số toàn cầu tăng lên ba lần
thì mức tiêu thụ nước đã tăng lên sáu lần, trong đó nông nghiệp tiêu thụ tới
75% lượng nước ngọt toàn cầu và nhu cầu tưới tiêu của nông nghiệp lại không
ngừng tăng lên cùng với sự phát triển dân số. Ngay cả những nước có khí hậu
ôn hòa như Pháp thì lượng nước dành cho nông nghiệp cũng chiếm tới 30%
tổng lượng nhu cầu.
Tiêu thụ ở những thành phố lớn cũng không ngừng tăng lên, nhất là trong
hoạt động du lịch. Tính trung bình, một khách du lịch trong một khách sạn
hạng sang tiêu thụ từ 500 đến 800l nước/ngày, gấp nhiều lần mức tiêu thụ của
cư dân bản địa. Kèm theo là các dịch vụ giải trí và vệ sinh. Một sân golf hằng
năm tiêu thụ khoảng 10.000m3 nước cho một ha, tương đương với một diện
tích trồng trọt trong nông nghiệp. Thêm vào đó thủy điện và công nghiệp cũng
là những kẻ tiêu thụ nước với số lượng lớn. Cùng với những tác động xấu đến
sinh thái và văn hóa – xã hội ở các khu vực nhà máy. Sự gia tăng nhu cầu sử
dụng nước đã dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước.
Theo Liên Hợp Quốc thì một n ửa trong tổng số 500 dòng sông lớn nhất
thế giới đang trở nên cạn kiệt và ô nhiễm trầm trọng. Lượng nước của các con
sông lớn nhất thế giới đang sụt giảm làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con
người, các loài vật và tương lai của cả hành tinh.

11
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Liên Hợp Quốc đã đưa ra cảnh báo về một thảm họa đối với một số con
sông trong số này. Sông Nile ở châu Phi và sông Hoàng Hà ở Trung Quốc
từng được xem là các hệ thống tưới tiêu lớn của thế giới nay đang có lượng
nước đổ ra đại dương ở mức thấp kinh khủng. Tất cả 20 con sông lớn nhất thế
giới hiện đang bị các con đập ngăn chặn.
Hậu quả là 1/5 chủng loài cá hoặc đã tiệt chủng hoặc đang bên bờ tuyệt
chủng. Sông Jordan (bang Utah, Mỹ) và sông Rio Grande (biên giới MỹMexico) được xem là 2 con sông cạn nhất so với chiều dài của nó. Tại Anh,
1/4 tổng số 160 con sông của nước này đang cạn dần do quá nhiều nhà cửa và
do các ngành nông nghiệp, công nghiệp phát triển tạo ra nhiều chướng ngại
vật.
Tại Việt Nam, năm 1943 lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam
là 16.641 m3/người, nếu dân số nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt
2467 m3/người, năm xấp xỉ với những quốc gia hiếm nước. Hiện nay lượng
nước bình quân đầu người của Việt Nam chỉ khoảng 3.840m3/người/năm, thấp
hơn 160m3 so với quy định của thế giới (trên 4.000m3/người/năm).
Biểu đồ 2: Lượng nước đảm bảo cho cho mỗi người dân trong một năm,
Theo thời gian từ 1990 đến 2000 và dự báo năm 2040.

c. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học.

12
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Không gian sống của con người luôn luôn cần mở rộng. Do đó con người
luôn giành giật với sinh vật mà điển hình nhất chính là tình trạng phá rừng
diễn ra khắp nơi trên thế giới.
Nhiều diện tích đất rừng bị phá hoại nghiêm trọng. Con người phá rừng
với các mục đích mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản
xuất lương thực, trong đó những người sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân
quan trọng nhất, nhu cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khai thác gỗ và các sản
phẩm rừng, phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản. Ngoài ra còn
có một nguyên nhân khác làm giảm diện tích rừng là do việc cháy rừng nhưng
nguyên nhân sâu xa cũng là do các hoạt động của con người gây ra cháy rừng.
Vào thời kỳ tiền sử diện tích rừng đạt tới 8 tỷ ha (2/3 diện tích lục địa),
đến thế kỷ 19 còn khoảng 5,5 tỷ ha và hiện nay chỉ còn khoảng 2,6 tỷ ha. Năm
1991 diện tích rừng bị phá của toàn thế giới lên tới 17 triệu hecta so với 11,3
triệu hécta của 10 năm trước đó. Việc chặt phá rừng ở vùng nhiệt đời bắt đầu
diễn ra mạnh từ thế kỷ XVIII và XIX do mở rộng diện tích trồng cây nông
nghiệp và cây công nghiệp, đặc biệt là từ năm 1945.
Theo FAO thì khoảng 50% rừng nhiệt đới bị phá huỷ từ năm 1950, nhiều
nhất ở Trung Mỹ (66%), tiếp đến là Trung Phi (52%), Nam Phi và Đông Nam
Á tương ứng là 37 và 38%. Số liệu thống kê cho thấy diện tích rừng đang suy
giảm với tốc độ chóng mặt (mỗi phút mất đi khoảng 30 ha rừng) và theo dự
báo với tốc độ này chỉ khoảng 160 năm nữa toàn bộ rừng trên trái đất sẽ biến
mất.
Nước ta rừng cũng đã từng suy giảm nhanh. Đầu thế kỷ 20 độ che phủ
đạt khoảng 50% sau đó suy giảm mạnh đến cuối những năm 80 chỉ còn gần
30%. Năm 1943 ước tính có khoảng 14 triệu ha, với tỉ lệ che phủ là 43%, năm
1995 còn khoảng 8 triệu ha và tỉ lệ che phủ là 28%, diện tích rừng bình quân
cho một người là 0,13 ha (1995), thấp hơn mức bình quân ở vùng Đông Nam
Á (0,42 ha/người). Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mất khoảng 3 triệu ha
rừng, bình quân 100.000 ha/năm. Quá trình mất rừng diễn ra nhanh hơn ở giai
13
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/năm. Nguyên nhân
chính làm mất rừng ở giai đoạn này là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương
làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng các cây công nghiệp như cà
phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu.
Trung bình mỗi năm nước ta chỉ trồng được trên 72.000 ha rừng, trong
khi tỉ lệ mất rừng hiện nay từ 120.000 đến 150.000 ha/năm. Không chỉ người
dân lén lút phá rừng mà các xí nghiệp thực hiện việc khai thác theo chỉ tiêu
pháp lệnh thường thực hiện quá chỉ tiêu cho phép.
Rừng bị mất đi gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với đất và nước. Đất bị
xói mòn, thoái hoá tới mức cây trồng không cho năng suất, đất bị bỏ hoang,
ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó, mất rừng còn làm
giảm đa dạng sinh học, gây mất cân bằng sinh thái và con người phải nhận
hậu quả về thiên tai , lũ lụt do không có rừng bảo vệ.
Cùng với rừng, đa dạng sinh học cũng đóng vai trò quan trọng đối với
con người và thiên nhiên. Từ nhiều thập kỷ nay, hoạt động của con người đã
tác động mạnh tới thế giới sinh vật, được xem là tương đương hoặc thậm chí
lớn hơn nhiều so với các đợt tuyệt chủng lớn nhất trong thời tiền sử. Hơn
11.000 loài động vật và thực vật hiện đang đứng trước nguy cơ bị tiệt chủng,
12% loài chim, 25% loài động vật có vú, 32% loài lưỡng cư v.v... đang có
nguy cơ tuyệt chủng, khoảng 1/3 dải san hô sẽ biến mất trong vòng 30 năm
tới. Tốc độ giảm đa dạng sinh học do hoạt động của con người trong 50 năm
qua nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử và số loài động thực vật
tuyệt chủng trong 100 năm qua đã tăng cao gấp 1.000 lần. Trữ lượng cá trên
thế giới đã giảm tới 90% so với thời kỳ bắt đầu khai sinh ngành công nghiệp
đánh cá. Các loài cá nước ngọt đang bị đe doạ tuyệt giống với khoảng 20%
của chúng ở 20 nước đã được IVCN-Sách Đỏ của Liên Minh Bảo tồn Thế giới
đánh giá một cách toàn diện. Vào khoảng 35% các loài rùa cũng bị đe doạ như
vậy.

14
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Việt Nam là nước có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ 10 thế giới
nhưng tốc độ suy giảm được xếp vào loại nhanh nhất. Nhiều hệ sinh thái tự
nhiên bị xâm phạm, suy giảm diện tích. Trong không đầy 50 năm, diện tích
rừng ngập mặn suy giảm gần 3/4. Sự giảm sút nhiều loài động vật trên đồng
ruộng đã làm mất căn bằng sinh thái, dẫn đến bùng phát dịch bệnh. Hiện Việt
Nam còn trên 800 loài động vật và thực vật hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng, dễ bị
tổn thương hay đang bị đe dọa.

Hình 3. Sinh vật đang ngày càng cạn kiệt.
d.Cạn kiệt tài nguyên khoáng sản:
Ai cũng biết, một khi nguồn tài nguyên thiên nhiên tích lũy hàng tỷ năm
cạn kiệt thì không cách nào tái tạo được, đặc biệt nguồn năng lượng hóa thạch.
Thế giới đang đứng trước nỗi lo một khi các mỏ dầu, mỏ khí đốt tự nhiên,
than đá cạn kiệt, nhân loại sẽ xoay xở ra sao để duy trì cuộc sống.
Nếu như dầu mỏ và khí đốt từng là con át chủ bài của khu vực Arab,
mang lại sự thịnh vượng cho khu vực thì hiện nay, các mỏ dầu này cũng đang
ở trong tình trạng ngày càng khó khai thác vì đã khai thác quá lâu, từ hơn nửa
thế kỷ qua. Một báo cáo mới đây của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) kết
luận: sản lượng dầu lửa toàn cầu rất có thể đạt 96 triệu thùng/ngày vào năm
2012, nhưng khó thể vượt quá con số này vì rất ít những giếng dầu mới được
phát hiện.
Nga chiếm hơn 10% trữ lượng dầu mỏ, 20% trữ lượng than của thế giới, 7%
trữ lượng khí thiên nhiên... Với trữ lượng như vậy, hiện Nga đứng đầu thế giới
về khí đốt thiên nhiên, đứng thứ hai về dầu mỏ và là nguồn cung cấp than và
urani quan trọng cho thế giới. Dù vậy, theo nghiên cứu của các chuyên gia,
15
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

khoảng 20-30 năm nữa, tài nguyên thiên nhiên ở Nga sẽ chẳng còn lại bao
nhiêu. Hiện tỷ lệ khai thác dầu của Nga đã vượt quá 60%, việc tìm kiếm
những mỏ mới thay thế ngày càng khó, 50 năm qua việc phát hiện những mỏ
mới giảm 10 lần.
Đó cũng là tình hình chung của các nước có nguồn tài nguyên. Thời kỳ
hoàng kim năng lượng của các quốc gia dầu lửa sẽ nhanh chóng biến mất và
đối diện với thời kỳ cạn kiệt tài nguyên. Các mỏ than cũng không tránh khỏi
số phận tương tự trong một hai thập kỷ nữa. Khi đó, muốn khai thác, con
người càng phải đào sâu vào lòng đất. Nhưng càng đào sâu, càng nguy hiểm
và càng ngốn nhiều tiền của hơn. Tình trạng khan hiếm nhiên liệu, năng lượng
trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Hình 4: Cạn kiệt tài nguyên khoáng sản
III. GIẢI PHÁP LÀM GIẢM SỨC ÉP GIA TĂNG DÂN SỐ NHANH
ĐẾN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN.
a. Trong lĩnh vực kinh tế:
Lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế hiệu quả cao, ít tốn năng lượng,
thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng hoà hợp với môi trường;
thực hiện quá trình "công nghiệp hoá sạch". Chuyển hướng phát triển tiết
kiệm hoặc cần ít tài nguyên hơn với các quy trình công nghệ bảo vệ môi
trường thiên nhiên, đầu tư theo chiều sâu, sử dụng có hiệu quả, khai thác kết
hợp với tái tạo, bảo vệ môi trường. Tránh lối phát triển theo kiểu "chụp giật",
16
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, chỉ chú trọng lợi ích trước mắt mà không
tính đến yếu tố phát triển bền vững.
b. Trong lĩnh vực xã hội:
Bảo vệ môi trường phải gắn với công tác dân số, xoá đói giảm nghèo,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong Chương trình hành động 21 của
Hội nghị Ri-ô đờ Gia-nê-rô đã chỉ rõ: mối quan tâm về dân số phải là bộ phận
của chiến lược phát triển bền vững, và các nước phải thiết lập được các mục
tiêu và chương trình dân số.
Với quan điểm con người là trung tâm của phát triển bền vững, cần tiếp
tục tập trung thực hiện xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, đáp ứng nhu
cầu cơ bản của cuộc sống, nâng cao mức sống và chất lượng sống của mỗi
người và của cộng đồng, phát triển con người một cách bền vững trên cơ sở
nâng cao năng lực thể chất, trí tuệ, tinh thần, nhân cách. Nâng cao chất lượng
giáo dục để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp. Tuyên truyền giáo dục,
nâng cao nhận thức, trách nhiệm và nghĩa vụ, tự giáo dục của người dân về ý
thức bảo vệ môi trường, coi đó như bảo vệ chính cuộc sống của họ. Tổ chức
vận động nhân dân tham gia các phong trào bảo vệ môi trường. Từ đó thay đổi
hành vi, nếp nghĩ trong ứng xử với các vấn đề bảo vệ môi trường, nâng nhận
thức, quan điểm đó thành triết lý hành động. Quản lý chặt xu thế đô thị hoá,
tránh hình thành một cách tự phát các siêu đô thị, làm nảy sinh các vấn đề môi
trường, xã hội phức tạp. Duy trì tỷ lệ cư dân thành thị và nông thôn.
c. Trong lĩnh vực môi trường:
Chống tình trạng thoái hoá đất, bảo vệ môi trường nước; khai thác và sử
dụng hợp lý khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, v.v... Ban hành các chế tài
buộc các doanh nghiệp quy mô lớn và vừa phải thiết lập các hệ thống tự quan
trắc, giám sát về môi trường. Ngoài ra, cân xem xét để đưa vào giá thành các
chi phí cần thiết cho tài nguyên và môi trường. Thực hiện nguyên tắc người
gây ô nhiễm và người sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải thanh toán chi phí
cơ hội cho người sử dụng tương lai.
17
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

Trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, các nước nghèo và
đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ trở thành bãi thải công nghiệp cũ và
lạc hậu của các nước công nghiệp phát triển. Điều này làm ảnh hưởng lớn đến
môi trường trong nước. Do vậy, chúng ta cần tăng cường đẩy mạnh hợp tác
quốc tế về bảo vệ môi trường, mở rộng và xử lý thông tin về môi trường.
d. Giải pháp dân số:
- Ban hành các giải pháp về luật:
Việt Nam qui định mỗi gia đình chỉ có 1-2 con. Trung Quốc ban hành qui
định mỗi gia đình có 1 con từ năm 1979. Hiệu quả của biện pháp này là nhanh
chóng, tức thì. Theo tính toán, nếu không ban hành qui định trên, Trung Quốc
đã có thể có thêm 400 triệu dân.
- Tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng dân số, nhất là các nước
đang phát triển.
e. Những hành động mang tính tích cực của con người cần được phát huy
Con người đang ngày càng nhận ra những biến đổi của tự nhiên theo
hướng bất lợi, và cũng nhận ra được nguyên nhân chủ yếu là do chính con
người, vì vậy chúng ta đã và đang có những hành động tích cực.
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và những nghiên cứu mới giúp
chúng ta tìm ra được các giải pháp nhằm hạn chế sự thay đổi của môi trường.
Chúng ta đã biết cách tận dụng các dạng năng lượng tự nhiên mới thay thế cho
các năng lượng truyền thống như: năng lượng gió, mặt trời, thủy triều, điều
này góp phần hạn chế việc khai thác sử dụng các năng lượng cũ, giảm sự phát
thải các chất khí gây hiệu ứng nhà kính. Các nước ứng dụng các công nghệ
này chủ yếu là các nước phương Tây có nền kinh tế phát triển, khoa học kĩ
thuật tiên tiến. Một diện tích rừng bị mất trước kia nay đang được phục hồi
dần dần,tuy các diện tích rừng trồng lại không có nhiều giá trị như rừng
nguyên sinh, song nó cũng góp một phần vào việc phục hồi dần dần chất
lượng của môi trường hiện nay. Các nước trên thế giới đã và đang tích cực
trong việc phục hồi lại diện rừng đã mất ở mỗi nước.
Tuy đã có những biểu hiện của sự cố gắng của con người cho việc bù
đắp lại những gì mà mình gây ra, nhưng những cố gắng đó là vẫn chưa đủ.
18
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

PHẦN C: KẾT LUẬN
Sự tăng trưởng dân số thế giới đã làm tăng thêm sự nghiêm trọng cho
khả năng bảo vệ cuộc sống của hành tinh chúng ta. Bùng nổ dân số không chỉ
tạo nên áp lực đối với nguồn tài nguyên mà còn là khâu liên kết dẫn tới các
quá trình khai thác làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên đó. Dân số
tăng, kinh tế phát triển làm tăng mức sống, đồng thời làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên, suy thoái môi trường, mất đất đai, mất rừng, sa mạc hoá là hậu quả
của gia tăng dân số.
Để giải quyết vấn đề này không phải ngày, một ngày hai, không phải
một quốc gia có thể làm được mà đòi hỏi phải có sự hành động đồng bộ giữa
các quốc gia với các chiến lược cụ thể như: Tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số,
sớm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý...giải quyết đồng bộ, từng bước có
trọng điểm chất lượng dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư, nâng cao nhận
thức cho người dân.

19
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI


Đề tài: Nghiên cứu sức ép của gia tăng dân số nhanh đến tài nguyên thiên nhiên.

PHẦN D: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
[1]. Ðỗ Thị Minh Ðức, Nguyễn Viết Thịnh(1996), Dân số-Tài nguyên-Môi
trường, NXB Giáo dục, HN.
[2]. Lưu Ðức Hải (2002), Cơ sở khoa học môi trường- NXB Ðại học QG
Hà Nội, Hà Nội
[3]. Viện Kinh tế LX -Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế-xã hội của nó
(người dịch Ðặng Như Toàn, Nguyễn Quang Thái) (1985), NXB KH&KT,
HN.
[4]. Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân (2003), Tài nguyên
nước Việt Nam; NXB Nông nghiệp.
[5]. Nguyễn Trần Quế (1999 ), Những vấn đề mang tính toàn cầu ngày nay,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[6]. TS. Nguyễn Tưởng( chủ biên), “ Địa lý kinh tế - xã hội đại cương”
[7]. Mai Ðình Yên (1997), Môi trường và con người, NXB Giáo Dục, Hà
Nội.
Trang web
www.bgi.com/centrer/eneryy.
www.forests.org/gaia.htm
www.minerals.grg.au
www.pofnet.org
www.fao.org
www.sio.visd.edu
www.thoibaokinhte

20
Học viên: BÙI THANH SƠN – Lớp Cao học Địa lý – Khóa XXI



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×