Tải bản đầy đủ

TIEU LUAN KINH TE HOC 1

BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
------ oOo -----

TIỂU LUẬN MÔN:
KINH TẾ HỌC NÂNG CAO
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: GVC

: Nguyễn Duy Thụ

SVTH

: 1. Nguyễn Thị Yến

Lớp

: Quản Trị Kinh Doanh


Đồng Nai, Tháng 09 Năm 2018


LỜI MỞ ĐẦU
Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản
ánh trình độ phát triển cao của nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển
chủ yếu ở các nước TB, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của CNTB.
CNTB đã biết sử dụng lợi thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát
triển, tìm kiếm lợi nhuận và thúc đẩy LLSX của xã hội phát triển mạnh mẽ.
Từ Đại Hội VI của Đảng (năm 1986) đất nước ta thay đổi định hướng,
chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Để đạt được mục tiêu đã đề trong điều kiện kinh tế thị trường trong
32 năm qua, đất nước ta vượt qua bao khó khăn, thử thách giành được nhiều thành
tựu trên các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên trong
các văn kiện của Đảng tại Đại Hội lần thứ VII, VIII đã nêu lên những nguy cơ
thách thức bởi vì sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta. Vì vậy, nền kinh tế thị
trường của nước ta có trở thành hiện thực phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng
và nhà nước, và đây là nhân tố giúp phát triến triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN cũng như là sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nước.
Ngày nay trong nền kinh tế hiện đại, với sự phát triển nhanh chóng của
công nghệ khoa học kĩ thuật, cũng như sự giao thương kinh tế trong khu vực và thế
giới nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì không giải quyết được các vấn đề
rắc rối của kinh tế đất nước. Vì thế kết hợp hài hòa của sự vận hành của nền kinh tế
thị trường và sự điều tiết của nhà nước là cần thiết và giải pháp mang lại sự thành
công trên con đường phát triển. Trong mối quan hệ đó, nhà nước giữ vai trò tạo
“hành lang” pháp lý và môi trường đầu tư.
Nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng với vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà
nước trong nền kinh tế thị trường. Nên em đã chọn đề tài “Vai trò của Chính Phủ
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ’’
Tuy nhiên do trình độ nhận thức và hiểu biết còn hạn chế, do đó không
tránh khỏi nhiều sai sót. Nên chúng em rất mong được sự chỉ bảo, phê xét của thầy
để có thể sửa chữa, khắc phục những mặt kiến thức còn hạn chế để bài viết này
được hoàn thiện hơn.


MỤC LỤC
I. Những lý luận về kinh tế thị trường theo định hướng XHCN....................................1
1. Kinh tế thị trường là gì ?............................................................................................1
2.Cơ chế thị trường là gì ?..............................................................................................2
3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN :.....................................................................3


II. Vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam...............................9
1. Tính tất yếu khách quan về vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế thị trường........9
2. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường..................................................14
III. Thực trang và giải pháp của Chính Phủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam..............................................................................................26
1. Thực trạng nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay...........................................26
2. Giải pháp của Chính Phủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay.........................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................34


I. Những lý luận về kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
1. Kinh tế thị trường là gì ?
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người
bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và
số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Đặc điểm :
Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển :
Kết cấu hạ tầng được đầu tư với mức độ ngày càng tăng.
Cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó.
Công cuộc đổi mới ở nước ta trong 32 năm qua đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện.
Còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp.
Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo :
Các thành phần kinh tế tiến hành sản xuất hàng hóa tuy có bản chất kinh
tế khác nhau.
Mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng.
Nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế
những khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng sự phát triển
của các thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị
trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở" :
Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ sự phân bố không đều về tài nguyên
thiên nhiên và sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước, đáp
ứng yêu cầu quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế. Vì vậy, trong thời
đại ngày nay, mỗi quốc gia muốn phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế.
1


Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với
sự quản lý vĩ mô của nhà nước :
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho
nền kinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn trước
đây, cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đặc
điểm này cũng chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Mô hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng, làm cho nó
khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Ưu và nhược điểm của nền kinh tế thị trường.
Ưu điểm :
Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn tìm
cách để cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công
hay thất bại để phát triển không ngừng.
Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản
lý kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả.
Kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong
kinh tế bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
Nhược điểm :
Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán,
không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội.
Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu , cái gì có lãi thì làm,
không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hoá công
cộng” (đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục .v.v.)
Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít,
nghèo nhiều, bất công xã hội.
2.Cơ chế thị trường là gì ?
Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới sự
tác động khách quan của các quy luật kinh tế vốn có. Cơ chế thị trường chính là
một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó những người tiêu dùng và các sản xuất
nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để giải quyết những vấn đề
2


trung tâm của sản xuất xã hội.
Ưu và khuyết điểm của cơ chế thị trường :
Ưu điểm :
Cơ chế thị trường có nhiều mặt tích cực đặc biệt là kích thích cải tiến kỹ
thuật tăng NSLĐ tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng dồi dào phong
phú chất lượng tốt giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội và thúc đẩy
nền kinh tế phát triển nhanh chóng nhng cơ chế thị trường cũng không ít những
mặt khuyết tật.
Khuyết điểm :
Cơ chế thị trường không thể tránh khỏi khủng hoảng, thất nghiệp lạm
phát.
Cơ chế thị trường nhiều mục đích lợi nhuận do đó thường khai thác bừa
bãi kiệt quệ tài nguyên làm tăng thêm sự ô nhiễm môi trường mà các doanh
nghiệp phải trả tiền cho sự ô nhiễm đó.
Cơ chế thị trường tạo ra sự giả dối gian trá trong kinh doanh tạo sự bất
bình đẳng cạnh tranh không lành mạnh và phân hoá xã hội. Vì những khuyế tật
đó do đó kinh tế thị trường phải có sự điều tiết quản lý của Nhà nước.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận động theo các quy luật của
thị trường, trong đó quy luật giá trị đóng vai trò chi phối và được biểu
hiện bằng quan hệ cung cầu trên thị trường.
3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN :
Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa?
 Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế
phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay
nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự
tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối
đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng
kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng
sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ
3


nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản
phát triển.Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật: tính bất công và bất ổn
của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Chính
vì thế mà, như C. Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải
nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân
đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự
thích nghi bằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị
trường xã hội”, tạo ra “chủ nghĩa tư bản xã hội”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,
“nhà nước phúc lợi chung”…, tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước
và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản
chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm
thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa
để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa.
Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn
tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa.
 Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ
chức kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn
nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất
văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên
thực tế suốt hơn70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt
được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống
của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa
bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không
năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành
công.
 Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã
hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục
4


tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng
ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội
bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không
đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp
dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung
mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là
đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô
hình này bộc lộ những khuyết điểm và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải
một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều,
chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn
trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực
tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội
đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa
và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng
định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh.
Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những
hình thức kinh doanh phù hợp, coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và
xã hội, chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về
chính sách xã hội.
Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận
thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm,
suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn
Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
5


Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một
bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều
thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có
ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã
hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp
tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến
lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng
khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước”. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết
luận mới rất quan trọng: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa
xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại
khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi
chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền
kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị
trường”. Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức
đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại
hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau
nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển
mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam:
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa
xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của
kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay.
6


Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển
của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường
thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở
Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng
bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự
tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của
kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động,
cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của
cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đồng thời
phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị
trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân
hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là
sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận
Mác – Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo
những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi
phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba
mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
7


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà
nước.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực
lượng kinh tế nhà nước. Đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình
thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản
xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn
thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ
yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua
phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo
dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không
phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang
nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải
chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện
lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này
giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đi của mình tới chủ
nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được những
khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ
chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống
kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính tính
8


chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động
lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường,
nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát
triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập
nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để
trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt
Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
II. Vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Tính tất yếu khách quan về vai trò của Chính Phủ trong nền kinh tế thị
trường
Sự cần thiết phải chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước trong nền kinh tế
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho
thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hướng thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ
trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả.
Ở nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là
nội dung của công cuộc đổi mới, mà hơn thế, còn là công cụ, là phương thức để
đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền
kinh tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực
chất của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề
đặc biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét: Nhận thức được thực
chất của bước chuyển này, chi phối được nó, chúng ta sẽ tính được những sai
lầm chủ quan, nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao
chép, "nhập ngoại" các mô hình kinh tế thị trường ngoại lai một cách máy móc.
Đúng như ý kiến của một số nhà nghiên cứu lý luận, thực chất của
bước chuyển đó trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu như trước
đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiều sở hữu tương đối thuần nhất với hai
hình thức tập thể và Nhà nước, thì hiện nay, cùng với hình thức sở hữu chủ đạo
9


là sở hữu Nhà nước, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác. Những hình thức sở hữu đó, trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế,
không hẳn đã đồng bộ với nhau. Song về tổng thể, chúng là những bộ phận
khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và
năng động của kinh tế thị trường.
Điều có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế quá độ
ở nước ta hiện nay có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hướng chủ yếu trong sự vận
động của nó: tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế Nhà nước để
kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều
chỉnh các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đề trên cơ sở đó, giải quyết các vấn
đề xã hội ngay ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu
thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của đời sống xã hội.
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và vì vậy
không khuyến khích phát triển nó về mọi phương diện. Bởi lẽ, việc tuyệt đối hoá
vai trò của kinh tế thị trường sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ phía khác.
Kinh tế thị trường tuy có nhiều điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có những giới
hạn, những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bướng bỉnh. Hơn thế nứa, quan
hệ thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn
xã hội.
Thực tiễn 32 năm tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua cho thấy, bên
cạnh tác
Động tích cực là cơ bản, những tác động tiêu cực do kinh tế thị trường
gây ra cũng hết sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phương diện tư tưởng, đạo đức,
lối sống. Chúng ta mới áp đụng cơ chế thị trường chưa được bao nhiêu, song bên
cạnh những thành tựu, chúng ta đã phải trả giá không nhỏ cho những hiện tượng
tiêu cực, như do cách làm ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận đã dẫn đen các hình
thức lừa đảo hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả, do thương mại hoá một cách tràn
lan, xâm nhập cả vào các lĩnh vực dễ thương tổn như y tế, giáo dục, văn hoá...
đã làm cho các giá trị đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã
chi phối nhiều quan hệ giữa người với người, sự phân hoá giàu nghèo và bất
10


công xã hội có chiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày
càng tăng...
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: vận dụng các hình thức và phương pháp
quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ
mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đường tư bản
chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ
nghĩa xã hội. Đó là xu thế phân hoá giàu nghèo quá mức, là tâm lý sùng bái
đồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm... Đi vào kinh tế thị
trường phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tôi đa nhưng khuynh hướng
tiêu cực đó.
Cần thiết phải lưu ý rằng, khác với cơ chế hành chính - bao cấp, cơ chế
thị trường với các quy luật khách quan của nó, thường biểu hiện ra như là một
cơ chế tự phát hơn, tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con người hơn. Bởi
vậy, trong nền kinh tế nước ta hiện nay, việc nắm được các yếu tố tự giác và tự
phát của nền kinh tế hiểu được phương thức hoặc tìm ra được phương pháp kiểm
soát thích hợp là điều hết sức có ý nghĩa.
Thực tế những năm đổi mới vừa qua chứng tỏ rằng, trong một số quá
trình kinh tế xã hội nhất định, chúng ta đã thực sự làm chủ được những tác động
tự giác cũng như những tác động tự phát của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, bên
cạnh đó cũng có quá nhiều hiện tượng và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng
sự kiểm soát hoặc chưa thực sự có khả năng kiểm soát sự vận động của chúng.
Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc chúng ta
bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức để đảm bảo
tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, đã đem lại những kết quả tích cực cả về phương
diện thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.
Thực tiễn 32 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã cho chúng ta
thấy, sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội, rằng nền kinh tế của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
11


nghĩa. Là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, là cơ hội để các cộng đồng mở
cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là xu thế phát triển khách
quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta
cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã
hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội,
nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng
trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, trong quan
niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chú, văn minh, thì kinh tế thị
trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Tại hội thảo khoa học về kinh tế thị trường, Hội đồng lý luận Trung ương
nhận định rằng: "Chúng ta đã chuyển một bước quan trọng sang kinh tế thị
trường, nhưng chưa kết thúc bước chuyển đó. Do vậy, còn đan xen nhưng yếu tố
của nền kinh tế chuyển đổi. Những yếu tố của nền kinh tế thị trường văn minh
còn ít hơn là những yếu tố sơ khai".
Tính tất yếu của vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Trước kia, với quan điểm “Bàn tay vô hình” và nguyên lý “ Nhà nước
không can thiệp” vào nền kinh tế, A.Smith(1723-1790) cho rằng phát triển kinh
tế cần tuân theo nguyên tắc tự do, sự hoạt động của nền kinh tế là do qui luật
khách quan tự phát phân phối. Thị trường vận động là do quan hệ cung cầu …
Song trên thực tế cho thấy rằng nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất
nước phải có cơ sở hạ tầng hiện đại. Người ta thấy rằng : nền kinh tế phát triển
càng cao, xã hội hoá mở rộng, càng cần có sự quản lý của Nhà nước.
Vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX, tình trạng khủng hoảng kinh tế
xảy ra liên tục. Quan điểm “ Bàn tay nhà nước” ra đời, theo Keynes và trường
phái của ông thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế sẽ khắc phục khủng
hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự ổn định kinh tế. Nhưng những chấn động lớn trong
nền kinh tế, khủng hoảng, thất nghiệp vẫn xảy ra. Dẫn đến xuất hiện tư tưởng
12


phối hợp “Bàn tay vô hình” và “Bàn tay nhà nước”. Và các nhà kinh tế đã thừa
nhận : nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cơ chế thị trường và sự
quản lý của Nhà nước.
Trong hoàn cảnh của nước ta: Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
giai đoạn tư bản chủ nghĩa – giai đoạn tạo ra cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội,
do đó trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp và lạc hậu cho
sự phát triển. Tình trạng này dẫn đến khuynh hướng tư bản chủ nghĩa là điều
không tránh khỏi, do đó Nhà nước cần phải vững mạnh về mọi phương diện để
huy động mọi tiềm năng cho sản xuất, phát triển khoa học, tiến bộ xã hội. Kèm
theo sự lạc hậu về kĩ thuật, nước ta còn phải trải qua một loạt các bước quá độ
với tính chất phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phải có một
Nhà nước không những có quyết tâm, trung thành với con đường giải phóng
nhân dân lao động mà còn phải có kiến thức đầy đủ để xác định những mục tiêu,
biện pháp thích hợp với từng bước quá độ.
Bối cảnh lịch sử thế giới trong giai đoạn hiện nay cũng đặt ra nhiều
thách thức to lớn. Điều kiện quốc tế hoá nền kinh tế thế giới mở ra cho chúng ta
những cơ hội về vốn, kĩ thuật và kinh nghiệm quản lý để phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tuy nhiên đây cũng chính là con đường
mà những thế lực thù địch có dã tâm lợi dụng để chống lại công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội của ta.
Vì vậy, nếu không có một Nhà nước vững mạnh và có tài trí thì khả năng
mất độc lập tự chủ và bị lệ thuộc dưới những hình thức mới có thể trở thành hiện
thực.
Quá trình phát triển của nước ta từ khi giải phóng đến nay đã cho thấy
nước ta tất yếu phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường và mở cửa ra bên ngoài. Nền kinh tế này đã thể hiện
những mặt mạnh không thể phủ nhận của mình nhưng không phải lúc nào nó
cũng thống nhất với những yêu cầu mang tính định hướng của chủ nghĩa xã hội,
thậm chí đối lập với những định hướng ấy.
Hai khả năng phát triển chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đều tồn tại
13


khách quan. Vai trò Nhà nước ta ở đây là phải giải quyết thành công mâu thuẫn
giữa hai con đường, giành thắng lợi cho con đường xã hội chủ nghĩa trên lĩnh
vực kinh tế, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, đưa nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, mọi Nhà nước dù thuộc chế độ
chính trị nào cũng đều phải can thiệp, quản lý nền kinh tế ấy trong một giới hạn
nhất định. Đây là vai trò có tính tất yếu khách quan của Nhà nước, nó gắn với
những nhiệm vụ mới mẻ và khó khăn phát sinh trong từng giai đoạn phát triển
của chủ nghĩa xã hội của nước ta.
2. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Các mục tiêu của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trong ảnh hưởng nền kinh tế nước ta hiện nay từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN phải trải
qua nhiều giai đoạn và không ít khó khăn. Để đạt được tới đích cuối cùng
thì ta phải ra phương hướng và mục tiêu cụ thể.
 Đó là đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, không gặp phải
những biến động xấu, tốc độ tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP hàng
năm từ 9 - 10%. Đưa đất nước cơ bản thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu
tạo đà mạnh mẽ cho bước phát triển mới vào những năm đầu thế kỷ XXI. Tránh
những cuộc khủng hoảng thiếu hoặc thừa, lạm phát, duy trì mức lạm phát ở mức
một con số. Đồng thời tạo việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở
thành phố xuống 5%. Để đạt được những điều đó, Nhà nước phải chú trọng :
thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động. Ổn
định kinh tế vĩ mô, tích luỹ từ nội bộ kinh tế kìm hãm lạm phát, tích cực huy
động các nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Tăng nhanh xuất
khẩu, giảm nhập siêu và đảm bảo các quan hệ kinh tế quốc tế. Tạo lập những
điều kiện vững chắc về nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nhà nước phải đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội. Nhà nước sữa chữa
những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả như :
14


hạn chế ảnh hưởng của độc quyền, tình trạng vô chính phủ dẫn đến khủng hoảng
kinh tế, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường.. cụ thể đối với các tổ chức độc quyền,
lợi dụng ưu thế của mình có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận và do đó phá
vỡ ưu thế cạnh tranh hoàn hảo. Vì vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước để hạn
chế độc quyền, đảm bảo tình trạng hiệu quả của cạnh tranh thị trường. Còn đối
với những hoạt động tiêu cực bên ngoài cũng dẫn đến không hiệu quả của hoạt
động thị trường như ô nhiễm nguôn nước và không khí, khai thác đến cạn kiệt
tài nguyên khoáng sản.. và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp. Vì vậy Nhà nước
phải sử dụng đến luật pháp để ngăn chặn những tác động tiêu cực đó.
 Cùng với các mục tiêu trên thì Nhà còn có mục tiêu quan trọng khác
để giúp cho nền kinh tế phát triển lành mạnh đó là giải quyết những vấn đề nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Như đã nói cơ chế thị trường là cơ chế tốt
nhất để điều tiết một nền kinh tế có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trường có một
loạt những khuyết tật vì vậy ở nước ta nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết
phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế nhằm sửa chữa những thất bại của
thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu quả và đạt được
công bằng xã hội.
Ở nước ta, để đạt được các mục tiêu đó thì không phải là việc nói mà làm
ngay được, mà nó là cả một quá trình. Quá trình đó không chỉ đòi hỏi không có
sự can thiệp của Nhà nước mà nó còn đòi hỏi sự nỗ lực của các tổ chức, các
doanh nghiệp và của mỗi thành viên trong xã hội. Vì mục đích cuối cùng không
chỉ có lợi cho Nhà nước, cho nền kinh tế mà còn có lợi cho mỗi gia đình, mỗi
thành viên trong xã hội.
Vai trò và chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta.
Vai trò của Nhà nước :
Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ
xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn
xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bài viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu.
15


Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người
trong sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội,
của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể, sự phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng
chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng
Cộng sản cầm quyền. Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng
biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa
thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhà
nước do Đảng lãnh đạo. Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhất
tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật, chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánh
chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường
làm cơ sở. Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan. Nhưng chúng lại là sự
thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có mặt chủ quan.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ,
cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân, thì việc ưu tiên bảo vệ lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc.
Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh
vực kinh tế cơ bản sau:
 Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà
nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách
quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ
thống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà
nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập
thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
 Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách... tạo
16


điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung
gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc
thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.
 Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách
kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phận
kinh tế nhà nước - để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối
lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp
tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách
xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa...
Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có
vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng
kinh tế. “ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi ích
giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu
phát triển của đất nước. Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định
và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm
nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó. Là những công
cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển và tăng
trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải phản ánh
đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế...; mặt khác, phải
tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích cụ thể của các chủ thể đó.
Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi
xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”. Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày
một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước
hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế
khác nhau... là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề mà công bằng xã hội là
một động lực của sự phát triển xã hội nói chung, của sự phát triển và tăng trưởng
kinh tế bền vững nói riêng. Một trong những mục tiêu của quá trình phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước hướng tới là
17


xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. Đây là một nhiệm vụ lâu dài. Ở
nước ta hiện nay, công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không
chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau, mà còn ở chỗ
cống hiến - đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong
hiện tại - ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau. Từ
đó, việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội được thể hiện đầy
đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế là một nhiệm vụ
cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng phát triển, tăng trưởng
kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình
thức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình; tạo vị thế cho kinh
tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải
phóng con người; ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho
quảng đại người lao động.
Để thực hiện các mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập
khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. Chỉ duy
nhất nhà nước có được chức năng này. Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước
càng được xây dựng đồng bộ, đúng đắn, nhất quán và kịp thời bao nhiêu, càng
có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu. Song, tự nó,
pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế. Để cho
các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế, chúng phải được
đưa vào vận hành. Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ
này. Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự
trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế.
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo
môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản
xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng
kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế
18


từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội... Là chủ thể trực tiếp sở hữu
hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia, nhà
nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ
thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời
điểm thực hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả
nhất trong điều kiện cụ thể của mình...
Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội, môi trường kinh
doanh, môi trường an ninh - trật tự, an toàn trong quan hệ giữa người và người,
giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền... Ngoài những nỗ lực của nhà
nước trong sự đồng tình của nhân dân, không lực lượng nào khác có thể tạo lập
được những yêu cầu an toàn như vậy.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế
quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao, khi có tác nhân khởi thủy từ phía
nhà nước, được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. Bằng chính sách hội nhập đúng
đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó, nhà nước góp phần
khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Đại
diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực
luật pháp kinh tế, các hiệp định kinh tế, các nghị định thư..., Nhà nước ta góp
phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công
là chứng minh rõ rệt cho điều này.
Nhà nước ta là chủ thể chính của nền giáo dục - đào tạo. Bằng hệ thống
chính sách giáo dục, đào tạo của mình, được thực hiện qua hệ thống giáo dục đào tạo do Nhà nước thống nhất quản lý, dù tồn tại dưới nhiều loại hình khác
nhau (công lập, ngoài công lập, liên doanh, liên kết trong nước và với nước
ngoài...), Nhà nước cung cấp nguồn lao động chính, có chất lượng cho sản xuất
kinh doanh, cung cấp cán bộ quản trị doanh nghiệp cho mọi thành phần, mọi
loại hình kinh tế. Qua đó, Nhà nước ta có tác động rất mạnh và trực tiếp tới việc
nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế, nâng cao
hiệu quả của kinh tế thị trường nói chung.
19


Cùng với tác động của hệ thống luật kinh tế và sự đầu tư trực tiếp vào
kinh tế, Nhà nước còn định hướng nền kinh tế qua các công cụ gián tiếp là chính
sách kinh tế, như chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách thu
nhập và việc làm... Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc định hướng
sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có
tính nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và
chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định. Song, quy luật kinh tế thị trường
lại thuộc lĩnh vực quy luật xã hội. Tính khách quan của nó được thể hiện và thực
hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Dựa trên việc nhận thức
đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước
cụ thể hóa những yêu cầu đó thành luật, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng. Đây là nhân tố có tác
động trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thị trường vận động phù hợp với quy luật nội
tại của nó. Ở đây có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan. Song, sự thống
nhất đó chỉ có được, khi lợi ích chân chính mà nhà nước theo đuổi phù hợp với
quy luật phát triển khách quan của xã hội nói chung, của kinh tế thị trường nói
riêng; chủ thể nhà nước có năng lực trí tuệ đủ tầm để nắm bắt, vận dụng yêu cầu
của các quy luật kinh tế vào việc hoạch định các chính sách phát triển. Trong
điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay, xét về bản chất, Nhà nước ta là nhà nước
của dân, do dân, vì dân, lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển
khách quan của xã hội làm mục tiêu hoạt động của mình. Nhà nước ta lấy hệ tư
tưởng cách mạng và khoa học (chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
làm một trong những cơ sở xuất phát quan trọng để hoạch định chiến lược phát
triển kinh tế. Đó là hai nhân tố bảo đảm có sự thống nhất giữa tính khách quan
của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc
phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là một nhân tố chủ
quan tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế đó.
Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường trong 32 năm đổi mới cho
thấy, Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. Việc từng bước hoàn
20


thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp
phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn
cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế- xã hội.
Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, không ngừng được nâng cao:
thời kỳ 1986 - 1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt 4,5%/năm; 1996 - 2000:
7%/năm; 2001 - 2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt 8,48%. Năm 2008, dù phải đối
mặt với không ít khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là
6,23%. Năm 2015 là 6.58%, Mức tăng trưởng GDP năm 2016 là 6,21% tuy thấp
hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề
ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và thương mại toàn
cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường biển diễn biến
phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là một thành công,  GDP 2017 là
6,81%  dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2018 có thể sẽ đạt
mức 6,83%.

Để góp phần giữ vững độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế, từ đó có
độc lập tự chủ trên con đường phát triển đất nước nói chung, Nhà nước đã có
nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực, coi trọng tích lũy từ nội bộ
21


nền kinh tế. Trong năng lực nội sinh, chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con
người. Do vậy, Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục - đào tạo để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ
13,5% năm 1996 tăng lên 19,7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12,31% lực
lượng lao động được đào tạo, đến nay, tỷ lệ này đạt 31%. Theo thống kê của Bộ
GD-ĐT, tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện có 235 trường đại học,
học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường
có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào
tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm.
Về quy mô đào tạo, năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên đại học
1.767.879 sinh viên, giữ ổn định so với năm học 2015-2016; quy mô sinh viên
cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47.800 sinh viên.
Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực
thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện
Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,... Từ năm 1988 đến hết năm
2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm
2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của
khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; đào tạo
được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn vốn ODA
từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD,
trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế giới suy thoái,
nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ
USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD. Theo báo cáo của Cục Đầu tư
nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính chung 12 tháng năm 2017, vốn FDI
vào Việt Nam đạt 35,88 tỷ USD - mức cao nhất từ năm 2009. Khu vực FDI hiện
nay đóng góp khoảng 25% tổng vốn đầu tư cho xã hội và 20% GDP của cả
nước. Năm 2017, khu vực FDI chiếm tới 72% tổng giá trị xuất khẩu; đồng thời,
còn tạo công ăn việc làm cho nền kinh tế, góp phần ổn định tình hình xã hội.
hiện nay Khu vực FDI tạo ra khoảng 3,5 triệu việc làm trực tiếp và gần 5 triệu
việc làm gián tiếp…
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×