Tải bản đầy đủ

Bun thai va benh tom

Bùn thải ao nuôi tôm
Những năm gần đây, dịch bệnh đã phát sinh trên diện rộng, diễn biến rất
phức tạp gây nhiều thiệt hại đối với người nuôi trồng thủy sản, làm tôm chết, nhiều
hộ dân nuôi tôm, một số doanh nghiệp nuôi tôm phải lâm vào cảnh nợ nần, phá
sản. Lượng thức ăn dư thừa không tiêu thụ hết lắng xuống tạo ra nguồn thải rất dễ
phân hủy hữu cơ gây ô nhiễm môi trường nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Tình trạng bồi lắng kênh mương, ao vuông rất phổ biến do hai nguyên nhân
chính là bồi lắng tự nhiên cao và bơm bùn đáy ra kênh rạch của người nuôi tôm.
Hệ quả là khả năng cấp nước cho hệ thống ao đầm suy giảm và tăng chi phí nạo
vét. Nhiều địa phương không đủ vốn để duy trì việc nạo vét thường xuyên.
Hệ thống kênh rạch bị bồi lắng, môi trường nước tự nhiên bị ô nhiễm
nghiêm trọng nếu như không xử lý nguồn nước trong ao và bơm bùn đáy ao trong
nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh ra kênh rạch tự nhiên.
Mặt khác, hạ tầng phục vụ các vùng nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, hệ thống
thủy lợi vốn là hệ thống phục vụ cho nhu cầu canh tác nông nghiệp; nhiều khu nuôi
tôm chưa có kênh cấp, kênh xả riêng biệt, thậm chí nhiều đoạn kênh bị bồi lắng,
đáy kênh cao hơn đáy ao nuôi tôm. Hậu quả là mầm bệnh vẫn tồn lưu trong khu
nuôi tôm khi các ao tôm bị bệnh thải nước ra môi trường bên ngoài, nên khả năng
lây nhiễm rất cao.
1. Khái quát hoạt động nuôi tôm
Nuôi tôm nước mặn là một trong những thế mạnh kinh tế của các tỉnh ven

biển, góp phần rất lớn vào phát triển kinh tế của địa phương. Bên cạnh những kết
quả đạt được thì mô hình nuôi tôm thâm canh đang đối mặt với nhiều vấn đề môi
trường, trong đó bùn đáy ao nuôi tôm là một trong những chất thải ô nhiễm rất cần
được quan tâm xử lý. Bùn thải có hàm lượng tổng đạm và tổng lân ở mức khá giàu
nhưng hàm lượng chất hữu cơ ở mức trung bình (Nguyễn Văn Mạnh và Bùi Thị
Nga, 2014).
Trong những năm qua, nhờ sự hấp dẫn về lợi nhuận và thu nhập gắn với
điều kiện tự nhiên thuận lợi đã giúp các hộ NTTS tập trung vốn đầu tư phát triển
NTTS.
Việt Nam là một trong những nước có nghề nuôi tôm nước lợ thâm
canh phát triển mạnh. Hiệu quả từ việc nuôi tôm đã và đang mang lại lợi nhuận
kinh tế cao, cung cấp nguồn nguyên liệu tôm cho xuất khẩu, giải quyết việc làm
cho hàng triệu người lao động trong cả nước. Tuy vậy, những năm gần đây, sự
phát triển nhanh chóng của nghề này đang gây nhiều vấn đề về môi trường,
chẳng hạn làm giảm diện tích rừng ngập mặn, hay ô nhiễm cục bộ vùng nuôi tôm
tập trung, hoặc lây nhiễm nguồn bệnh từ tôm nuôi sang các thủy sản tự nhiên
trong vùng, và như vậy nó ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhiều nhóm
người đang dựa vào lợi ích của rừng mang lại. Cùng với sự phát triển tự phát,
nhiều ao nuôi tôm quảng canh đã dần được chuyển đổi thành ao nuôi thâm
1


canh, mà không kèm theo hệ thống cấp và thoát nước đạt yêu cầu, trại nuôi
không được bố trí ao xử lý chất thải, kết quả là chất lượng nước vùng xung
quanh bị ô nhiễm nghiêm trọng, là điều kiện để dịch bệnh bùng phát, gây thiệt hại
cho chính người nuôi tôm. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm môi trường còn gây
thiệt hại cho nhiều nhóm người khác như người khai thác thủy sản hay người
nuôi các đối tượng thủy sản khác, tình trạng môi trường nuôi ngày bị suy thoái
do phát triển tự phát, không tuân theo quy định, xả thải bừa bãi, sử dụng hóa
chất không đúng quy định, quản lý và xử lý dịch bệnh tùy tiện, ý thức cộng đồng
của người nuôi tôm còn thấp, v.v. Hệ quả là đời sống và sản xuất của nhiều
nhóm dân cư sống ven rừng, gồm cả nhóm người nuôi tôm, lâm vào cảnh khó
khăn.
- Quy hoạch: thiết kế ao nuôi không phù hợp cho thoát nước thải, nước cấp
không đầy đủ, lắng đọng nhiều chất dinh dưỡng trong đáy ao dẫn đến khả năng
tích tụ các chất độc, mầm bệnh.
- Chất thải trong ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh: nước thải và
bùn thải từ ao nuôi chứa chất bài tiết của tôm, các nguồn thức ăn dư thừa bị phân
hủy, các tồn dư của các hóa chất, các chất độc hại có trong đất phèn.
- Sử dụng thuốc, hoá chất: Thuốc và hoá chất tích tụ trong đáy ao và lắng


đọng vào trầm tích vùng ven bờ.
- Ý thức của người nuôi tôm: tình trạng lạm dụng thuốc và hoá chất trong
kiểm soát bệnh tôm, xử lý nước, xử lý đáy ao dẫn đến sự chai hoá đáy ao và suy
giảm chất lượng nguồn nước ven bờ.
2. Bệnh tôm và phương pháp xử lý
Bệnh của tôm phát sinh khi tôm không đủ sức đề kháng với những bất lợi
của môi trường nước ao nuôi; khác với môi trường trên cạn khi tôm bị bệnh việc
chuẩn đoán bệnh cho tôm chính xác và chữa trị bệnh gặp rất nhiều khó khăn, đòi
hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn. Do đó trong quá trình
nuôi tôm việc phòng bệnh cho tôm là vô cùng quan trọng còn trị bệnh là giải pháp
cuối cùng của tình thế.
2.1 Phòng bệnh cho tôm: Phòng bệnh tức là áp dụng các biện pháp cần
thiết để nâng cao sức đề kháng của tôm nuôi, tránh đưa mầm bệnh từ bên ngoài
vào ao nuôi, ngăn ngừa mầm bệnh đã có ở tôm phát triển và lây lan. Phòng bệnh
cho tôm gồm các biện pháp sau:
+ Cải tạo ao đầm nuôi đúng kỹ thuật.
+ Chọn tôm giống có chất lượng, nuôi tôm ở mật độ phù hợp với điều kiện
môi trường địa phương, trình độ kỹ thuật của các hộ nuôi, thả giống đúng kỹ
thuật, đúng mùa vụ.
+ Cho tôm ăn với loại thức ăn có chất lượng hạn chế tối đa thức ăn tươi
sống, cho ăn đúng lượng không thiếu, thừa.
+ Quản lý môi trường ao nuôi tốt, nước vùng nuôi phải sạch, không ảnh
2


hưởng nước thải công nghiệp, nước có mầm bệnh, hạn chế sử dụng nước từ vùng
sản xuất nông nghiệp đổ ra biển khi thời gian phun thuốc trừ sâu bệnh hại lúa.
Đối với ao chưa nhiễm bệnh, mà bên ngoài vùng ao đó đã có dấu hiệu
nhiễm bệnh thì tuyệt đối không được cấp nước từ ngoài vào.
2.2 Các dấu hiệu bên ngoài khi tôm bị bệnh
* Dấu hiệu về ban ngày:
+ Sáng sớm nằm rải rác ven bờ, chậm chạp dễ bắt
+ Kiểm tra ruột tôm thấy không có thức ăn
+ Tôm bơi lừ lừ đuôi không xoè rộng
+ Màu sắc của tôm mất đi vẻ tươi sáng, mô cơ trở lên trắng đục
* Dấu hiệu về ban đêm
+ Tối chiếu đèn quanh ao thấy tôm có triệu chứng bệnh sẽ bơi lơ lửng quanh
bờ, khi rọi đèn vào mắt tôm thì mắt đỏ không bình thường mà có màu trắng nhợt,
tôm bơi khỏi vùng chiếu sáng chậm chạp.
2.3 Bệnh tôm và cách trị bệnh: Đến nay người ta đã phân lập được 28 tác
nhân gây bệnh cho tôm nằm ở 4 nhóm bệnh:
- Nhóm bệnh do vi rút (đầu vàng, đốm trắng, MBV, HPV...)
- Nhóm bệnh do vi khuẩn (bệnh phát sáng, đốm màu, hoại cơ...)
- Nhóm bệnh do nhiều nhóm sinh vật (bệnh đóng rong, nguyên sinh động vật...)
- Nhóm bệnh do môi trường và dinh dưỡng: mềm vỏ, đỏ thân, thiếu vitaminC,
bệnh bọt khí do pH thấp, phồng nắp mang, toè đầu, xơ cứng đuôi.
a. Bệnh do vi rút gây ra (thường gặp ở Việt Nam) có hai bệnh chủ yếu:
* Bệnh thân đỏ đốm trắng (BV):
Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn tôm từ 40 - 50 ngày tuổi. Đốm trắng là các
ion Ca++ lắng đọng ở mặt vỏ. Nguyên nhân do vi rút BV gây ra, bệnh xuất hiện
khi môi trường xấu vi rút này có từ nguồn nước và các giáp xác hoang dã.
- Dấu hiệu bệnh lý: Tôm bỏ ăn, lờ đờ, trên thân xuất hiện nhiều đốm trắng nhỏ
đường kính
1mm nằm dưới lớp ki tin phần đầu ngực và các đốt bụng. Màu sắc của tôm khi
mắc bệnh dần biến từ màu hồng sang màu đỏ nâu, đuôi và chân bơi tôm bị cụt,
mang đổi màu.
- Tác hại: Các vi rút xâm nhập vào các cơ quan và phá huỷ mang, gan, tuỵ,
thần kinh, dạ dày làm tôm chết hàng loạt sau 5 - 7 ngày.
- Phương pháp xử lý tôm bị chết trên không có biện pháp xử lý bệnh nếu tôm
đạt kích cỡ có thể bán được nên tranh thủ thu hoạch nhanh. Ao tôm sau khi thu
hoạch phải xử lý tốt trước khi tháo nước ao ra ngoài bằng Clorin (30mg/m2
3


nước) trong vòng 3 - 5 ngày trước khi tháo ra.
* Bệnh đầu vàng (YHD)
Bệnh xuất hiện khi môi trường nuôi xấu. Vi rút gây bệnh trên có từ nguồn
nước và các loại giống: còng, cua, cáy, ghẹ... bệnh thường xuất hiện sau khi thả
giống đến trưởng thành.
- Dấu hiệu bệnh lý: Tôm khi mắc bệnh thấy sức ăn giảm đáng kể, tôm bơi
chậm chạp trên bờ mặt sát bờ ao nuôi và dừng lại ở trạng thái bất động. Tôm
bị bệnh lần đầu đặc trưng là mang có màu nhợt nhạt, (đầu vàng do gan tuỵ có
màu vàng nhạt bị vi rút phá huỷ).
- Tác hại: Bệnh gây chết nghiêm trọng 100% trong vòng 3 - 5 ngày kể từ khi
xuất hiện đầu tiên.
- Phòng bệnh: Áp dụng các phương pháp đã nói ở phần đầu.
- Trị bệnh: Hiện chưa có biện pháp xử lý bệnh tốt, cần thu hoạch khi tôm
chớm bệnh nếu đạt cỡ thu,
b. Bệnh do vi khuẩn gây ra:
* Bệnh phát sáng: Do vi khuẩn Vibrio harveyi gây ra, nếu tôm bị nhiễm sẽ
làm tôm phát sáng trong bóng tối
- Nguyên nhân: Do môi trường xấu
- Giai đoạn xuất hiện bệnh chủ yếu thời kỳ ấu trùng và hậu ấu trùng (thời kỳ
ương từ P15)
- Dấu hiệu bệnh lý: Tôm lờ đờ, kém ăn một số nổi lên mặt nước hoặc dạt vào
mép ao, trên cơ thể tôm nổi bị vi khuẩn phát sáng trong bóng tối, bệnh lây lan
nhanh ra quanh khu vực nếu phòng trị vệ sinh không tốt.
- Tác hại: Tôm bị nhiễm với lượng vi khuẩn phát sáng nhiều cơ thể bị tổn
thương có thể gây chết hàng loạt.
- Xử lý: Nước trước khi vào ao nuôi cần được xử lý bằng hoá chất Clorin 100
- 200 ppm + thuốc tím.
- Phòng bệnh: Quản lý môi trường nước ao tốt.
* Bệnh ngoài vỏ, đốm nâu, hoại tử phụ bộ
Do nhóm vi khuẩn Vibrio có khả năng phá vỏ lớp ki tin do môi trường xấu,
sức đề kháng của tôm giảm và cơ hội để mầm bệnh tôm phát triển.
- Giai đoạn bị bệnh: Tất cả các giai đoạn của tôm
- Dấu hiệu bệnh lý: các chỗ bị bệnh bị ăn mòn như phụ bộ, râu, mang, biểu bì
xung quanh và phần cuối của giáp đầu ngực giai đoạn bệnh nặng xuất hiện những
chấm có màu nâu nhạt.
- Nguyên nhân: Do môi trường ô nhiễm
- Tác hại gây tổn chuỳ trên vỏ, mắt, lột xác bị trở ngại di chuyển hoạt động
4


khó khăn, kém ăn gây tử vong nếu bệnh kéo dài
- Phòng bệnh như các giải pháp phòng bệnh tổng hợp
* Bệnh hoại cơ:
- Nguyên nhân: Do sốc mạnh và quá đột ngột với các yếu tố hàm lượng oxy
hoà tan, nhiệt độ nước, độ mặn, môi trường xấu.
- Giai đoạn bị bệnh: tất cả các giai đoạn.
- Dấu hiệu bệnh lý bệnh thường riêng lẻ tôm bị mốc trắng (màu đục sữa) ở
phần cơ của các đốt hay nơi bị hoại tử hai mép đuôi hư hại nên giòn dễ gẫy
(thường gọi bệnh thối đuôi).
- Tác hại: ảnh hưởng đén sự phát triển của tôm, chỗ bị hoại cơ là cơ sở đẻ mầm
bệnh khác phát triển.
- Phòng bệnh: áp dụng các giải pháp phòng bệnh tổng hợp.
c. Bệnh do nhóm sinh vật gây ra
* Bệnh đóng rong:
- Nguyên nhân: Do nhóm sinh vật gây ra gồm: một số nấm, nguyên sinh
động vật, nhóm tảo. Bệnh thường xảy ra ở những ao có nguồn nước bị ô nhiễm
nền đáy xấu, do nuôi ở mật độ cao, thức ăn dư thừa xử lý môi trường không
tốt, phiêu sinh vật phát triển mạnh.
- Giai đoạn bị bệnh: Tôm giống cỡ 2 - 3 cm (do nuôi ở mật độ cao tôm ở
những tháng cuối cùng môi trường đặc biệt đáy xấu.
- Dấu hiệu bệnh lý: Do môi trường nước ao xấu tôm yếu nên các sinh vật phủ
thành lớp trên vỏ mang, các đốt phụ bộ, tôm thường nổi lên mặt nước hay bám
vào thành bờ, tôm có màu xanh (do tảo lục bám) có màu vàng (do tảo khuê bám)
tôm bị bệnh nên chậm lớn, khó lột xác.
- Xử lý: quản lý môi trường tốt đặc biệt quan tâm sử dụng các chế phẩm vi
sinh BRF2, EM.
d. Bệnh do nguyên sinh động vật
- Nguyên nhân: do một số nguyên sinh động vật gây ra do môi trường bị bẩn
- Giai đoạn bị bệnh: tất cả các giai đoạn của tôm
- Dấu hiệu bệnh lý: Các sinh vật này bám thành một lớp trên bề mặt, mang,
bộ phụ, giáp đầu ngực của tôm (dấu hiệu này tương tự bệnh đóng rong) nhưng
tôm không đổi màu sắc.
- Phòng trị bệnh: xử lý môi trường tốt. Đồng thời dùng thuốc đặc trị: Baycox
cho vào thức ăn 2 - 3 ml/1kg thức ăn liên tục trong 5 - 7 ngày
e. Bệnh do môi trường có hàm lượng độc tố
* Mềm vỏ:
5


- Nguyên nhân do chất lượng thức ăn, cung cấp thức ăn không đủ, nguồn nước
bị nhiễm chất hoá học bất lợi như; nhiễm các loại thuốc dùng trong nông nghiệp
thải ra, nước thải công nghiệp có một số hoá chất có độc tính cao, đất có pH thấp.
- Giai đoạn bị bệnh: tất cả các giai đoạn của tôm
- Tác hại: tôm dễ bị tôm khác ăn thịt, các mầm bệnh tấn công
- Phòng trừ bệnh: cung cấp thức ăn đủ, chất lượng đảm bảo cho từng giai
đoạn, bổ xung một số chất bổ cần thiết trộn với thức ăn cho tôm ăn: VitaminC:
50 - 100mg/100kg thức ăn lúc giai đoạn tôm phát triển mạnh ở những tháng cuối
vụ nuôi cho ăn bổ sung: don, dắt...)
* Bệnh phồng nắp mang - đen mang
- Nguyên nhân: do nhiều nguyên nhân (hội chứng đen mang) nguồn nước bị
nhiễm kim loại nặng Fe, Cu, Co, Zn, Mn, do thiếu vitaminC, ao nuôi đáy quá
nhiều bùn nhiều chất hữu cơ tích tụ do thức ăn dư thừa, chất thải của tôm, pH
thấp. Thời gian mắc bệnh có thể bắt đầu từ tháng thứ 2 đặc biệt tập trung cuối vụ
nuôi.
- Dấu hiệu bệnh lý: mang chuyển từ màu hồng sang màu nâu -> màu đen, các
tia mang phồng lên, trở lên đen. Môi trường càng ô nhiễm bệnh càng nặng
- Tác hại: tôm hô hấp khó khăn, kém ăn, sức đề kháng giảm, tạo điều kiện cho
mầm bệnh phát triển.
- Phòng bệnh: không cho thức ăn dư thừa, thay nước thường xuyên, nạo hút
đáy (nếu có điều kiện), xử lý môi trường tốt tránh nguồn nước bị ô nhiễm. Bổ
sung vitaminC vào thức ăn của tôm
Ngoài một số bệnh thường gặp ở 4 nhóm trên tôm còn gặp các bệnh tuy không
phổ biến như: đỏ thân (do thức ăn hôi thối kém chất lượng) bệnh bọt khí (do lượng
oxy trong nước quá thấp thường nhỏ hơn 4 mg/lít) nổi đầu dạt vào bờ; bệnh do pH
thấp do đất xì phèn, hoặc sau cơn mưa vv... Song một trong những nguyên nhân
gây ra tất cả bệnh tôm là do môi trường không đảm bảo, biến động bất lợi.
Do đó, một vấn đề phải được hết sức quan tâm của các hộ nuôi tôm nếu mong
có một vụ nuôi tôm đạt kết quả là phải quản lý tốt môi trường nước ao nuôi.
3. Bùn thải lây lan dịch bệnh
Sau một vụ nuôi tôm mà không rút nước, không nạo vét, bón vôi, phơi
đáy, hoặc ao nuôi lâu ngày bỏ hoang không cải tạo với mức nước trong ao thấp
(<30 cm) vào mùa khô sẽ tạo điều kiện tốt cho tảo đáy phát triển. Sự phát triển
của nhiều thế hệ tảo chồng chất lên nhau làm cho đáy ao có một lớp phủ màu
xanh lam đen. Nếu cải tạo ao không kĩ, khi lấy nước vào ao, các lớp tảo chết từ
đáy ao bị bong tróc nổi lên liên tục đầy khắp mặt ao, gây trở ngại cho sự phát
triển của tôm mới thả. Các đê bao được hình thành khá lâu nhưng không có
kế hoạch duy tu bảo dưỡng sẽ trở nên lỏng lẻo, việc rò rỉ là không thể tránh khỏi.
Hệ thống sục khí oxi và hệ thống cánh quạt nước nếu không lắp đặt đúng cách
cũng làm cho oxi xuống sâu bên dưới lớp bùn đáy, đây cũng là tác nhân làm
6


cho phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động, làm giảm chất lượng nước ao
nuôi ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm hoặc làm cho
tôm chết. Hơn nữa, đáy ao có độ sâu không đồng bộ sẽ không phát huy được tác
dụng của quạt nước. Nếu phần đáy ao có mức nước <0,8m thì quạt nước sẽ xói
mòn đáy ao mạnh và nước sẽ bị đục. Nếu phần đáy ao có mức nước >1,2m thì
ảnh hưởng của quạt nước đến đáy ao sẽ bị hạn chế do đó các chất bẩn lắng tụ sẽ
không được cuốn đi một cách triệt để.
Các tác động đến môi trường và con người của hoạt động nuôi tôm
- Làm mất diện tích rừng ngập mặn, giảm khả năng ngăn ngừa xói lở bờ,
giảm khả năng xử lý chất thải và phá hoại nơi sinh sản và phát triển các loài thủy
sinh, động vật hoang dã…
- Giảm trữ lượng nguồn nước ngầm khu vực xung quanh vùng nuôi tôm.
- Làm cho hệ thống kênh rạch bị bồi lắng, môi trường nước tự nhiên bị ô
nhiễm.
- Làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của đất, làm oxy hóa tầng sinh
phèn và gây chua đất khi có nước, đất dễ bị rửa trôi, nghèo kiệt dinh dưỡng.
- Môi trường ô nhiễm gây thiệt hại về kinh tế, chất lượng sản phẩm.
- Ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khỏe của cộng đồng dân cư
khu vực nuôi tôm và lân cận.
4. Tác động của dịch bệnh
Hầu hết tôm nuôi bị chết là do nền đáy ao bị nhiễm bẩn nặng và chất
lượng nước xấu. Hệ quả là đã không ngừng cung cấp vào ao nuôi các loại khí
độc. Sự hòa tan khí độc tuy không đạt ngưỡng gây chết tôm nuôi nhưng sẽ rất có
hại do tạo ra các stress và làm giảm sức kháng bệnh ở tôm nuôi. Sự lan nhiễm
nhanh và tức thời của các mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút và nguyên sinh động
vật trong ao cùng lúc với sự xuất hiện hiện tượng nhiễm bẩn trong ao đã thúc
đẩy quá trình lây lan dịch bệnh.
Một số bệnh thường gặp trong nuôi tôm bao gồm: Bệnh truyền nhiễm do
virut, vi khuẩn, nấm; Bệnh kí sinh trùng; bệnh do dinh dưỡng; Bệnh do môi
trường; Sinh vật hại tôm.
Bệnh diễn ra trong mối tương tác giữa sự biến động khá lớn của môi
trường ao nuôi và sự phát triển của mầm bệnh trên tôm nuôi. Trong quá trình
nuôi, phần lớn người dân thả v ớ i m ậ t đ ộ dày, trong khi ao nuôi không được
cải thiện, môi trường nước ô nhiễm. Thực tế cho thấy mặc dù vừa mới cải tạo ao
xong nhưng số lượng vi khuẩn hiếu khí sinh H2S và nhóm Vibrio sp. hiện diện
trong nước và bùn ao khá cao, kể cả sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn gây
bệnh cho tôm.
Việc dùng vôi để cải tạo ao hay dùng dolomite để kiểm soát pH nước, đã
làm thay đổi tính chất đất ao nuôi tôm. Những chất này không mất đi mà lắng
đọng dưới đáy ao làm thay đổi thành phần chất đất, thay đổi pH đất, kéo theo sự
7


thay đổi hệ vi sinh vật đất; xuất hiện phèn tiềm ẩn từ hợp chất mùn (Nguyễn
Hữu Thọ, 2006). Bên cạnh đó, các các loại hóa chất như chlorine, thuốc tím và
những dẫn xuất của chúng lại có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế vi sinh vật có
trong môi trường, làm ảnh hưởng đến sự phân hủy thức ăn dư thừa trong ao
nuôi. Thức ăn thừa đã lắng đọng dưới đáy ao, cùng với chất thải rắn tạo vùng
yếm khí gây ra các biến đổi về chất lượng đất (Páez-Osuna, 2001).
Lây lan dịch bệnh ra môi trường xung quanh
Việc lây lan mầm bệnh có thể do các vật chủ trung gian (chim, cò, các
loại giáp xác, v.v.) mang từ trại nuôi ra ngoài, nhưng đó chỉ là phần rất thấp.
Phần lớn việc lây lan mầm bệnh là do nguồn nước từ các trại nuôi thải ra mang
mầm bệnh, mà chưa qua xử lý.
Thời gian qua, tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, ngoài
các bệnh đốm trắng, đầu vàng, taura,… thì hội chứng tôm chết sớm (EMS) là
vấn đề còn nhiều khó khăn, do chưa khẳng định chính xác được nguyên nhân
gây bệnh, nhưng hội chứng này đã gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người dân.
Do đó, cần kêu gọi ý thức của người nuôi tôm trong việc xử lý bệnh đúng quy
trình, để hạn chế tác động đến nguồn lợi tự nhiên và cuộc sống của các nhóm cư
dân khác. Hơn nữa, việc xây dựng đầy đủ hệ thống ao xử lý chất thải trong mỗi
trại nuôi là điều cần làm để giảm nguy cơ dịch bệnh bùng phát.
Các tác động tiêu cực cụ thể thường được người dân đề cập tới bao gồm:
đất vùng nuôi tôm bị thoái hóa, nước ở các thủy vực tự nhiên bị ô nhiễm dẫn
đến thiệt hại về nguồn lợi tự nhiên, suy lây lan mầm bệnh từ ao tôm ra khu vực
xung quanh cũng là mối đe dọa nhất là cho người nuôi thủy sản với hình thức
đơn giản, đất canh tác của các nghề khác bị cạnh tranh gay gắt,…
Từ thực tế như vậy, thiết nghĩ chính quyền địa phương nên cân nhắc kỹ
hơn về kế hoạch thâm canh hóa các vùng nuôi tôm hiện hữu để bảo đảm công
bằng quyền lợi giữa người nuôi tôm và các nhóm cộng đồng khác quanh các
vùng nuôi. Ngoài ra, nhà nước cũng cần tăng cường biện pháp tuyên truyền về
công tác quản lý tốt hơn trại nuôi và vùng nuôi để giảm thiểu tác động xấu lên
môi trường, khuyến khích và hỗ trợ cho người NTTC tiếp cận và áp dụng được
các tiến bộ khoa học – kỹ thuật và ổn định chất lượng môi trường vùng nuôi.
Các chất thải trong NTTS, bùn thải, các chất tồn dư, hóa chất, kháng sinh,…
là nguồn gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nguy hại. Dịch bệnh thủy sản nuôi gia
tăng và khó kiểm soát do NTTS không theo quy hoạch, gây xung đột với các
ngành khác như du lịch, giao thông đường thủy, và khai thác thủy sản. Nguồn ô
nhiễm từ NTTS đổ ra hệ thống kênh, vùng biển ven bờ ảnh hưởng đến hệ sinh thái
chung, tác động xấu đến nguồn lợi thủy sản ven bờ. Các loại bệnh nguy hiểm cho
thủy sản nuôi tăng do sử dụng tràn lan hóa chất, kháng sinh trong điều trị bệnh
thủy sản nên nhiều loại bệnh thủy sản bị kháng thuốc. Việc bùng phát dịch bệnh
còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, sản xuất giống thủy sản.
NTTS nước lợ, mặn ven biển cần một lượng thức ăn lớn đã tạo ra lượng chất
thải lớn gây ô nhiễm, phát sinh dịch bệnh và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
8


xung quanh. Sự phát triển của tảo độc do lượng Nito và Photpho quá cao, gây lắng
đọng trầm tích, thiếu oxy ở bên dưới.
Tình hình dịch bệnh thủy sản nuôi
Một số bệnh thường gặp ở tôm thẻ chân trắng, tôm sú là bệnh hoại tử gan
tụy, đốm trắng, đỏ thân, đen đầu… tác nhân gây bệnh được xác định do virus
MBV (Võ Văn Nha, 2014 – 2015) và đốm trắng trong đó bệnh đốm trắng gây thiệt
hại nặng nhất.
Để phát triển nghề nuôi tôm sú, vấn đề môi trường ao nuôi cần được
giải quyết thỏa đáng, đặc biệt là các khí độc như ammonia, hydrogen sulfide
phát sinh từ lớp bùn, đáy ao nuôi. Bùn ao nuôi trong các mô hình, bao gồm
hỗn hợp của chất hữu cơ, đặc biệt là các chất đạm dễ phân hủy có sẵn trong đất,
tảo chết, thức ăn dư thừa…. Chúng phân hủy thành các khí độc ammonia,
hydrogen sulfide… ở các tỉ lệ khác nhau. Các quá trình này diễn ra rất phức
tạp, qua nhiều giai đoạn và phụ thuộc nhiều yếu tố, có thể minh họa bằng
một số phương trình cụ thể:
NH2-CH2-COOH + 3/2O2 = NH3 + 2CO2 + H2O
NH2-CH2-COOH + 2H2O = NH3 + 2CO2 + 3H2
Trong điều kiện yếm khí một số loài vi khuẩn Desulfovibrio,
Desulfotomaculum sử dụng oxy của sulphate để oxy hoá chất hữu cơ, sản
phẩm tạo thành là acid hữu cơ, nước và sulfide (S2-)
2R-CH2-OH + SO4= 2R-COOH + 2H O + S25. Giải pháp
Công tác cải tạo ao, nhất là xử lý nền đáy ao phải được quan tâm đúng mức.
Đây được xem là phần kỹ thuật có tính chất quyết định trong quá trình nuôi tôm.
Việc làm này sẽ làm giảm lượng khí độc như NH 3, H2S, CH4, cũng như các mầm
bệnh tích tụ trong đáy ao ở vụ trước. Nếu việc cải tạo ao không tốt, ao nuôi tôm sẽ
diễn biến theo chiều hướng có hại, sản lượng tôm sẽ thấp dần, đi đến thoái hóa và
không đảm bảo lợi ích kinh tế.
Tăng cường công tác tập huấn cho hộ NTTS. Nội dung của các lớp tập
huấn nên tập trung vào xử lý nguồn nước, xử lý nước trong ao nuôi thủy sản, các
kỹ thuật nuôi thủy sản thâm canh.
Khuyến khích và tạo điều kiện các hộ NTTS theo hình thức thâm canh,
NTTS tập trung, theo hướng trang trại. Đây là tiền đề để các hộ áp dụng các biện
pháp bảo vệ môi trường và giảm rủi ro.
Bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản luật pháp quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường NTTS.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về ý thức và trách nhiệm
BVMT trong các hộ NTTS. Tăng cường thể chế, pháp luật, chính sách và quản
9


lý nhà nước về BVMT NTTS. Tăng cường các chương trình ứng dụng khoa
học kỹ thuật NTTS và BVMT.
Tăng cường các biện pháp kỹ thuật thích hợp để khoáng hóa triệt để chất
hữu cơ trong bùn đáy, hoặc sên vét sạch bùn đáy ao sau mỗi vụ nuôi. Kỹ thuật
nuôi cần phải kiểm soát được tảo trong ao nuôi, hạn chế tối đa việc tích lũy thức
ăn dư thừa trong ao nuôi. Tăng cường trao đổi nước, cải thiện chế độ oxy hòa tan
vào đáy ao.
Tiếp tục nghiên cứu để làm rỏ thêm quá trình phát sinh và phát tán
ammnonia, hydrogensulfide từ bùn đáy ao vào nguồn nước ao nuôi. Nghiên cứu
các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu có hiệu qủa kinh tế để khử triệt để nồng độ
ammonia, hydrogensulfide trong môi trường ao nuôi.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×