Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây dựng số 1 – VINACONEX.DOC

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực tài chính là một nguồn lực không thể thiếu cho sự tồn tại và
phát triển của một doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải có cách thức
quản lý phù hợp để sử dụng nguồn lực này một cách có hiệu quả nhất.
VINACONEX 1 là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản, đây là một lĩnh vực đòi hỏi tiềm lực về tài chính lớn. Hoạt động
của Công ty lại chủ yếu gắn với các dự án đầu tư với số vốn lớn, thời gian thi
công và thu hồi vốn lại kéo dài nên sẽ có nhiều mối quan hệ tài chính phát
sinh. Công ty lại trực thuộc một tổng công ty lớn là Tổng công ty
VINACONEX với nhiều đơn vị thành viên, vì vậy cần thiết phải có một cách
thức quản lý tài chính khoa học và hiệu quả, nhất là trong môi trường tài
chính phát triển sôi động nhưng cũng đầy biến động hiện nay.
Nền kinh tế thị trường hiện nay phát sinh rất nhiều các mối quan hệ tài
chính phức tạp đòi hỏi công việc quản lý tài chính cần được chuyên nghiệp và
chuyên môn hóa. Đặc biệt không nên có sự nhầm lẫn giữa công việc tài chính
và công việc kế toán.
Xuất phát từ những nhận thức như trên nên em đã quyết định nghiên cứu đề
tài:
“Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây dựng số 1

– VINACONEX ”.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung chuyên đề tập trung nghiên cứu công tác quản lý tài chính tại
Công ty cổ phần số 1 – VINACONEX, phân tích sơ bộ tình hình tài chính của
Công ty để từ đó thấy được hiệu quả của công tác quản lý tài chính; những
điểm mạnh, điểm yếu đồng thời đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện
công tác quản lý tài chính tại Công ty.
3. Phạm vi nghiên cứu
Công việc quản lý tài chính là một công việc phức tạp, đòi hỏi cả kiến
thức kỹ năng quản lý lẫn kiến thức chuyên ngành tài chính. Do hạn chế về
kiến thức chuyên ngành nên chuyên đề của em không đi sâu vào phân tích
khía cạnh tài chính dưới góc độ chuyên ngành mà chỉ tập trung vào khía cạnh
quản lý tài chính như quản lý một nguồn lực của doanh nghiệp. Thời kỳ
nghiên cứu của chuyên đề cũng chỉ giới hạn trong ba năm trở lại đây
(2005-2007).
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề được thực hiện chủ yếu dựa trên việc thu thập, tổng hợp các
số liệu từ Phòng Tài chính – Kế toán của Công ty và tài liệu về cơ sở lý thuyết
từ các sách, giáo trình và internet. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để
phân tích là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ.
5. Kết cấu chuyên đề
Kết cấu chuyên đề gồm ba chương chính:
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1: Những kiến thức lý luận cơ bản về tài chính doanh nghiệp và quản
lý tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính doanh nghiệp tại Công ty cổ phần
xây dựng số 1 – VINACONEX .
Chương 3: Những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài
chính tại Công ty cổ phần xây dựng số 1 – VINACONEX .
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Khoa học quản lý –
Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã giảng dạy em trong thời gian vừa qua và
đặc biệt em xin cảm ơn TS. Hồ Thị Bích Vân là người đã trực tiếp hướng dẫn
em trong suốt quá trình thực tập. Quá trình học tập đã giúp em tích lũy được
nhiều kiến thức hữu ích và ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn.
Em cũng xin cảm ơn các cô chú, các chị tại Phòng Tài chính – Kế toán
Công ty cổ phần xây dựng số 1 – VINACONEX đã tạo điều kiện cho em thực
tập và cung cấp những tài liệu, thông tin cần thiết để em hoàn thành chuyên
đề thực tập này.
Sinh viên: Trần Thị Lan Phương
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN
LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình
thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
nhằm phục vụ qua trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và góp phần tích
lũy vốn cho Nhà nước.
Các quan hệ tài chính của một doanh nghiệp bao gồm:
 Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước:
Doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có nghĩa
vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định. Bên cạnh đó còn là mối quan hệ
giữa DNNN với chủ sở hữu Nhà nước.
 Quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính:
Doanh nghiệp có thể tham gia vào thị trường tài chính vừa với tư cách
là nhà đầu tư tài chính, vừa với tư cách là người huy động vốn.
 Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một doanh nghiệp sẽ có mối
quan hệ với rất nhiều doanh nghiệp khác, một bên ở thị trường các yếu tố đầu
vào, một bên ở thị trường sản phẩm đầu ra.
 Quan hệ tài chính nội bộ doanh nghiệp:
Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp được thể hiện ở quan
hệ hạch toán nội bộ và quan hệ phân phối kết quả kinh doanh.
1.1.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có ba chức năng chính:
Chức năng tạo vốn đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh:
Vốn là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Thông qua tài chính doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ giải quyết các vấn đề
về vốn như tổ chức huy động vốn, lựa chọn nguồn vốn, cơ cấu vốn, sử dụng
nguồn vốn có hiệu quả mang lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp
Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền: Thu nhập bằng tiền của
doanh nghiệp trước hết sẽ được dành để bù đắp các chi phí sản xuất kinh
doanh (tiền mua nguyên nhiên vật liệu, hao mòn máy móc, tiền lương, thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước…), sau đó là để hình thành nên các quỹ của
doanh nghiệp, để trả lợi tức cổ phần.
Chức năng kiểm tra bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh:
Căn cứ vào tình hình thu chi, các chỉ tiêu tài chính để thấy được tình hình sản
xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nhà
quản lý có thể đánh giá việc điều hành, hiệu quả của công tác quản lý để có
thể đưa ra những quyết định cần thiết.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ba chức năng trên có quan hệ mật thiết với nhau, chức năng kiểm tra là
thường xuyên trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, góp phần
định hướng cho phân phối và tạo vốn. Ngược lại, việc tạo vốn và phân phối
tốt sẽ góp phần khai thông các luồng tài chính, thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng kiểm tra.
1.2. Quản lý tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm - vai trò - mục tiêu
Quản lý tài chính doanh nghiệp là sự tác động của nhà quản lý tới các
hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua một cơ
chế, đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tài chính
doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và
công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính có vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý nói
chung của doanh nghiệp. Đầu tiên phải kể đến đó là việc QLTC tốt sẽ đảm
bảo cho nhu cầu về vốn hoạt động của doanh nghiệp, hơn nữa việc lựa chọn
nguồn vốn phù hợp cũng góp phần giúp doanh nghiệp không phải đối mặt với
những khó khăn về thanh toán. Việc QLTC cũng giúp cho doanh nghiệp sử
dụng vốn thêm hiệu quả, phối hợp được các lĩnh vực quản lý khác giúp cho
hoạt động của doanh nghiệp. QLTC tốt cũng góp phần nâng cao uy tín của
doanh nghiệp trong các mối quan hệ, đồng thời giải quyết các mối quan hệ về
lợi ích trong doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác
nhau nhưng bao trùm nhất vẫn là mục tiêu tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bởi doanh nghiệp nào cũng phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định. Đối với
DNNN, Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và lợi ích của chủ sở hữu là lợi ích
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với doanh nghiệp tư nhân, mục tiêu là
tối đa hóa lợi nhuận. Đối với doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, mục tiêu là tối
đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, mang lại lợi ích cho các cổ đông. Đối
với các công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán thì đó là tối
đa hóa giá trị thị trường của các cổ phiếu.
1.2.3. Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
 Tôn trọng luật pháp: Đây là nguyên tắc đầu tiên vì môi trường
mà doanh nghiệp tham gia vào có sự có mặt của luật pháp.
Doanh nghiệp dù muốn hay không muốn vẫn phải tôn trọng luật
pháp. Nếu không cho dù tạm thời chưa gây nguy hại gì cho
doanh nghiệp nhưng rất có hại cho tương lai phát triển lâu dài
của doanh nghiệp.
 Tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh: Hạch toán kinh
doanh là nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với hoạt động của nền
kinh tế thị trường. Viêj thực hiện nguyên tắc này cũng hướng
doanh nghiệp vào một loạt các biện pháp như: chủ động tận dụng
khai thác nguồn vốn, bảo toàn và phát huy hiệu quả đồng vốn,
đầu tư tuân thủ theo những nguyên tắc của thị trường… Đây đều
là những điều kiện để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có
hiệu quả
 Nguyên tắc an toàn và hiệu quả: Nguyên tắc này cần được quán
triệt trong mọi khâu của quá trình quản lý tài chính. Khi đưa ra
một quyết định tài chính cần phải xem xét nhiều phương án, cân
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhắc trên nhiều góc độ để đưa ra một phương án vững chắc cho
hoạt động của doanh nghiệp.
 Giữ chữ “tín” trong hoạt động tài chính: Đây không chỉ là
nguyên tắc mà còn là tiêu chuẩn đạo đức cả trong hoạt động tài
chính lẫn hoạt động kinh doanh. Giữ chữ tín thể hiện mong muốn
hướng đến làm ăn lâu dài. Tuy giữ chữ tín nhưng đồng thời cần
tỉnh táo đề phòng đối phương bội tín.
1.2.4. Các nội dung cơ bản của quản lý tài chính doanh nghiệp
Nội dung của quản lý tài chính chính là việc thực hiện các chức năng
của quản lý tài chính, được thể hiện ở việc đảm bảo đủ nguồn tài chính cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh
toán, khả năng huy động và sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả.
1.2.4.1. Phân tích tài chính
Để đương đầu với những thách thức trong kinh doanh, các hoạt động
của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở nền tảng của công tác hoạch định.
Việc hoạch định thường có hai mức: cấp chiến lược và cấp chiến thuật. Phân
tích tài chính là trọng tâm của cả hoạch định chiến lược và hoạch định chiến
thuật. Không chỉ có thế, phân tích tài chính còn là công việc mà bất cứ đối
tượng nào quan tâm đến doanh nghiệp đều không thể bỏ qua. Bởi thông qua
phân tích tài chính có thể cho ta thấy được kết quả của công tác quản lý tài
chính: đó là thực trạng tài chính, những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là một quá trình mà nhà quản lý tài chính sử dụng
các phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm
lực của một tổ chức, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp.
Để tiến hành phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng
mọi nguồn thông tin: Từ thông tin nội bộ cho đến những thông tin bên ngoài
doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị, từ thông tin chung
cho đến những thông tin về ngành kinh tế… Tuy nhiên, thường được sử dụng
rộng rãi và cũng có thể đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của
doanh nghiệp là các thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp. Đây cũng là
nguồn tin quan trọng bậc nhất trong phân tích tài chính. Phân tích tài chính
được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính – được hình thành thông qua
việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh, Báo cáo ngân quỹ (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Về phương pháp phân tích thì có nhiều phương pháp nhưng thường
được sử dụng nhất vẫn là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ
lệ.
Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích
bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Người ta
có thể so sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính
của doanh nghiệp; so sánh với mức trung bình của ngành trong cùng kỳ để
thấy hiện trạng tài chính của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác; có
thể so sánh chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng thể; có
thể so sánh chiều ngang để thấy được sự biến đổi cả về số tuyệt đối và số
tương đối của một khoản mục nào đó qua các kỳ kế toán liên tiếp. Để áp dụng
phương pháp này cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánh được của các
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chỉ tiêu tài chính (về thời gian, không gian, đơn vị tính toán…) và xác định
gốc so sánh thích hợp tùy theo mục đích phân tích.
Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này xem xét các mối quan
hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Phương pháp này đòi hỏi phải xác định
được các ngưỡng, các tỷ số tham chiếu; dựa vào việc so sánh các tỷ số tài
chính của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu để đánh giá tình trạng tài
chính của doanh nghiệp. Nhà phân tích có thể sánh theo thời gian (so sánh kỳ
này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi trong tình hình tài chính của
doanh nghiệp, có thể so sánh theo không gian (so sánh với mức trung bình
của ngành) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành.
Nội dung phân tích tài chính:
Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn: Dựa vào Bảng cân đối kế toán
có thể cho ta thấy được tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Tình
hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp được đánh giá trên các khía cạnh:
Đánh giá khái quát sự tăng giảm tổng tài sản, tổng nguồn vốn; mối quan hệ
cân đối giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp; phân tích kết cấu tài sản
và kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Các khoản mục chủ
yếu cần tiến hành phân tích bao gồm: Doanh thu, giá vốn hàng bán, lãi gộp,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý kinh doanh, chi phí tài chính, lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh, tổng lợi nhuận trước và sau thuế.
Phân tích các tỷ số tài chính: Có bốn nhóm tỷ số tài chính cần phân
tích:
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng
để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp.
- Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn
- Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Dự trữ)/Nợ ngắn hạn
• Tỷ số về khả năng cân đối vốn:
- Hệ số nợ = Tổng số nợ/Tổng tài sản
- Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Lãi vay
• Tỷ số về khả năng hoạt động:
- Số vòng quay tồn kho = Doanh thu tiêu thụ/Trị giá hàng tồn kho bình quân
- Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
×
360/Doanh thu
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu/Tài sản cố định
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu/Tổng tài sản
• Tỷ số về khả năng sinh lãi:
- Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE (Doanh lợi vốn chủ sở
hữu):
ROE = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ sở hữu
- Tỷ số thu nhập sau thuế trên tài sản ROA (Doanh lợi tài sản):
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ROA = Thu nhập sau thuế/Tổng tài sản
1.2.4.2. Hoạch định tài chính
Lập kế hoạch là công việc có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ quá trình
quản lý. Tương tự như thế, đối với quản lý tài chính, hoạch định tài chính hay
thực chất là lập kế hoạch tài chính là khâu có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ
hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp. Lập kế hoạch tài chính là việc
dự toán các khoản thu-chi của ngân sách, trên cơ sở đó lựa chọn các phương
án hoạt động tài chính cho tương lai của tổ chức và ấn định sự kiểm soát đối
với các bộ phận trong tổ chức.
Hoạch định tài chính là chìa khóa thành công cho hoạt động quản lý nói
chung và quản lý tài chính doanh nghiệp nói riêng. Bất cứ doanh nghiệp nào
bước vào hoạt động cũng có một mục tiêu nhất định và hoạch định tài chính
là nhằm cụ thể hóa các mục tiêu đó bằng các kế hoạch tài chính. Việc hoạch
định tài chính sẽ giúp cho các nguồn tài chính được sử dụng một cách hiệu
quả, góp phần đảm bảo tiến độ cho các kế hoạch khác của doanh nghiệp. Hơn
thế nữa, trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay, việc hoạch
định tài chính sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những biến động của
thị trường
Việc hoạch định tài chính có thể diễn ra theo các bước như các quá
trình lập kế hoạch khác:
• B1: Xác định việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp mà kế
hoạch hướng đến
• B2: Nghiên cứu và dự báo
• B3: Xác định mục tiêu tài chính cho từng giai đoạn phát triển
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• B4: Xây dựng các phương án kế hoạch
• B5: Lựa chọn phương án kế hoạch tối ưu
• B6: Quyết định phương án kế hoạch và thể chế hóa kế hoạch
Từ việc phân tích tài chính doanh nghiệp cùng với các yếu tố khác
thuộc môi trường bên trong và bên ngoài, kết hợp với việc dự báo các xu
hướng tài chính, các mục tiêu tài chính cho từng giai đoạn sẽ được thiết lập.
Từ đây, các phương án kế hoạch được thiết lập để chọn ra phương án kế
hoạch tối ưu. Các mục tiêu tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu
chung và kế hoạch tài chính có quan hệ mật thiết tới các kế hoạch của doanh
nghiệp. Một khi phương án kế hoạch đã được lựa chọn thì bước tiếp theo sẽ là
việc thể chế hóa kế hoạch, phổ biến việc thực hiện kế hoạch tới từng đơn vị
liên quan.
Một kế hoạch tài chính tốt phải là một kế hoạch mà doanh nghiệp có
khả năng thực hiện được, góp phần thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp,
hỗ trợ tốt việc thực hiện các kế hoạch khác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, có khả năng đương đầu với sự biến
động trong kinh doanh. Tuy nhiên thị trường luôn có những biến động không
ngừng và một kế hoạch không tránh khỏi nguy cơ bị lạc hậu, đặc biệt là các
kế hoạch trong dài hạn. Vì vậy cần phải có sự theo dõi sát sao việc thực hiện
các kế hoạch để đưa ra những điều chỉnh kịp thời và có thể là phải xây dựng
một kế hoạch mới nếu cần thiết.
1.2.4.3. Quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp
 Quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được đầu tư
vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn của doanh nghiệp bao gồm hai
bộ phận: Vốn chủ sở hữu và nợ. Nguồn vốn thể hiện nguồn hình thành của tài
sản. Như vậy, quản lý nguồn vốn cũng chính là quản lý nguồn hình thành vốn
của doanh nghiệp. Trong quản lý nguồn vốn, việc huy động vốn là vấn đề hết
sức đáng quan tâm.
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi
doanh nghiệp có các cơ chế huy động vốn khác nhau. Cơ chế huy động vốn là
tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được sử dụng trong việc huy
động vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức tự tài
trợ từ vốn góp của chủ sở hữu, từ lợi nhuận không chia hoặc phát hành cổ
phiếu. Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng phương thức nợ từ nguồn vốn tín
dụng thương mại, tín dụng ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. Mỗi loại vốn
lại có một chi phí nhất định để doanh nghiệp có thể sử dụng vì vậy doanh
nghiệp cần phải cân nhắc tính toán thật kỹ chi phí cơ hội khi sử dụng mỗi loại
vốn. Đồng thời doanh nghiệp phải xây dựng một cơ cấu vốn (tỷ trọng của mỗi
nguồn trong tổng nguồn) thích hợp góp phần đảm bảo một cơ chế tài chính
lành mạnh.
 Quản lý vốn hoạt động của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp được đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Như vậy việc quản lý vốn của
doanh nghiệp gắn liền với việc quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hoạt động quản lý tài sản trong doanh nghiệp bao gồm những nội dung
cơ bản: Quản lý tài sản lưu động, quản lý tài sản cố định và quản lý quỹ khấu
hao.
- Quản lý tài sản lưu động
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân
chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong Bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng
khoán thanh khoản cao, khoản phải thu và dự trữ tồn kho.
Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao: Tiền trong ngân
quỹ của doanh nghiệp không sinh lời tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh
hàng ngày doanh nghiệp vẫn phải duy trì một lượng tiền mặt nhất định để có
thể chớp được những cơ hội trong kinh doanh hoặc đối phó với những biến
động không lường trước. Các chứng khoán có tính thanh khoản cao có vai trò
như một bước đệm cho tiền mặt vì khi cần thiết doanh nghiệp có thể nhanh
chóng bán đi để thu tiền về.
Quản lý khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương
mại là không thể thiếu. Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp
đứng vững trên thị trường nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro. Để đảm
bảo khả năng thu hồi vốn, việc phân tích khả năng tín dụng của khách hàng là
công việc cần được tiến hành cẩn thận và kỹ lưỡng, doanh nghiệp cần có các
tiêu chuẩn tín dụng thích hợp. Bên cạnh đó, chữ “tín” cũng là một yếu tố hết
sức quan trọng.
Quản lý dự trữ tồn kho: Hàng hóa dự trữ tồn kho là bước đệm cần thiết
cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng hóa dự trữ tồn
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kho có ba loại: Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Lượng tồn
kho cần được tính toán ở mức độ thích hợp để phục vụ kịp thời cho khâu sản
xuất kinh doanh, đồng thời tốn kém chi phí ở mức độ vừa phải, tránh gây ứ
đọng vốn; cần thường xuyên phân tích tình hình, có kế hoạch kiểm tra giám
sát, sử dụng thích hợp tránh gây thất thoát lãng phí.
- Quản lý tài sản cố định
Việc quản lý TSCĐ bao gồm quản lý TSCĐ và quản lý quỹ khấu hao
của doanh nghiệp. Do TSCĐ có giá trị lớn, không thể chuyển hết giá trị một
lần vào chi phí sản xuất, hơn nữa lại bị hao mòn nên trong mỗi chu kỳ người
ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương lượng hao mòn vào giá thành
sản phẩm. Nhà quản lý tài chính cần tính mức khấu hao sao cho phù hợp với
thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp để không ảnh hưởng nhiều đến giá
thành sản phẩm, lại bảo đảm việc thu hồi vốn cho doanh nghiệp.
 Quản lý đầu tư của doanh nghiệp
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những
tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động này được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu
tư.
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục
tiêu, phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong muốn.
Đầu tư là hoạt động quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng
của doanh nghiệp. Vì vậy, để đáp ứng được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản
của chủ sở hữu, hoạt động đầu tư cần được tiến hành một cách bài bản, có
chiến lược trong việc tìm kiếm, lựa chọn và có sự kiểm soát chặt chẽ trong
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc thực hiện các dự án đầu tư. Nếu không dễ dẫn đến tình trạng đầu tư lãng
phí gây tổn hại đến nguồn lực của doanh nghiệp và lợi ích của nhà đầu tư.
Có nhiều cách phân loại đầu tư tùy theo mục đích khác nhau. Theo cơ
cấu tài sản đầu tư, có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp thành:
- Đầu tư tài sản cố định: Đây là hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở
rộng tài sản cố định của doanh nghiệp. Loại đầu tư này thường chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng đầu tư của doanh nghiệp.
- Đầu tư tài sản lưu động: Đây là khoản đầu tư nhằm hình thành các tài sản
lưu động cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nhu cầu đầu tư loại này phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh và nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp.
- Đầu tư tài sản tài chính: Đây là khoản đầu tư vào các tài sản tài chính như
cổ phiếu, trái phiếu hoặc tham gia góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác.
Đầu tư tài chính ngày càng có tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các
doanh nghiệp.
Căn cứ để ra quyết định đầu tư:
- Lợi ích do dự án đem lại và thời gian thu hồi vốn.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Thị trường và cạnh tranh.
- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.4.4. Kiểm tra tài chính
Kiểm tra trong hoạt động quản lý là quá trình xem xét các hoạt động
nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời giúp
phát hiện những sai sót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục, bảo đảm cho hoạt
động thực hiện đúng hướng.
Kiểm tra tài chính là một hoạt động rất quan trọng trong quản lý. Kiểm
tra tài chính góp phần bảo đảm hình thành các cân đối tỷ lệ trong phân phối
các nguồn tài chính, hiệu quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ bảo
toàn vốn và làm tăng thêm các nguồn tài chính của doanh nghiệp. Kiểm tra tài
chính mang tính chất tổng hợp và thường xuyên trong mọi hoạt động sử dụng
tiền tệ gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ. Phạm vi của kiểm tra
tài chính bao trùm lên tất cả các mặt, các lĩnh vực trong hoạt động kinh tế-tài
chính. Tổ chức kiểm tra tài chính một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản lý
nắm chính xác, toàn diện về tình hình tài chính để điều hành và kiểm soát các
mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phát hiện kịp
thời những tồn tại và nhanh chóng đưa ra những quyết định điều chỉnh phù
hợp.
Để đạt được hiệu quả, công tác kiểm tra tài chính cần phải tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ
cập.
- Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kiểm tra tài chính là công tác thường xuyên, diễn ra trong mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Có rất nhiều cách thức để tiến hành kiểm tra: có thể
kiểm tra toàn diện tổ chức và việc thực hiện kế hoạch tài chính; có thể kiểm
tra chuyên đề (kiểm tra trọng điểm) chỉ tập trung vào một vài nghiệp vụ tài
chính nhất định cần quan tâm hoặc một bộ phận quan trọng nào đó; có thể
kiểm tra điển hình (kiểm tra chọn mẫu) lựa chọn một số đơn vị hoặc nghiệp
vụ tài chính đặc trưng làm điển hình để kiểm tra; có thể kiểm tra qua chứng từ
(kiểm tra gián tiếp) dựa vào các chứng từ, sổ sách, báo biểu, báo cáo… của
đơn vị được kiểm tra; cũng có thể kiểm tra thực tế (kiểm tra trực tiếp) tại nơi
diễn ra các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị chịu sự kiểm tra. Mỗi
phương pháp kiểm tra có những ưu và nhược điểm nhất định do đó cán bộ
làm công tác kiểm tra tài chính cần kết hợp chặt chẽ các phương pháp trên,
tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn phương pháp kiểm tra cho phù hợp.
2.4.5. Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của các hoạt động tài chính nói chung và hoạt
động tài chính doanh nghiệp nói riêng thì vai trò của bộ máy quản lý tài chính
ngày càng được chú trọng. Đứng đầu bộ máy quản lý tài chính của công ty
thường là Giám đốc tài chính hay CFO (Chief Financial Official). Tuy nhiên
ở Việt Nam vị trí Giám đốc tài chính này chưa được phổ biến mà thường thấy
là một phó giám đốc hoặt giám đốc thứ nhất kiêm nhiệm chức danh này.
Trong các doanh nghiệp lớn, các quyết định về tài chính thường do một ủy
ban tài chính đưa ra. Trong các doanh nghiệp nhỏ thì chính chủ nhân của
doanh nghiệp đó sẽ chịu trách nhiệm về các quyết định tài chính.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên dưới Giám đốc tài chính là cả một bộ máy Phòng, ban tài chính
đảm bảo cung cấp thông tin một cách thường xuyên, chính xác, kịp thời cho
quá trình điều hành hoạt động tài chính trong doanh nghiệp.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tài chính trong công ty
(Nguồn: Tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, môn học Phân tích
tài chính)
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
21
Phòng Tài chính
Hoạch định đầu tư vốn
Quản trị tiền mặt
Quan hệ giao dịch với Ngân
hàng
Quản trị khoản phải thu
Phân chia cổ tức
Phân tích và hoạch định tài
chính
Quan hệ với nhà đầu tư
Quản trị bảo hiểm và rủi ro
Phòng Kế toán
Kế toán chi phí
Quản trị chi phí
Xử lý dữ liệu
Sổ sách kế toán
Báo cáo cho cơ quan Nhà
nước
Kiểm soát nội bộ
Lập các báo cáo tài chính
Lập kế hoạch tài chính
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐÔC
PHÓ GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH
PHÓ GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.4.6. Hệ thống thông tin quản lý tài chính
Để có thể đưa ra những quyết định phù hợp và kịp thời, nhà quản lý tài
chính cần có thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời. Do vậy, việc tổ chức thu
thập, phân loại và tích lũy thông tin là hết sức cần thiết cho hoạt động quản lý
tài chính.
Thông tin kế toán là tiền đề cho thông tin tài chính. Thông tin kế toán là
các thông tin được phòng kế toán ghi nhận sau mỗi nghiệp vụ kinh tế phát
sinh. Thông tin kế toán này sau đó được sử dụng để tạo ra các thông tin tài
chính phục vụ cho việc ra các quyết định. Sơ đồ 1.2 mô tả việc sử dụng các
báo cáo tài chính phục vụ cho việc ra quyết định.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2. Hệ thống thông tin phục vụ việc ra quyết định quản lý
(Nguồn: Tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, môn học Phân tích
tài chính)
Để đảm bảo hệ thống thông tin tài chính luôn được cập nhật một cách
kịp thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều quan trọng là sự phối hợp
giữa các bộ phận trong doanh nghiệp.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
23
Hệ thống thông tin kế toán
Bảng cân đối tài sản
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tỷ số thanh khoản
Tỷ số đòn bẩy tài chính
Tỷ số hoạt động
Tỷ số khả năng sinh lợi
Xu hướng
Cơ cấu
Chỉ số
Tình hình thanh khoản
Tình hình hoạt động
Đầu tư
Tài trợ
Quản lý
Các báo cáo tài chính
Các tỷ số tài chính
Phân tích tài chính
Thông tin tài chính
Quyết định tài chính
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY
DỰNG SỐ 1 – VINACONEX
2.1. Giới thiệu về VINACONEX 1 và bộ máy quản lý tài chính của Công
ty.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cổ phần Xây dựng Số 1 (VINACONEX 1) trước đây là doanh
nghiệp Nhà nước hạng 1, trực thuộc Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng
Việt Nam – VINACONEX , được Bộ Xây dựng thành lập từ năm 1973 và
chuyển đổi thành Công ty cổ phần từ tháng 9 năm 2003, Nhà nước nắm giữ
51% vốn điều lệ.
Công ty cổ phần Xây dựng số 1 tiền thân là Công ty xây dựng Mộc
Châu trực thuộc Bộ xây dựng, được thành lập năm 1973 có nhiệm vụ xây
dựng toàn bộ khu công nghiệp Mộc Châu - tỉnh Sơn La. Đến năm 1977, công
ty được đổi tên là Công ty xây dựng số 11 trực thuộc Bộ xây dựng, có trụ sở
đóng tại Xuân Mai – Hà Sơn Bình có nhiệm vụ xây dựng Nhà máy bê tông
Xuân Mai và tham gia xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Cuối năm
1981 Công ty được Bộ xây dựng cho chuyển trụ sở về Hà Nội đựơc và được
Nhà nước giao nhiệm vụ xây dựng khu nhà ở lắp ghép tấm lớn Thanh Xuân -
Hà Nội. Năm 1984 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 196/CT
đổi tên Công ty xây dựng số 11 thành Liên hợp xây dựng nhà ở tấm lớn số 1
trực thuộc Bộ xây dựng với nhiệm vụ chính là xây dựng nhà dân dụng. Năm
1993 Liên hợp xây dựng nhà ở tấm lớn số 1 được đổi tên thành Liên hợp xây
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các
công trình dân dụng và công nghiệp. Ngày 15/4/1995 Bộ Xây dựng ra quyết
định sáp nhập Liên hợp xây dựng số 1 vào Tổng công ty xuất nhập khẩu xây
dựng Việt Nam – VINACONEX và từ đó công ty mang tên mới là: Công ty
xây dựng số 1 – VINACONEX 1.
Theo chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, ngày 29/8/2003
Bộ Xây dựng ra quyết định số 1173/QĐ - BXD về việc chuyển đổi doanh
nghiệp Nhà nước : Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Tổng công ty XNK xây
dựng Việt Nam thành công ty cổ phần và từ đó tới nay công ty mang tên là
Công ty cổ phần xây dựng số 1 – VINACONEX 1 (Vietnam construction
joint stock company No1)
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1
- Tên tiếng Anh: Construction joint stock company No 1
- Tên viết tắt: Vinaconex No.1 JSC
- Trụ sở chính: Nhà D9 - đường Khuất Duy Tiến - phường Thanh
Xuân Bắc - quận Thanh Xuân - thành phố Hà Nội.
- Điện thoại: 04.8543813 - 04.8544057 - 04.8543205 -
04.8543206
- Fax: 04.8541679
- E-mail: vinaconex1@saigonnet.vn
Những đơn vị trực thuộc công ty gồm có:
- Chi nhánh VINACONEX 1 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhà máy sản xuất gạch lát Terrazzo.
- Khách sạn Đá Nhảy – Quảng Bình.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×