Tải bản đầy đủ

LUẬN văn THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ ở CHO NGƯỜI có THU NHẬP THẤP tại hà nội

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THANH HIẾU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO
NGƯỜI THU NHẬP THẤP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2017



2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THANH HIẾU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO
NGƯỜI THU NHẬP THẤP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Chuyên ngành

:

Chính sánh công

Mã số

:

60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS. TS. NGUYỄN HỮU HẢI

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung nghiên cứu, số liệu, kết quả trong luận văn
này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Những số liệu
trong luận văn, các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá
được tác giả thu thập từ các nguồn tư liệu khác nhau, có ghi rõ nguồn trích dẫn


trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 2017
Học viên thực hiện

Lê Thị Thanh Hiếu


LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến PGS.TS.Đỗ Phú Hải – Người đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp tôi tiếp cận những tư liệu khoa học cần thiết để tôi thực hiện và
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Chính sách công cùng
Tập thể các Thầy Cô Khoa Sau đại học – Học viện Hành chính Quốc gia đã
nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại Trường.
Cuối cùng Tôi xin cảm ơn các bạn lớp CS1.B1 đã đồng hành cùng tôi trong
suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 2017
Học viên thực hiện

Lê Thị Thanh Hiếu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chương 1 .......................................................................................................................11
............................... 11
NHÀ Ở CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP ..................................................................11
............................ 11
1.1.1. Khái niệm chính sách .......................................................................................... 11
1.1.2. Thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp .........................................12
...............................................16
.......................................................... 16
.........................................................................19
............................... 22
thấp ................................................................................................................................ 22
thấp ................................................................................................................................ 23
thấp ................................................................................................................................ 25
nhập thấp........................................................................................................................27
.........28
1.3.6. Giám sá
........................... 28
thấp ...................29
thấp ................................................................................................................................ 31
1.5. .. Kinh nghiệm của một số địa phương về thực hiện chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp........................................................................................................................33
1.5.1.Tỉnh Bình Dương thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp
.......................................................................................................................................33
1.5.2.Kinh nghiệm thực hiện chính sách nhà ở thu nhập thấp tại Tỉnh Đà Nẵng
.......................................................................................................................................34
1.5.3.Kinh nghiệm thực hiện chính sách nhà ở thu nhập thấp tại Tỉnh Hưng Yên
.......................................................................................................................................35
1.5.4.Kinh nghiệm thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp tại tỉnh Quảng
Ninh ............................................................................................................................... 36


1.6. Những bài học được rút ra để giải quyết vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp ..37
Tiểu kết chương 1 ..........................................................................................................38
Chương 2……………………………………………………………...………………47
THẤP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..............................................................................40
2.1. Những đặc điểm kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến nhà ở cho người thu nhập thấp
trên địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................................................40
2.2. Đánh giá thực hiện chính sách và các giải pháp công cụ
ở cho người thu nhập thấp tại Thành phố Hà Nội ......................................................... 44
i thu nhập thấp ............................... 53
thấp ................................................................................................................................ 53
thấp ................................................................................................................................ 57
thấp ................................................................................................................................ 64
.........66
nhập thấp........................................................................................................................67
........................... 69
người thu nhập thấp.............71
2.4. Kết quả thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp ................................ 72
thấp tại Thành phố Hà Nội ............................................................................................ 76
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................78
Chương 3 .......................................................................................................................79
THU NHẬP THẤP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI....................................79
thành phố Hà Nội ...........................................................................................................79
3.1.1. Mục tiêu thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp ở nước ta ...........79
3.1.2. Mục tiêu thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp tại Hà Nội .........80
.........82
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................91
KẾT LUẬN ...................................................................................................................92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................95


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần dây, nguồn dân cư lao động từ các tỉnh thành tập
trung sống, học tập và làm việc tại Thành phố Hà Nội ngày một đông và con số
này vẫn ngày một tăng cao. Mức độ gia tăng dân số quá nhanh, nhất là việc gia
tăng dân số cơ học khiến Thủ đô đang phải chịu áp lực lớn về chỗ ở, điều kiện
học tập, y tế, việc làm, môi trường. Điều này phần nào đã ảnh hưởng đến chất
lượng sống và giao thông đô thị của Thủ đô.
Để có nhà ở tại Thủ đô Hà Nội là điều vô cùng khó khăn đối với những
người chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền làm công. Số tiền ít ỏi họ kiếm được
chỉ đủ trang trải cuộc sống hàng ngày và tích lũy chút ít nhưng không thể nào dư
dả để mua được nhà ở. Nhận thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề
thừa người thiếu đất thiếu nhà tại Thành phố Hà Nội trong những năm gần đây,
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách thông qua các hình thức:
Luật, Nghị quyết, Thông tư, các chương trình liên quan đến vấn đề Nhà ở nhằm
tìm các giải pháp tháo gỡ việc gia tăng dân số quá nhanh ở khu vực đô thị, giảm
thiểu nạn thiếu nhà ở, đảm bảo đời sống cho người lao động đang sinh sống, học
tập và làm việc tại khu vực đô thị trên cả nước nói chung trong đó có Thủ đô Hà
Nội nói riêng.
Thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đầu tiên của cả nước đã
xây dựng và thực hiện Chương trình phát triển nhà ở của Thành phố để giải
quyết vấn đề ở cho các đối tượng dân cư trên địa bàn. Thời gian qua, công tác
phát triển nhà ở tại Thành phố đã có những bước tiến vượt bậc và vững chắc, tạo
lập được nhiều quỹ nhà ở để giải quyết cho các nhu cầu bức xúc về nhà ở của
Thành phố, nhất là nhà ở cho các đối tượng di dân, giải phóng mặt bằng Nhà
nước lấy làm dự án, người nghèo, người thu nhập thấp với các cơ chế, chính
sách đa dạng, linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố.

1


Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở và Luật Nhà ở bổ sung, sửa
đổi năm 2014. Trên cơ sở các quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành Quyết
định phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030 số 2127/QĐ-TTg ngày 30 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng
Chính phủ có nêu rõ quan điểm: “Có chỗ ở thích hợp và an toàn là một trong
những quyền cơ bản, là điều kiện cần thiết để phát triển con người một cách
toàn diện, đồng thời là nhân tố quyết định để phát triển nguồn nhân lực phục vụ
cho sự nghiệp phát triển đất nước. Phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà
nước, của xã hội và của người dân” trong đó đề cập đến “Phát triển nhà ở là
một trong những nội dung quan trọng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội;
Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển, đồng thời
có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho người thu nhập thấp nhằm góp phần ổn
định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông thôn theo
hướng văn minh hiện đại” để từ đó:“Giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp
tại khu vực đô thị theo hướng ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi để khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở thu nhập thấp để
bán, cho thuê, thuê mua” theo phương thức xã hội hóa.
Kể từ khi Quyết định số 2127/QĐ-TTg được thực thi, đã phần nào giải quyết
được nhu cầu nhà ở cho người dân lao động ngoại tỉnh tại các khu vực đô thị
trên địa bàn cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách còn gặp
nhiều bất cập và khó khăn, đã gây ra không ít những vướng mắc cho người dân
khi làm thủ tục đăng ký mua nhà và bộ máy quản lý thực hiện chính sách. Cụ
thể:
Với mức chi phí bình quân để mua được nhà ở tại các đô thị có mức giá dao
động khoảng từ 12 triệu đồng/m2 đến 15 triệu đồng/m2, có diện tích từ 40 –
50m2 cho một gia đình thì người dân phải bỏ ra mức vốn từ 500 đến 700 triệu
đồng. So với mức thu nhập làm công ăn lương hiện nay chưa đảm bảo được mức
sống sinh hoạt tối thiểu, chưa nói đến việc tích lũy thì việc người thu nhập thấp
có một căn hộ để ở là một việc khá là khó khăn.
2


Việc xét duyệt đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách phải được thông qua
nhiều thủ tục hành chính rườm rà phức tạp.
Giá nhà ở còn quá cao so với thu nhập của người dân lao động.
Nhiều doanh nghiệp né tránh, ngại đầu tư vào các công trình nhà ở dành cho
người thu nhập thấp bởi lợi nhuận thấp, cơ chế chính sách ưu đãi khi đầu tư giữa
người mua và doanh nghiệp chưa tương xứng, số lượng dự án không nhiều vì
còn phụ thuộc vào quỹ đất từng địa bàn các khu vực đô thị.
Quan điểm và nhận định về Người lao động thu nhập thấp giữa các cơ quan
hành chính thực hiện chính sách thiếu sự đồng nhất. Theo Thông tư số
17/2014/TT-BXD ngày 18 tháng 11 năm 2014 của Bộ Xây dựng có nêu: “Người
lao động có thu nhập thấp là người làm việc tại các cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị có
mức thu nhập không phải đóng thuế thu nhập cá nhân, theo quy định của pháp
luật về thuế thu nhập cá nhân” như vậy theo nội dung công văn này thì tổng thu
nhập của người có thu nhập thấp phải ở mức không phải đóng thuế thu nhập cá
nhân. Tuy nhiên, đại diện phía các Ngân hàng lại cho rằng người có tổng thu
nhập dưới mức thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân thì không đủ điều kiện về
chứng minh khả năng tài chính để trả nợ vay khi tham gia gói tín dụng ưu đãi.
Trong những năm gần đây việc thực hiện chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp đã được triển khai thực hiện, bước đầu đã có những kết quả nhất định.
Tuy nhiên theo thực tế đặt ra, chính sách khi đưa vào vận dụng chưa đáp ứng
được nhu cầu và mong mỏi của đại đa số người dân có thu nhập thấp bởi: chính
sách khó tiếp cận, nhiều thủ tục mang tính đối phó, người có thu nhập cao vẫn
mua được nhà dành cho người thu nhập thấp và ngược lại người có thu nhập
thấp lại khó tiếp cận mua được nhà điều này gây ra bất cập trong xã hội. Bên
cạnh đó lãi suất vay ưu đãi vẫn còn quá cao, điều này gây ra một khó khăn lớn
cho thủ tục vay mua đối với người thu nhập thấp cũng như việc giải ngân đối với
các khoản vay dở dang bởi lãi xuất sẽ chuyển sang tính mức thương mại, người
dân phải xoay sở tài chính để hoàn tất khoản vay cộng lãi. Thứ nữa việc triển
3


khai và thực thi chính sách thiếu đồng bộ, bất cập trong công tác quản lý. Bên
cạnh đó các nhà đầu tư xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp không mặn mà
đối với các dự án nhà ở thu nhập thấp bởi cơ chế về ưu đãi thuế, đất đai, thủ tục
đầu tư chưa thực tiễn. Nhận thấy những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện
chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp cũng là lý do em xin lựa chọn đề tài
luận văn “Thực hiện chính sách nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp trên địa bàn
Thành phố Hà Nội” nhằm làm rõ những vấn đề lý luận thực hiện chính sách
nhà ở cho người thu nhập thấp. Thực trạng việc thực hiện chính sách nhà ở cho
người thu nhập thấp hiện nay qua nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà Nội đã
giải quyết được đến đâu, còn vướng mắc khó khăn và tồn đọng những gì để từ
đó đưa ra những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách nhằm mang lại hiệu
quả tối ưu cho việc thực hiện chính sách những năm tới đây.
Để đẩy mạnh phát triển nhà ở thu nhập thấp đáp ứng yêu cầu của hàng triệu
người lao động thu nhập thấp tại các khu vực đô thị trên cả nước nói chung và
Thủ đô Hà Nội nói riêng, cần có các cơ chế chính sách ổn định, lâu dài, từng
bước triển khai thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ, nhất quán, hiệu quả.
Giảm thiểu việc tăng dân số quá nhanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
của Thủ đô trong những năm tới đây cần xem xét một cách nghiêm túc các vấn
đề đang tồn tại hiện nay và cần có những giải pháp tháo gỡ để đảm bảo người
thu nhập thấp có nhà ở, các doanh nghiệp tích cực phối hợp với chính sách đầu
tư xây dựng, cơ chế chính sách hoàn thiện hơn đảm bảo phù hợp, đáp ứng
nguyện vọng của người dân, giúp cho nền kinh tế Thành phố ổn định phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp luôn là vấn đề được
Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm để kiện toàn hơn nữa vấn đề an sinh xã hội
trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, cần có sự phối hợp từ nhiều phía
trong đó bao gồm: Nhà nước, cộng đồng xã hội và người dân có thu nhập thấp
để từ đó cùng tìm ra các giải pháp tối ưu nhất khắc phục những hạn chế, yếu
4


kém, những điểm chưa phù hợp của chính sách để từ đó có sự điều chỉnh hợp lý
nhằm nâng cao hiệu quả chính sách khi vận dụng vào thực tiễn.
Đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu, các bài báo viết về nhà ở cho người
thu nhập thấp, trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ nêu một số đề tài nghiên
cứu tiêu biểu:
- Văn Tất Thu (2014), Năng lực thực hiện chính sách công – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, bài nghiên cứu cho rằng năng lực thực hiện chính sách của
cơ quan thực thi chính sách quyết định chất lượng thực hiện chính sách hiện nay.
Đây là luận điểm sẽ được sử dụng trong luận văn này trong phân tích các chủ thể
tham gia chính sách.
- Đỗ Phú Hải (2016), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực xây
dựng và thực hiện chính sách công, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, chuyên mục
nghiên cứu – trao đổi. Bài viết nghiên cứu năng lực xây dựng và thực hiện chính
sách công trong đó phân tích về năng lực quản lý và năng lực chính trị từ đó đưa
ra các tiêu chí về năng lực chính sách của đội ngũ cán bộ công chức phải được
thể hiện trên các mặt: năng lực thiết kế, soạn thảo, ban hành chính sách công;
năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; năng lực phổ biến,
tuyên truyền chính sách; năng lực phân công, hợp tác trong xây dựng và thực
hiện chính sách; năng lực duy trì chính sách; năng lực theo dõi, đôn đốc, giám
sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách; năng lực đánh giá, tổng kết rút kinh
nghiệm chính sách. Các tiêu chí này được tác giả vận dụng trong việc phân tích
luận văn này.
- Nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu Kiến trúc, Các giải pháp đồng bộ phát
triển Nhà ở người thu nhập thấp tại các đô thị Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu: Việt nam đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, đô
thị hóa ngày càng tăng nhanh dẫn đến sự phân hóa giữa người nghèo và người
giầu tại các đô thị khá là rõ rệt. Người thu nhập thấp phải đương đầu với vấn đề
thiếu nhà ở hoặc ở trong các khu ở tồi tàn, chật chội, hệ thống hạ tầng quá tải do
họ không có khả năng về kinh tế để cải thiện được chỗ ở cho mình. Do vậy tìm
5


ra một giải pháp đồng bộ về chính sách, về thiết kế, xây dựng các khu ở, nhà ở
cho người thu nhập thấp hiện đang là một vấn đề bức xúc tại các đô thị Việt
Nam.
Đề tài đã đóng góp vào việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp đồng bộ từ
khâu quy hoạch sử dụng đất, các giải pháp kiến trúc, công nghệ xây dựng, vật
liệu xây dựng cho nhà ở đối với người thu nhập thấp. Đã đưa ra một số kiến nghị
về chính sách, cơ chế tài chính cho công tác đầu tư xây dựng tại các khu đô thị
tại Việt Nam.
- Đỗ Phú Hải (2015), Quy trình xây dựng chính sách công tại các nước đang
phát triển. Bài viết nghiên cứu đề cập đến thiết kế chính sách công và đưa ra các
giải pháp chính sách công dựa trên các phương diện: can thiệp thông qua lợi ích
kinh tế, thông qua quan hệ cộng đồng, thông qua giá trị xã hội, thông qua tâm lý
đám đông từ đó chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạch định và thực
hiện chính sách công.
- Nhaoxahoihn.com, Eo hẹp quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội tại Thành phố
Hà Nội, Bài báo đề cập đến dự án khu đô thị phải dành 20% quỹ đất cho nhà ở
xã hội nhưng thực tế nhiều chủ đầu tư vi phạm quy định. Tình hình đáng lo khi
Hà Nội không còn quỹ đất ở những vị trí thuận lợi để xây dựng các dự án nhà ở
xã hội, nhà ở thu nhập thấp tại Thủ đô.
- Tonghoixaydungvn.vn (2015), “Chính sách và giải pháp về nhà ở cho
người thu nhập thấp tại đô thị và khu công nghiệp”
Bài báo chỉ ra: Để có thể đẩy mạnh phát triển nhà ở đáp ứng yêu cầu của
hàng triệu người lao động thu nhập thấp tại Đô thị và khu công nghiệp cần có
các cơ chế chính sách ổn định, lâu dài, từng bước triển khai giải pháp tổ chức
thực hiện. Tổng Hội Xây dựng Việt Nam phối hợp và được sự bảo trợ của Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức cuộc hội thảo “Chính sách và giải pháp
về nhà ở cho người thu nhập thấp tại đô thị và khu công nghiệp”. Với mong
muốn có những tổng kết thực trạng, yêu cầu của thực tế từ góc độ các nhà quản
lý, cơ quan hữu quan, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, người dân và người
6


lao động để từ đó kiến nghị các giải pháp, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính
sách, tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh công cuộc phát triển nhà ở nói chung và
nhà ở cho người lao động thu nhập thấp tại đô thị và khu công nghiệp nói riêng.
Mục tiêu chính bài báo hướng tới:
Các cơ chế chính sách quy định của pháp luật đối với phạm vi nhà ở thu
nhập thấp gồm: nguồn vốn phát triển, các cơ chế chính sách đối với nhà đầu tư
Về quy hoạch cấp công trình và tiêu chuẩn diện tích căn hộ cho nhà thu nhập
thấp gồm: quy hoạch đất phục vụ cho việc triển khai đầu tư nhà ở thu nhập thấp,
phân loại công trình và tiêu chuẩn căn hộ.
Đưa ra các giải pháp thực hiện:
Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm về nhà ở thu nhập thấp.
Đảm bảo việc quy hoạch đô thị phải trích quỹ đất để xây dựng nhà ở thu
nhập thấp.
Nguồn kinh phí đầu tư cần được rõ ràng và thông qua hàng năm.
Công tác phân cấp giao nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng quản lý.
Tạo mọi điều kiện để người thu nhập thấp được tiếp cận chính sách.
Ban hành quy định pháp luật khuyến khích gửi tiết kiệm để mua nhà ở thu
nhập thấp.
- Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Xây dựng (2016), Nghiên cứu các giải
pháp công nghệ nhằm tạo lập mô hình phát triển nhà ở xã hội.
Mục tiêu đặt ra đề tài là nghiên cứu các giải pháp công nghệ tiên tiến và
đồng bộ, tạo lập mô hình phát triển nhà ở xã hội phù hợp điều kiện thực tiễn Việt
Nam và xu hướng phát triển nhà ở xã hội trên thế giới; cụ thể hóa các quan
điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nhà ở xã hội; cung
cấp luận cứ khoa học phục vụ cho việc triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược
phát triển nhà ở quốc gia và các chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội.
Đề tài đã xây dựng được chỉ số đánh giá khả năng hiện thực của sản phẩm để
xác lập mối tương quan giữa khả năng chi trả của người dân và giá thành sản

7


phẩm nhà ở xã hội – đây là công cụ quan trọng để đánh giá sự phù hợp của sản
phẩm nhà ở xã hội.
- Tạp chí kiến trúc (2016), Các giải pháp và cơ chế chính sách về nhà ở xã
hội, nhà ở cho người thu nhập thấp. Bài báo nghiên cứu đến các giải pháp về cơ
chế chính sách: Cần nhận rõ tầm quan trọng của nhà ở xã hội, nhà ở cho người
thu nhập thấp. Để có thể cân bằng lợi ích giữa người thu nhập thấp (người mua
nhà) và nhà đầu tư (đầu tư xây dựng bán nhà) và nhà nước, cần tính toán mức ưu
đãi đầu tư cho các bên đều có thể chấp nhận được trên cơ sở một mô hình thí
điểm trên thực tế chứ không phỉa chỉ tính toán trên lý thuyết để có cơ chế điều
chỉnh chính sách hiện hành, tạo ra chính sách đột phá.
Điểm nhấn trong bài: Cần chuyển hẳn từ cơ chế “xin - cho” sang cơ chế
“phục vụ”, cần “thân thiện với người dân” và “thân thiện với doanh nghiệp” để
cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được với chính sách ưu đãi.
Bên cạnh đó, giải pháp về quy hoạch sử dụng đất, kiến trúc, giao thông cơ sở
hạ tầng và đồng bộ, hợp tác giữa nhà nước – tư nhân, tài chính và tổ chức triển
khai thực hiện chính sách. Đây cũng là những giải pháp có tính khả thi cao, tác
giả có vận dụng trong phân tích luận văn.
- Phí Thị Thu Hương (2008), Nhà ở cho người có thu nhập thấp: Một thị
trường cần thiết và đầy tiềm năng. Nghiên cứu có chỉ ra chênh lệch cung – cầu
về nhà ở cho người thu nhập thấp không ngừng gia tăng và việc giải quyết nhà ở
cho người thu nhập thấp phải trên cơ sở công bằng xã hội và nâng cao vai trò
trung tâm của Nhà nước. Luận văn có sử dụng những tư liệu được tác giả nghiên
cứu trong việc phân tích luận văn.
- Phạm Kiên Cường (2015), Chính sách nhà ở cho người lao động tại các
khu công nghiệp. Luận văn nghiên cứu nhà ở cho người lao động tại các khu
công nghiệp hiện nay. Mức lương của người lao động, nhu cầu sinh hoạt tối
thiểu, đánh giá nhu cầu nhà ở của người lao động đang làm việc tại khu công
nghiệp. Chỉ ra một số nguyên nhân, tồn tại trong việc giải quyết nhà ở cho người
lao động tại các khu công nghiệp. Định hướng chính sách phát triển nhà ở cho
8


công nhân, người lao động và đề ra các mục tiêu cần triển khai tốt để đảm bảo
người lao động tại các khu công nghiệp có nhà: hoàn thiện hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật, quy hoạch phát triển khu công nghiệp, cải thiện chế độ tiền
lương, xây dựng các chỉ tiêu phát triển nhà ở hướng đến.
- Đặng Thị Hằng (2013), Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu
nhập thấp ở Việt Nam,tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra tài chính là vấn đề khiến
cho chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp chưa đạt hiệu quả như mong
muốn. Từ việc phân tích thực trạng về các giải pháp tài chính trong chính sách
nhà ở cho người thu nhập thấp ở các đô thị Việt Nam cũng như tham khảo của
một số nước trên thế giới, đã đưa ra một số giải pháp về tài chính giúp sử dụng
nguồn vốn đầu tư phát triển nhà ở thu nhập thấp một cách hiệu quả: chính sách
thuế, chính sách tín dụng, chính sách giá, thành lập quỹ tiết kiệm nhà ở.
- Vũ Thị Minh (2015), Những bất cập trong chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp của Thành phố Hà Nội, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng
chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp để chỉ ra những bất cập trong quá
trình triển khai thực hiện chính sách tại Thủ đô Hà Nội. Từ những kết quả
nghiên cứu đó tác giả đưa ra một số giải pháp giúp hoàn thiện chính sách và tháo
gỡ những bất cập mà chính sách đang mắc phải.
3. Mục tiêu nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp ở nước ta hiện nay để hình thành khung nghiên cứu cho đề tài.
+ Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp để
từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần giải quyết về nhà ở cho
người thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
+ Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách nhà ở cho người
thu nhập thấp tại Hà Nội.

9


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Người thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Bao gồm tổ chức thực
hiện chính sách và kết quả thực hiện các giải pháp công cụ thực hiện chính sách.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội.
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách qua tiếp cận đa
ngành, liên ngành khoa học xã hội và nghiên cứu chính sách công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thống kê, mô tả, so sánh, phân tích tổng hợp, thu thập dữ liệu.
6. Ý nghĩa của Đề tài
Đề tài: “Thực hiện chính sách nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp trên địa
bàn thành phố Hà Nội” sẽ đóng góp phần nào những giải pháp tăng cường thực
hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp, giúp chính sách đi vào thực tiễn
đạt hiệu quả và người thu nhập thấp có nhà ở.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được chia thành 3 chương.
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách nhà ở cho người thu nhập
thấp.
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp
tại Thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách nhà ở cho người thu
nhập thấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

10


Chƣơng 1
NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP
1.1.Khái niệm

nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp

1.1.1. Khái niệm chính sách
Thuật ngữ Chính sách hiện nay được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế
- xã hội. Tuy nhiên, đã có khá nhiều các tài liệu, các nghiên cứu định nghĩa về
chính sách như sau:
Theo Jame Anderson (1984), đưa ra khái quát về chính sách: “Chính sách là
một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề
phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [36].
Theo Considine (1994), “Chính sách là một công việc được thực hiện liên
tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối,
phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi” [37].
“Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền
lực về một lĩnh vực nhất dịnh cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối
ấy” [32, tr3].
Chính sách là những sách lược về kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích
nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra.
Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó, chính sách được ban hành đều có
sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể
nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính
chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” [33, tr475].

11


Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công còn khá mới mẻ, tuy nhiên những
năm gần đây chính sách công đã được coi trọng, vận dụng cụ thể hóa đường lối,
chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm phục vụ lợi
ích của toàn xã hội. Vì vậy chu trình chính sách công luôn được nhìn nhận như
một quá trình từ hoạch định đến thực hiện cho ra kết quả cuối cùng.
“Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề
phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác
nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [2, tr14].
Hay “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải
quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm
quyền” [4, tr37].
Chính sách công bao giờ cũng được thể hiện trên một loại văn bản của nhà
nước, loại văn bản này gọi chung là văn bản quy phạm pháp luật gồm: Luật,
Nghị định, Quyết định, Thông tư.
1.1.2. Thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp
Trong các giai đoạn hình thành đến thực thi, đánh giá chính sách thì giai
đoạn thực thi chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ
quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối
tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực thi chính sách là trung
tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống.
Có thể thấy “Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý
chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu
trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống” [31,
tr31].
Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của
đội ngũ cán bộ công chức trong quá trình thực thi chính sách. Nói cách khác,

12


năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ công chức tham gia thực hiện
chính sách quyết định chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chính sách.
Trong chu trình chính sách, việc hoạch định chính sách đúng, có chất lượng
là rất quan trọng nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn. Có chính
sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những
không có ý nghĩa mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban
hành chính sách. Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu
tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với Nhà nước. Điều này hoàn toàn
bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho Nhà nước
trong công tác quản lý.
Qúa trình thực hiện chính sách mới biết được chính sách có đúng, phù hợp
và đi vào cuộc sống hay không. Qúa trình thực hiện với những hoạt động thực
tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với
thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời việc phân tích, đánh giá
một chính sách chỉ có cơ sở đầy đủ mang tính thuyết phục cao sau khi đã được
thực hiện.
Thực tiễn luôn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở
đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách.
Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến
động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các Nhà hoạch định và tổ chức
thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong
thực hiện chính sách.
Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội
thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã
hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách.
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, đô thị hóa ngày càng
tăng nhanh dẫn đến sự phân hóa giữa người nghèo và người giầu tại các đô thị
khá rõ rệt. Những người thu nhập thấp ở đô thị đang phải đương đầu với vấn đề
thiếu nhà ở hoặc ở trong các khu ở tồi tàn, chật chội và hệ thống hạ tầng quá tải
13


do họ không có khả năng về kinh tế để tự cải thiện chỗ ở của mình. Do vậy tìm
ra một giải pháp đồng bộ về chính sách, về thiết kế, xây dựng các khu ở, nhà ở
cho người thu nhập thấp đang là một vấn đề bức xúc tại các độ thị Việt Nam.
Những năm 1960-1970, dù Nhà nước đã có chính sách nhằm đáp ứng nhu
cầu nhà ở cho người dân, trong đó tập trung việc phát triển các nhà ở thuộc sở
hữu Nhà nước cho cán bộ công nhân viên chức thuê với mức giá rẻ, chính sách
bao cấp nhà ở này vẫn chưa được định danh chính thức. Trong thời gian đầu áp
dụng chính sách đổi mới sau năm 1986, do một số khó khăn về tài chính cũng
như những thay đổi căn bản về quan điểm phát triển, nhà ở được đầu tư bằng
ngân sách của Nhà nước không còn được chú trọng, thay vào đó các cấp chính
quyền đưa ra các chính sách khuyến khích việc tự xây nhà của người dân và sự
tham gia của kinh tế tư nhân tới việc phát triển nhà ở thông qua việc thừa nhận
sở hữu nhà tư nhân và quyền trao đổi, mua bán nhà ở thể hiện trong Pháp lệnh
nhà ở năm 1991 và việc thay đổi căn bản về chế độ sở hữu đất đai thể hiện trong
Luật đất đai năm 1993 cũng như những Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật này năm 1998 và 2001. Tuy nhiên cũng vẫn phải khẳng định rằng trong
thập niên 1990 cho đến giữa những năm của thập niên 2000, Nhà nước vẫn
muốn giữ vai trò chủ đạo như là người xây dựng và cung cấp nhà ở cho những
đối tượng ưu tiên của mình và muốn hướng các thành phần kinh tế khác tham
gia vào phân khúc nhà ở này. Đến những năm đầu tiên của thế kỷ 21, đã xuất
hiện những thay đổi căn bản về việc khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của các
thành phần kinh tế khác nhau vào việc xây dựng các dự án nhà ở trong đó có
quan tâm đến nhà ở cho các đối tượng thu nhập không ổn định trong xã hội.
Khi ban hành Nghị định 71/2001/NĐ-CP về ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở để
bán và cho thuê đã cho thấy đầu những năm 2000 khái niệm nhà ở được ưu đãi một khái niệm rất gần với nhà ở xã hội, tại các khu vực đô thị bao gồm tất cả các
loại hình nhà chung cư cao tầng. Nghị định cũng quy định rất rõ ràng căn hộ
thuộc chung cư cao tầng phải được ưu tiên bán và cho thuê đối với những đối

14


tượng như cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước và sinh viên. Hướng tới đối
tượng có nguồn thu nhập thấp.
Từ hơn 10 năm nay, cùng với công cuộc đổi mới từ chủ chương đến chính
sách của Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể
xây dựng nhà ở, đã được triển khai ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước. Tuy
nhiên, việc xây dựng nhà ở hướng đến đối tượng thu nhập thấp vẫn chưa thực sự
được quan tâm nhiều, luôn là bài toán hết sức khó khăn trong vấn đề quy hoạch,
phân bổ quỹ đất dành riêng cho đối tượng thu nhập thấp.
Tại một số đất nước, để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đô thị
hóa cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì vấn đề nhà ở
đặc biệt là nhà ở cho những người có mức thu nhập thấp phải được giải quyết
đúng đắn, kịp thời. Nhận thấy đối tượng có thu nhập thấp chiếm phần không hề
nhỏ trong xã hội, Đảng và Nhà nước đã cố gắng quan tâm, chăm lo, tạo điều
kiện từng bước đáp ứng những yêu cầu bức xúc về nhà ở cho những người có
thu nhập thấp, đã có nhiều chương trình, chính sách, đề án cập nhật đến phát
triển nhà ở cho người thu nhập thấp và được xác định là vấn đề cần được ưu tiên
hàng đầu. Bởi vậy, chính sách khi thực hiện phù hợp sẽ đem lại hiệu quả cho
cộng đồng bền vững, đảm bảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy có thể hiểu thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp là
một phần quan trọng trong công đoạn xây dựng quy trình chính sách. “Thực hiện
chính sách với mục đích đưa chính sách đến với thực tiễn, cụ thể hóa các đường
lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước và hướng
tới đối tượng cụ thể đó là người thu nhập thấp, nguồn thu nhập tương đối ổn
định, trên ngưỡng nghèo và dưới mức tiệm cận nghèo với mức trung bình và có
khả năng tích lũy vốn để tự cải thiện điều kiện nơi ở nhưng vẫn cần sự hỗ trợ của
Nhà nước. Thực hiện chính sách là các hoạt động triển khai giải pháp và công cụ
chính sách vào thực tiễn để đạt được mục tiêu chính sách” [5, tr36].
Thực hiện chính sách nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp là các hoạt động
triển khai giải pháp và công cụ chính sách vào thực tiễn để đạt được mục tiêu
15


chính sách là tăng nguồn thu nhập ổn định và có khả năng tích lũy vốn để tự cải
thiện điều kiện nơi ở.
1.2.
Thiết kế chính sách công là nội dung chính của việc hoạch định, xây dựng
chính sách, bao gồm việc quyết định các mục tiêu ưu tiên, lựa chọn giải pháp
chính sách dựa trên phân tích các tiêu chí hiệu quả, chi phí lợi ích, công bằng và
các giá trị chính trị - xã hội của mỗi lựa chọn.
Việc “thiết kế chính sách công mở rộng cho cả hai phương diện hoặc cơ chế
mà qua đó mục tiêu chính sách được đưa ra có hiệu lực và những mục tiêu đó có
liên quan đến việc xem xét tính khả thi, tính thực tế có thể đạt được trong các
mối liên kết hoặc trường hợp sử dụng các công cụ chính sách công. Các chính
sách công là kết quả của những nỗ lực của nhà nước để thay đổi hành vi của xã
hội để thực hiện mục đích cuối cùng cải thiện vấn đề kinh tế xã hội hoặc sắp xếp
lại các mục tiêu chính sách, các giải pháp và công cụ chính sách công. Những nỗ
lực này có thể đạt được mục tiêu chính sách công có tính hệ thống và kết thúc
với kết quả đạt được trên diện rộng. Tất cả những nỗ lực này được coi là thể hiện
một thiết kế chính sách công có chủ ý. Trong hầu hết các trường hợp, ngay cả
khi những mục tiêu chính sách theo đuổi không được đồng thuận với việc sử
dụng tài nguyên không hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu chính sách đều
liên quan đến nỗ lực thiết kế chính sách công. Điều này không có nghĩa là tất cả
các thiết kế chính sách công được bình đẳng hoặc tạo ra các kết quả tương
đương. Nghiên cứu một cách hệ thống thiết kế chính sách công và quy trình thiết
kế tại các ngành, lĩnh vực phản ánh sự thúc đẩy tiến bộ về chính sách công tại
các nước đang phát triển” [4, tr39].
1.2.1.
1.2.1.1. Vấn đề chính sách
Vấn đề chính sách được hiểu là các nhu cầu, các giá trị, hay các cơ hội cải
thiện nhưng chưa được thực hiện hóa.

16


Là những mâu thuẫn nảy sinh trong các lĩnh vực hoạt động cần được giải
quyết bằng chính sách để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội.
Thông tin về những vấn đề chính sách đóng một vai trò then chốt trong phân
tích chính sách, bởi vì cách thức một vấn đề được định nghĩa sẽ định hình việc
tìm kiếm những giải pháp khả dĩ. Thông tin không đầy đủ hoặc sai có thể dẫn
đến sai lầm, việc đi tìm lời giải cho một vấn đề không đúng, trong khi đó yêu
cầu đầu tiên phải là xác định đúng vấn đề cần giải quyết.
Ở Việt Nam, với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách công là công cụ tiền đề,
không thể thay thế và chi phối các công cụ quản lý khác như pháp luật, kế
hoạch, phân cấp - phân quyền. Điều đó giải thích vì sao trong những năm gần
đây Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao vai trò của
chính sách công như là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước nói riêng và đẩy mạnh chất lượng của sự nghiệp đổi mới nói chung.
Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của quản lý nhà nước thì
hoạt động hoạch định và thực thi chính sách công ở nước ta đang ở trong bối
cảnh nào và đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết.
“Việc xác định vấn đề chính sách công là giai đoạn đầu tiên nằm trong chu
trình chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu
thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội cần được giải quyết bằng chính sách cho
đến khi hoàn thành những mục tiêu của chính sách công” [4, tr40].
Để xác định đúng vấn đề chính sách, người cán bộ lãnh đạo cũng cần nắm
được các nguyện vọng của nhân dân, tận dụng được sự ủng hộ của thông tin đại
chúng và kiểm soát được nghị trình chính thức của chính quyền.
Trong vô số các vấn đề chính sách, để được đưa vào nghị trình và bàn luận
thực sự, một vấn đề cần thỏa mãn ba yêu cầu căn bản: tầm quan trọng của vấn
đề, hoàn cảnh chính trị và sự ủng hộ chính trị.
Xác định vấn đề chính sách công đúng bản chất, đúng thời điểm, đúng đối
tượng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng chính sách công tại các nước đang
17


phát triển do nền kinh tế và hệ thống tài chính còn yếu kém. Nếu xác định vấn đề
của xã hội sai thì xử lý vấn đề chính sách sẽ sai và kéo theo nhiều hệ lụy khác.
Việc xây dựng chính sách công phải xác định đúng những bất hợp lý gây mâu
thuẫn, tạo mất cân bằng, mất ổn định, ngăn cản tăng trưởng, tạo khoảng cách
giữa tiềm năng và thực tế, trong đó sự tham gia thảo luận chính sách công của
các tổ chức xã hội và doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng. Việc tham vấn
chính sách công qua các tổ chức nhà nước và xã hội giúp làm rõ bản chất của
vấn đề xã hội, tránh việc đưa ra những chính sách công mơ hồ, không mang tính
khả thi.
Theo đề tài, vấn đề chính sách cần tập trung nghiên cứu là vấn đề nhà ở cho
người thu nhập thấp và việc thực hiện chính sách đó có hiệu quả hay không. Cần
nhận rõ tầm quan trọng của nhà ở dành cho đối thượng thu nhập thấp vô cùng
quan trọng, nhất là nhà ở thu nhập thấp tại các khu vực đô thị hiện nay khi mật
độ dân cư ngày một tập trung đông. Cần tổ chức khảo sát, lấy ý kiến đánh giá
của người dân, ghi nhận nguyện vọng của đối tượng chính sách hướng đến bằng
thực tiễn và có số liệu bằng chứng cụ thể mang tính thuyết phục cao.
“Theo tổng kết của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì có 07 trụ cột
cho chính sách phát triển nhà ở:
- Cải thiện quyền sở hữu;
- Phát triển tín dụng bất động sản;
- Triển khai hệ thống hỗ trợ có định hướng tốt;
- Mở rộng nguồn cung cấp đất đô thị;
- Cung cấp khung pháp lý cho việc phát triển đất và bất động sản;
- Làm nổi bật tính cạnh tranh của ngành kinh doanh bất động sản;
- Phát triển khung thể chế cho chính sách nhà ở cấp quốc gia” [30].
Có thể nói, chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp đã có cho đến nay thực
ra khá toàn diện. Nhưng chương trình phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở
đô thị vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc, chưa có sự đột phá và rất cần tìm ra những
nguyên nhân, những mặt hạn chế của cơ chế chính sách nhà ở cho người thu
18


nhập thấp. Vấn đề chính sách này lại một lần nữa cần được đánh giá lại nhằm
đưa ra những giải pháp mang lại hiệu quả tối ưu hơn.
1.2.1.2. Mục tiêu chính sách
Mục tiêu chính sách phản ảnh mong muốn của Nhà nước (cơ quan chủ thể
ban hành chính sách) về những giá trị kinh tế - xã hội cần đạt được trong tương
lai và phù hợp với yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội.
“Mục tiêu chính sách là những giá trị hoặc kết quả mà Nhà nước mong muốn
đạt được thông qua thực hiện các giải pháp chính sách. Mục tiêu chính sách thể
hiện ý chí của Nhà nước trong việc giải quyết một vấn đề công, tuy nhiên mục
tiêu chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước” [3,
tr22].
“Mục tiêu chính sách được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu
chung đến mục tiêu cụ thể, từ định tính đến định lượng. Thông thường, mục tiêu
chính sách ban đầu hay còn gọi là mục tiêu chung mang yếu tố định tính, tức là
nó được thể hiện dưới dạng ngôn từ hay vì được thể hiện dưới dạng các con số.
Những mục tiêu chung này lại được cụ thể hóa thành các mục tiêu ở cấp độ cụ
thể hơn hay còn gọi là các chỉ tiêu. Các mục tiêu cụ thể này phản ánh những
khía cạnh cụ thể của mục tiêu chung cho một giai đoạn thời gian nhất định, phù
hợp với điều kiện thực thi cụ thể. Các mục tiêu cụ thể này cung cấp cơ sở cho
việc giám sát, đo lường và đánh giá mức độ đạt mục tiêu chung của chính sách”
[3, tr23].
Mục tiêu của chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp chính là việc người
thu nhập thấp có nhà ở.
1.2.2.
1.2.2.1. Giải pháp chính sách
Giải pháp là cách thức để giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục tiêu chính
sách.
Giải pháp chính sách công là “việc tìm giải pháp cho các nguyên nhân của
vấn đề chính sách mang tính đồng bộ hay còn được gọi là giải pháp chính sách
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×