Tải bản đầy đủ

kien thuc thai do va mot so yeu to lien quan den phong chong hiv cua hoc sinh trung hoc pho thong

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................2
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ HIV/AIDS
...........................................................................................................................4
1.1 Khái niệm HIV.....................................................................4
1.2 Khái niệm AIDS...................................................................4
1.3 Đường lây nhiễm HIV.............................................................5
1.4 Các giai đoạn của nhiễm HIV...................................................7
II. THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG
CHỐNG HIV/AIDS CỦA HỌC SINH THPT HUYỆN TRIỆU SƠN........9
2.1 Khái quát chung về vấn đề HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hóa................9
2.2 Mô tả đặc điểm huyện Triệu Sơn.............................................11
2.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa và Triệu Sơn...............11
2.4 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh phổ thông về phòng, chống
HIV/AIDS.......................................................................12
2.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức hiểu biết, phòng chống HIV/AIDS
.....................................................................................16
2.6 Một số yếu tố liên quan đến thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS18
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHĂM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CAN THIỆP
CỦA CTXH....................................................................................................20

3.1. Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc phòng chống kỳ
thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV............................20
3.2 Nâng cáo vai trò và trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể thuộc các cấp
và cộng đồng....................................................................21
3.3 Tăng cường và nâng cao chất lượng phòng chống kỳ thị và phân biệt đối xử
thông qua công tác truyền thông............................................21
KẾT LUẬN..............................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................25

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIDS

Acquired Immuno – Deficency Syndrome

HIV

Human Immunodeficiency Virus

GDPC AIDS

Giáo dục phòng chống AIDS.

HS,SV

Học sinh, sinh viên.

CTXH

Công tác xã hội

KAP
LTĐTD
THPT

Kiến thức, thái độ thực hành.
Lây truyền đường tình dục
Trung học phổ thông.



2


LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nền kinh tế xã hội đang từng ngày phát triển mạnh mẽ, thế giới đang
đi lên trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ. Nền kinh tế thị trường đã mang lại
cho nhân loại những bước tiến kinh ngạc về tất cả mọi mặt. Tuy nhiên chính sự
phát triển mạnh mẽ đó lại kéo theo nhiều những mặt trái của xã hội, một trong số
đó là tệ nạn xã hội, mà trong đó phải nói đến đại dịch HIV/AIDS. Điều này đã gây
ra rất nhiều khó khăn cản trở quá trình phát triển của các quốc gia trên toàn thế
giới.
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng,
sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn
cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội,
đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước
Đại dịch HIV mới xuất hiện từ năm 1981 nhưng đã nhanh chóng lan ra toàn
cầu. Trải qua gần 30 năm phòng chống HIV/AIDS, các quốc gia trên thế giới vẫn
đang phải đương đầu với một đại dịch HIV/AIDS rất nguy hiểm. HIV/AIDS không
chỉ ảnh hưởng tới sức khoẻ, tính mạng con người mà còn ảnh hưởng tới tương lai
của các dân tộc, tác động nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Hơn
30 năm qua, tuy đã có những thành công nhất định, nhưng có thể thấy nhân loại
chưa đủ khả năng ngăn chặn được tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS. Ở Việt Nam,
trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990. Từ đó đến nay, gần
20 năm đã qua, Việt Nam đã xây dựng, thực hiện các kế hoạch phòng chống
HIV/AIDS và thu được những kết quả bước đầu, nhưng còn chưa đủ mạnh để ngăn
chặn dịch HIV/AIDS. Dịch HIV/AIDS tiếp tục gia tăng.
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Và Triệu Sơn là huyện là một trong những huyện chiếm tỉ lệ
người nhiễm HIV/AIDS cao ở tỉnh Thanh Hóa
Các trường trung học phổ thông là nguồn cung cấp lực lượng lao động tương
lai cho xã hội. Nhằm đánh giá thực trạng về kiến thức phòng, chống và các yếu tố
ảnh hưởng để định hướng cho việc xây dựng kế hoạch phòng, chống AIDS hiệu
3


quả trên địa bàn tỉnh ,em xin đề cập đến vấn đề: “Thực trạng và các yếu tố liên
quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống HIV/AIDS của học sinh
THPT huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh hoá” , làm đề tài tiểu luận môn CTXH với
người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Mặc dù có nhiều cố gắng, xong bài tiểu luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong sự góp ý của thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô!

AIDS
HIV
GDPC AIDS
HS,SV
CTXH
KAP
LTĐTD
THPT
TTYT

Acquired Immuno – Deficency Syndrome
Human Immunodeficiency Virus
Giáo dục phòng chống AIDS.
Học sinh, sinh viên.
Công tác xã hội
Kiến thức, thái độ thực hành.
Lây truyền đường tình dục
Trung học phổ thông.
Trung tâm y tế.

4


I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ
HIV/AIDS

1.1 Khái niệm HIV
- Khái niệm: HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human
Immunodeficiency Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể
suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
1.2 Khái niệm AIDS
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency
Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường
được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến
tử vong.
AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tế bào của hệ
miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây
bệnh. Do đó cơ thể bị một số loại bệnh ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình
thường có thể đề kháng được.
AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, mỗi
người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnh nhiễm
trùng cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi
người.
1.3 Đường lây nhiễm HIV
I.1.1 Các đường lây truyền HIV
- Lây truyền HIV qua đường máu

5


HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu
như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể lây
truyền qua máu và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV.
Về nguyên tắc, có thể nói mọi trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của
người mà ta không biết chắc chắn là họ có nhiễm HIV hay không đều có nguy cơ
lây nhiễm HIV, ví dụ:
+ Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên
chích qua da, như trong các trường hợp sau:
+ Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các
trường hợp như dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa...
+ Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của
người nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da xây sát hoặc niêm mạc...
+ Lây truyền qua truyền máu và các sản phẩm của máu hoặc ghép các mô,
các tạng... bị nhiễm HIV. Hoăc qua các dụng cụ truyền máu, lấy máu... không
được tiệt trùng đúng cách.
- Lây truyền HIV qua đường tình dục
Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được coi
là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới. Khoảng
70-80% tổng số người nhiễm HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này.
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh
dục) nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) tìm được “đường xâm nhập” vào cơ thể
bạn tình không nhiễm HIV. “Đường xâm nhập” này không nhất thiết phải là các
vết thương hở hay vết loét trên da mà cả những vết trấy xước nhỏ không nhìn thấy
bằng mắt thường hoặc ta (người có vết xước) cũng không cảm nhận thấy. Hơn thế,
niêm mạc trong các hốc tự nhiên của cơ thể như đường âm đạo, lỗ niệu đạo ở đầu
dương vật, trực tràng, thậm chí niêm mạc mắt và cuống họng có các lỗ rất nhỏ mà
HIV (vốn cũng rất nhỏ) có thể xâm nhập được.
6


+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục xâm nhập đường hậu môn
Quan hệ tình dục xâm nhập Dương vật – Hậu môn thường được thực hành
phổ biến trong quan hệ tình dục đồng giới nam, nhưng cũng khá phổ biến trong
quan hệ tình dục khác giới nam – nữ. Đây là hình thức quan hệ tình dục có nguy
cơ lây truyền HIV cao nhất.
+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường âm đạo
Quan hệ tình dục đường âm đạo là hình thức quan hệ tình dục nam – nữ phổ
biến nhất và cũng là kiểu quan hệ tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. Ngay
cả khi thành âm đạo không bị tổn thương, các lỗ nhỏ li ti trên niêm mạc và chất lót
của các tế bào biểu mô cũng là “cửa mở” cho HIV từ dịch sinh dục của bạn tình
nhiễm HIV xâm nhập vào bạn tình kia. HIV cũng có thể lây nhiễm từ bạn tình nữ
sang nam qua cả niệu đạo.
+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường miệng
Quan hệ tình dục đường miệng hiện cũng đang thực hành cả trong trường
hợp quan hệ tình dục nam – nam, nam – nữ, nữ - nữ. Đây cũng là kiểu quan hệ
tình dục có nguy cơ lây truyền HIV nếu một trong các bạn tình nhiễm HIV, vì HIV
từ dịch sinh dục, hoặc từ máu (do các loét trong miệng...) có thể xâm nhập qua các
vết loét tương tự ở bạn tình.
Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ bị lây nhiễm HIV
qua quan hệ tình dục hơn. HIV có quan hệ chặt chẽ với các bệnh lây truyền qua
đường tình dục (BLTQĐTD), đặc biệt là các bệnh gây viêm loét bộ phận sinh dục
như hạ cam, giang mai. Khi một người mắc bệnh LTQĐTD mà có vết loét ở bộ
phận sinh dục thì nguy cơ nhiễm HIV khi quan hệ tình dục với người nhiễm sẽ
tăng lên từ 50- 300 lần. Những vết loét đường sinh dục cho phép HIV xâm nhập
vào máu. Một số bệnh LTQĐTD như herpes simplex, giang mai... làm giảm khả
năng miễn dịch và cũng có thể làm tăng tính cảm nhiễm với HIV. Dịch tiết từ các
vết loét sinh dục cũng chứa nhiều các tế bào bị nhiễm HIV...
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con
7


Trước hết cần khẳng định rằng HIV lây truyền từ mẹ sang con không có
nghĩa là bệnh di truyền. Phụ nữ nhiễm virus HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng
khoảng 30% là con nhiễm HIV theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh
con thì có khoảng 30 trẻ bị nhiễm. Virus HIV có thể lây sang bé trong các trường
hợp sau:
+ Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể
thai nhi.
+ Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào
trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá
trình đẻ). Khi sinh HIV cũng có thể từ trong máu mẹ thông qua các vết loét ở cơ
quan sinh dục me. mà dính vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.
+ Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú
người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc
răng cắn núm vú chảy máu
Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường có tuổi thọ rất thấp, bé sẽ bị bệnh và chết.
1.4 Các giai đoạn của nhiễm HIV
- Giai đoạn cấp tính( Giai đoạn” cửa sổ”)
+ Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì
ra bên ngoài để người khác có thể biết được, thậm chí kể cả bác sĩ khám bệnh tổng
quát. Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể sốt, nổi hạch, nổi ban đỏ trong
8 đến 10 ngày rồi trở lại bình thường rất giống với các bệnh cảm cúm thông
thường nên không có đặc điểm gì riêng để nhận biết. Vì vậy đối với nhiễm HIV có
thể xem như không có triệu chứng nào là triệu chứng đầu tiên để biết đã bị nhiễm.
+ Thời gian: Vài tuần có khi đến 6 tháng
+ Giai đoạn này chưa có kháng thể kháng virus HIV nên xét nghiệm âm tính
- Giai đoạn không triệu chứng
+ Thời gian: kéo dài trong vài năm đến trên 10 năm
8


+ Triệu chứng: Người bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng
+ Người nhiễm HIV đã có kháng thể kháng virus trong máu (xét nghiệm +)
nhưng không có triệu chứng gì.
+ Người nhiễm HIV vẫn lao động và sinh hoạt bình thường
+ Điều trị sẽ kéo dài thời gian chuyển thành AIDS
- Giai đoạn AIDS
Nhiễm HIV không có nghĩa là AIDS. Từ khi nhiễm HIV cho đến khi chuyển
thành AIDS là một khoảng thời gian dài trong nhiều năm. Trong thời gian đó
người nhiễm vẫn sống khoẻ mạnh và làm việc bình thường để sinh sống. Khi cơ
thể bị nhiễm HIV sẽ có 3 xu hướng phát triển:
+ Hoặc người đó mang virus HIV kéo dài khoảng 10 năm hoặc lâu hơn mà
vẫn khoẻ mạnh và làm việc bình thường nếu người đó thay đổi hành vi, thực hiện
chế độ dinh dưỡng và rèn luyện thân thể tốt
+ Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn
biến tự nhiên trong cơ thể
+ Hoặc sẽ diễn biến rất nhanh thành AIDS trong vòng vài năm nếu tiếp tục có
hành vi nguy cơ (như dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, tiếp tục quan hệ
tình dục không an toàn với nhiều người...)
Giai đoạn AIDS này có thể kéo dài vài thàng đến một năm, tuỳ thuộc vào sức
đề kháng của người bệnh, tế bào bạch cầu và tải lượng của virus, thuốc điều trị
nhiễm trùng cơ hội.
Trong giai đoạn này người bệnh thường gặp các triệu chứng: tiêu chảy, sụt
cân, ung thư da, loét da, liêm mạc, lao, nám
Do bị HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch nên người nhiễm HIV có thể mắc
nhiều chứng bệnh khác nhau nên ở họ có thể có rất nhiều các biểu hiện (triệu
chứng) bệnh khác nhau.
9


II. THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG
CHỐNG HIV/AIDS CỦA HỌC SINH THPT HUYỆN TRIỆU SƠN
2.1 Khái quát chung về vấn đề HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên vào tháng 11/1995, đến hết
tháng 6/2016, lũy tích số người nhiễm HIV toàn tỉnh là 7.274 ca, trong đó 1.938
người đã tử vong do AIDS. Trong 6 tháng đầu năm 2016, số người xét nghiệm
phát hiện mới nhiễm HIV là 208 người, số người nhiễm HIV tử vong là 36 người.
Tính đến cuối tháng 6/2016, toàn tỉnh phát hiện 4.201 trường hợp nhiễm HIV còn
sống và quản lý được.
So sánh với cùng kỳ năm 2015, số ca nhiễm HIV phát hiện của năm 2016
tăng 62% (208 trường hợp), số trường hợp tử vong được phát hiện tăng gấp hơn 2
lần là 36 trường hợp. Trong số người nhiễm HIV, phát hiện vẫn tập trung chủ yếu
ở nam giới là 73%, ở nhóm tuổi lao động 20-39 tuổi (72%); lây nhiễm HIV qua
đường máu (66%), chủ yếu trong nhóm nghiện chích ma túy chiếm 65% và không
có nghề nghiệp ổn định, thất nghiệp (76%). Số người nhiễm HIV phát hiện mới
trong 6 tháng có xu hướng tăng vì Thanh Hoá là một trong những tỉnh đang thực
hiện mục tiêu 90-90-90.
Nhìn chung, xu hướng người nhiễm HIV phát hiện mới trên toàn tỉnh có xu
hướng giảm, tuy nhiên lũy tích số người nhiễm HIV còn sống tiếp tục gia tăng.
Trong 6 tháng đầu năm 2016, về mặt chủ trương, ngành đã tham mưu cho
UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 19/CT-UBND ngày 31/5/2016 của Chủ tịch
UBND tỉnh về việc Tăng cường triển khai thực hiện chiến lược tiếp cận mục tiêu
90-90-90 phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Chính vì vậy, kết
quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong 6 tháng đầu năm 2016 là khá khả
quan.
Hoạt động xét nghiệm tìm ca nhiễm HIV mới được thực hiện khá tốt ở 20
phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện và tất cả các cơ sở khám chữa bệnh tuyến
huyện. Hơn 15.000 lượt người có nguy cơ trong cộng đồng được tư vấn làm xét
10


nghiệm HIV, góp phần chuyển gửi 208 người có kết quả HIV dương tính vào báo
cáo giám sát ca bệnh.
Hoạt động điều trị ARV ghi nhận điều trị mới cho 175 người nhiễm HIV,
nâng tổng số bệnh nhân toàn tỉnh là 3.144 người, đang điều trị tại 19 xã, thị trấn,
13 phòng khám ngoại trú, 12 phòng khám chuyên khoa của Bệnh viện đa khoa
tuyến huyện. Hiện tại ngành đang kiện toàn bảo hiểm y tế mang lại lợi ích thiết
thực khi khám chữa bệnh cho bệnh nhân điều trị ARV trên địa bàn toàn tỉnh.
Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
Methadone đang được duy trì triển khai tại 20 cơ sở điều trị và mở rộng lên 5 điểm
cấp phát thuốc tuyến xã cho 2.624 bệnh nhân. Trong 6 tháng đầu năm điều trị mới
cho 131 người nghiện chích ma túy, đặc biệt 87% trong tổng số 387 bệnh nhân
điều trị Methadone có kết quả HIV (+) được chuyển tiếp điều trị ARV.
Các hoạt động truyền thông, can thiệp cũng được tăng cường trong 6 tháng
đầu năm 2016 và chú trọng hơn ở Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ
sang con.
2.2 Mô tả đặc điểm huyện Triệu Sơn
Triệu Sơn là huyện trung du của tỉnh Thanh Hóa với 36 xã, thị trấn, kinh tế
xã hội còn chậm phát triển, giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn. Trong những
năm qua cùng với sự phát triễn của nền kinh tế, chính quyền các cấp, các ngành
cũng như ngành y tế luôn quan tâm đến công tác CSSK nhân dân.
Mạng lưới y tế cơ sở được đâu tư, cũng cố, nhất là các trạm y tế xã, thị trấn.
Hơn 36/36 trạm y tế xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều đạt CQGVYTX, đã nâng
cao được chất lượng công tác CSSK nhân dân, trong đó có công tác truyền thông
giáo dục sức khỏe tốt cả các lĩnh vực nói chung và truyền thông phòng chống
HIV/AIDS nói riêng được nâng lên đáng kể.
Tuy là Huyện trung du với mật độ dân số không đông, chỉ với 234.000 nhân
khẩu nhưng huyện có tới 6 trường cấp 3 Công lập và một trường Dân lập với số
lượng học sinh trờn 8500 em. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển
11


nhanh của kinh tế xã hội. Quá trình giao lưu và hội nhập cũng diễn ra rất nhanh đã
tác động rất lớn đến nhận thức và hành động của các em đối với các mặt của xã
hội trong đó có hiểu biết và nhận thức về HIV/AIDS.
2.3 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa và Triệu Sơn
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống HIV/ AIDS tỉnh
Thanh Hóa, tính đến hiện nay, toàn tỉnh có 4.890 người nhiễm HIV được báo cáo,
trong đó 2347 người đó chuyển sang các giai đoạn AIDS và 826 người đó chết do
AIDS ,chủ yếu tập trung ở một số huyện thị như TP.Thanh hóa 26.2%, Quan hóa
9.1%, Thọ xuân 7.6%, Mường lát 5.3%. Đại dịch không chỉ có ở các thành phố thị
trấn mà đã lan tới các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng thuần nông, đã có tới 79,3%(
506/638) xã phường, và 100% ( 27/27) Huyện thị trong tỉnh đã phát hiện có người
nhiễm HIV/AIDS.
Triệu Sơn là huyện có địa bàn rộng với diện tích 292km 2, được hình thành 3
vùng kinh tế khác nhau: Đồng bằng, Trung du và miền núi. Phát triển kinh tế chủ
yếu là trồng lúa, có 36 xã, thị trấn với tổng số dân 234.000 người. Do đặc điểm 3
vùng khác nhau nên trình độ dân trí, phong tục tập quán và điều kiện kinh tế phát
triển không đồng đều, vì vậy tạo nên tình hình bệnh tật ở các vùng có sự khác
nhau, với miền núi các bệnh phổ biến là sốt rét, bướu cổ, da liễu… Các xã vùng
đồng bằng và Trung du phổ biến các bệnh đường ruột, hô hấp, giun, sán và sốt rét
ngoại lai. Do dân đi làm ăn ở các tỉnh khác về mang theo và làm cho một số bệnh
dich khác cũng gia tăng như: nghiện hút, ma tuý, HIV/AIDS…
(Nguồn Thanhhoa365.com)
Trong những năm gần đây người nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng
tăng nhanh. Tính đến hiện nay, toàn huyện Triệu Sơn(HTR) Có 112 người nhiễm
HIV và số xã có người mắc là 31/36 xã thị trấn. Gồm nam là 88, nữ 24( Trẻ < 5
tuổi là 3), người < 30 tuổi 89 người >30 tuổi 23. Trong đó có 68 bệnh nhân AIDS
và 37 ngươi đó chết do AIDS, đa phần nằm trong độ tuổi thanh niên (theo báo cáo
12


của ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS). Đường lây qua tiêm chích 91 người,
qua đường tình dục 19 người và lây từ mẹ sang con là 3 người.
2.4 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh phổ thông về phòng, chống
HIV/AIDS
2.4.1. Kiến thức về HIV/AIDS của học sinh
Mặc dù đã trải qua hơn ba thập niên kể từ khi phát hiện ra ca bệnh đầu tiên
về HIV, tuy vậy cho đến nay sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người bệnh HIV/AIDS
cũng như tìm hiểu về HIV/AIDS vẫn đang còn là một thách thức lớn đối với cộng
đồng và xã hội. Kỳ thị là có thái độ tiêu cực đối với một cá nhân hoặc nhóm người
vì bản chất hoặc những đặc điểm của họ. Chẳng hạn như kỳ thị nam nữ vì khác
giống với mình, kỳ thị tuổi tác vì già trẻ hơn mình, kỳ thị người khác màu da,
không cùng nghề nghiệp. Kỳ thị với người bệnh HIV/AIDS có thờờ̉ là xa lánh, hắt
hủi và coi họ là những thành phần xấu trong xã hội; người có những hành vi
không bình thường; bệnh của họ là hậu quả của không đạo đức, thiếu trách nhiệm;
họ đã gây tiếng xấu cho gia đình, làng xóm; bệnh của họ nguy hiểm, dễ lây nếu
tiếp xúc, tới gần. Họ bị cô lập, loại trừ ra khỏi các sinh hoạt chung và giới hạn tiếp
cận các dịch vụ cần thiết cho đời sống, không được giúp đỡ trong công việc,
không được phục vụ tại các nhà hàng, tiệm ăn. Tại các trường học, con cái của họ
bị cho ngồi riêng, đôi khi bị từ chối.... Thường thường kỳ thị bắt nguồn từ sự không
hiểu biết với nguyên nhân, cách lây lan và diễn tiến của bệnh. Nhiều khi cũng có sự
kỳ thị với nhóm người mang bệnh nhiều hơn như giới mãi dâm, nghiện ngập, người
có khuynh hướng tình dục khác thường. Vì vậy, việc trang bị kiến thức chung hiểu
biết về HIV/AIDS cho mọi người nói chung và học sinh phổ thông trung học nói
riêng có ý nghĩa rất to lớn.
Bằng phương pháp chấm điểm cho từng câu trả lời kiến thức chung về
HIV/AIDS (bao gồm nguyên nhân gây bệnh, đường lây, cách phòng tránh), kết quả
nghiên cứu cho thấy kiến thức toàn diện về HIV của học sinh phổ thông Huyện Triệu
Sơn là khá tốt, với tỷ lệ 98,1% (biểu dồ 3.4) kiến thức hiểu biết đúng HIV/AIDS là
bệnh nguy hiểm. Cũng như có tới 94,4% (biểu đồ 3.6) các em biết được virus HIV
13


là tác nhân gây ra bệnh. Khi xem xét kiến thức hiểu biết về đường lây truyền
HIV/AIDS chúng tôi cũng thu được kết quả rất cao. Có tới 92,4% số em học sinh
tham gia nghiên cứu đó trả lời HIV/AIDS có thể lây truyền qua đường quan hệ
tình dục không lành mạnh, tiếp theo với 89,4% là qua đường mẹ truyền sang con
và 85,4% qua đường truyền máu không an toàn, 77,4% qua đường tiêm chích .
Về kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ các em học sinh hiểu
biết về các cách phòng chống lây nhiễm bệnh cũng rất cao: với 84,4% các em cho
rằng cần phải XN người cho máu, 82,3% cho rằng cần dùng bao cao su khi quan
hệ tình dục và 80,4% cần dùng bơm tiêm sạch. Tuy vậy bên cạch đó cũng vẫn còn
9,8% các em trong nhóm nghiên cứu cho rằng cần phải cách ly người nhiễm để
phòng tránh bệnh. Một tỷ lệ không nhỏ 16,5% các em vẫn cho rằng muỗi đốt cũng
có thể là nguyên nhân lây truyền bệnh.
Điều này có thể giải thích là do những năm qua ở huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh Hóa công tác tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS đã được trú trọng.
Tại các trạm y tế thường xuyên tổ chức các đợt, chiến dịch truyền thông lồng ghép
các chương trình y tế nói chung và tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS nói
riêng. Tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, thành lập “Câu lạc bộ đồng cảm
phòng chống HIV/AIDS” mà nòng cốt là cán bộ y tế, hội phụ nữ, thanh niên, các
ban, ngành của xã, đặc biệt là có sự tham gia của người có HIV và gia đình họ
hoặc vợ của những người đi làm ăn xa. Định kỳ hàng tháng, Ban chủ nhiệm xây
dựng chương trình hoạt động cho cả tháng, quý, tổ chức sinh hoạt với các chủ đề
phong phú, đa dạng nên thu hút được rất nhiều người tham gia, qua đó kiến thức
của cộng đồng về phòng chống HIV/AIDS được nâng lên rõ rệt. Bên cạch đó đội
ngũ y tế thôn bản xuống tận hộ gia đình để làm công tác tuyên truyền tư vấn tại hộ
gia đình, lồng ghép nhiều nội dung như làm mẹ an toàn, chăm sóc trước sinh,
phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống HIV/AIDS... Tại tất cả các trạm y tế
đều có góc tư vấn về các chủ đề cho mọi người. Phối hợp với Chương trình quốc
gia về CSSKSS với Dự án các trạm y tế tổ chức các đợt tuyên truyền về BCS và
phát BCS miễn phí tại cộng đồng. Cán bộ y tế xã được tập huấn kiến thức về các
14


bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) và tại trạm được đầu tư hệ thống xét
nghiệm, các test phát hiện nhanh STDs, qua đó cũng góp phần sàng lọc, phát hiện
sớm và điều trị kịp thời STDs giảm nguy cơ nhiễm HIV với đối tượng nhiễm
STDs. Ngoài ra đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là học sinh phổ thông trung
học, là nhóm đối tượng tương đối nhạy cảm và bắt cập nhanh với các kiến thức.
Sự phối hợp và tuyên truyền giáo dục về bệnh trong nhà trường cũng là nhân tố
tích cực. Các em được tuyên truyền, giáo dục về HIV/AIDS trong các bài giảng,
trong những tiết học ngoại khóa hoặc trên thư viện với sách báo và mạng Internet
phổ rộng khắp các trường.
2.4.2. Thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của học sinh.
Như ta biết, hậu quả của sự thiếu hiểu biết đầy đủ kiến thức về HIV là một
trong những nguyên nhân làm dịch bệnh HIV/AIDS dẫn đến khó kiểm soát. Sự kỳ
thị có khi từ phía cộng đồng hoặc từ chính bản thân người bệnh cũng có thái độ
tiêu cực với chính mình. Họ tự cảm thấy xấu hổ, đáng trách về hành động của
mình, sợ bị coi thường miệt thị rồi xa lánh cộng đồng, không tìm kiếm sự giúp đỡ
trị liệu, không timg hiểu thông tin về bệnh, đôi khi lại xa lánh người đồng cảnh
ngộ. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tại nhiều quốc gia Châu phi, phụ nữ bị kỳ thị hơn
nam giới, họ bị người chồng truyền bệnh cho rồi còn bị chế diễu, quấy rối, đe dọa
hành hung, không cho hưởng tiện nghi điều trị đôi khi còn bị đuổi khỏi nhà. Sự
thiếu hiểu biết về bệnh HIV/AIDS dẫn đến các hậu quả tai hại như: Bệnh trở nên
khó kiểm soát và người bệnh không dám thảo luận về các phương pháp phòng
tránh bệnh. Người bệnh không dám ra mặt chữa trị, phải loay hoay tự lo liệu, sống
trong thiếu thốn, buông xuôi, chờ đợi. Người nghi bị bệnh không đi thử nghiệm và
sợ bị biết là dương tính, mất việc làm, bị xa lánh. Tạo sự chia rẽ trong cộng đồng
dân chúng. Riêng tại Việt Nam, theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung Ương, có
hai địa điểm mà người nhiễm HIV bị kỳ thị nặng nề nhất đó là tại cơ sở y tế và gia
đình. Sự phân biệt đối xử và thành kiến này cần được xóa bỏ bằng cách phổ biến
rộng rãi các kiến thức cần biết về HIV/AIDS cho mọi tầng lớp dân chúng, kích lệ
sự tham gia của người nhiễm HIV, lập ra các nhóm đồng đẳng để họ sinh hoạt,
15


giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường nhân viên tư vấn, cung cấp dịch vụ chữa trị và thuốc
men.
Kết quả nghiên cứu của chúng tụi cho thấy phần lớn các em học sinh tham
gia vào nhóm nghiên cứu đã có kiến thức hiểu biết rất tốt về bệnh: 96,0% các em
cho rằng bệnh có thể phòng tránh được và có tới 88,8% cho rằng cần tham gia tích
cực vào các hoạt động của Trường, lớp về phòng chống HIV/AIDS, 71,0% cho
rằng không sử dụng ma túy. Mặc dù vậy bên cạch đó vẫn còn một tỷ lệ nhỏ 1,9%
học sinh cho rằng bệnh là không thể phòng tránh được và 2,1% trả lời không biết.
Trong tất cả các chiến lược về dự phòng, kiểm soát bệnh truyền nhiễm thì
truyền thông luôn có vai trò quan trọng hàng đầu và quyết định thành công vì
vậy truyền thông luôn phải đi trước. Đối với HIV, điều này lại càng đúng và
bức thiết, thời gian qua chúng ta đã và đang đẩy mạnh công tác này. Tuy nhiên,
truyền thông về HIV/AIDS vẫn chưa đạt hiệu quả như chúng ta mong đợi.
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi có tới 88,8% các em học sinh trong
nhóm nghiên cứu cho rằng cần tham gia tích cực vào các hoạt động của Trường,
lớp về phòng chống HIV/AIDS và 71,0% không sử dụng ma túy. Tuy vậy chỉ có
53,7% các em có hành vi chia sẻ, tìm hiểu thật sự về bệnh tật đối với bạn bè và
47,9% có chia sẻ tâm sự với bố mẹ gia đình và người thân. Điều này chứng tỏ
công tác giáo dục, truyền thông cần đa dạng hơn nữa cả về hình thức và nội dung,
có tính đến sự phù hợp về thời gian để người dân dễ tiêp cận.
2.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức hiểu biết, phòng chống HIV/AIDS
2.5.1. Nguồn cung cấp thông tin
Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010
và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và
truyền thông thay đổi hành vi có nguy cơ; nâng cao số lượng, chất lượng, tính phù
hợp, hiệu quả của các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông. Xây dựng đội
ngũ tuyên truyền viên gắn liền với đội ngũ cộng tác viên y tế thôn bản và các cán
bộ ở các ban, ngành, đoàn thể ở các xã, phường, thị trấn. Phân công trách nhiệm
16


cụ thể về thực hiện công tác thông tin, giáo dục truyền thông thay đổi hành vi cho
từng Bộ, Ngành, địa phương; đưa các nội dung về phòng lây nhiễm HIV/AIDS,
giáo dục sức khỏe sinh sản vào trong chương tŕnh đào tạo của các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp, giáo dục dạy nghề và phổ thông [3].
Nghiên cứu của chúng tôi tập chung ở nhóm đối tượng là thanh thiếu niên
đang theo học tại các trường trung học. Đây là nhóm đối tượng có nhiều cơ hội
tiếp cận đến các nguồn thông tin nhất. Với 66,0% và 64,3% các em trả lời nguồn
thông tin hiểu biết về bệnh thông qua sách báo tài liệu và ngoại khóa. Trong khi đó
chỉ 26,3% cho biết nguồn thông tin qua bài giảng và 11,4% qua cha mẹ. Điều này
một lần nữa thể hiện công tác truyền thông về bệnh còn nhiều bất cập, chưa rộng
khắp đến tất cả các đối tượng xã hội. Kết quả này cũng tương đương với kết quả
của một số nghiên cứu được thực hiện trước đó tại một số địa phương của các tác
giả khác trong cả nước.
Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế tại
một số bệnh viện trong công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của Nguyễn
Huy Nga và cộng sự tại Hà Nội, Bắc Giang và Hà Tây năm 2005 chỉ ra nguồn
thông tin nhận được về HIV từ đài báo chiếm tỷ lệ cao nhất gần 90%. Một nghiên
cứu kiến thức, thái độ và thực hành khác ở phụ nữ mang thai (PNMT) tại Trung
tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Khánh Hòa năm 2009 cho thấy, tỷ lệ PNMT được
nghe về HIV/AIDS là 94,75% và nguồn cung cấp thông tin từ đài, báo, tivi chiếm
89,3%, bạn bè và người thân 18,8%.
2.5.2. Mối liên quan giữa kiến thức và nghề nghiệp, học vấn, tầng lớp bố mẹ
Thiết kế nghiên cứu của chúng tôi dành một phần lớn đánh giá, so sánh kiến
thức của học sinh trong hoàn cảnh gia đình nhằm hiểu biết và phát huy tốt hơn về
công tác truyền thông của bệnh.
Khi đánh giá sự hiểu biết của các em học sinh trong mối quan hệ về tầng lớp xã
hội của bố mẹ (bảng 3.11) chúng tôi nhận thấy: sự hiểu biết của nhóm đối tượng
không liên quan đến tầng lớp của bố mẹ với p>0,05
17


Về kiến thức đường lây truyền bệnh bảng 3.12 cũng cho thấy sự hiểu biết về
đường lây truyền bệnh của các em không có liên quan đến tầng lớp của bố mẹ.
Tuy vậy về kiến thức về phòng tránh bệnh của nhóm đối tượng nghiên cứu có
ảnh hưởng đôi chút của tầng lớp bố mẹ. Khi phân tích mối liên quan đến tầng lớp của
bố chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt trong nhóm đối tượng là con của bố làm nông
nghiệp với con của bố làm các công việc khác ở hai mảng kiến thức phòng tránh là:
khử trùng dụng cụ và xét nghiệm người cho máu p<0,05. Tương tự như vậy ở nhóm
có mẹ làm nông nghiệp và mẹ làm cách công việc khác cũng có sự khác biệt ở mảng
kiến thức: khử trùng dụng cụ và cách ly người nhiễm bệnh.
2.5.3. Mối liên quan giữa kiến thức và học vấn của bố mẹ
Khi xem xét mối liên quan giữa kiến thức hiểu biết về bệnh HIV/AIDS
và trình độ học vấn của bố mẹ chúng tôi nhận thấy.
Về kiến thức hiểu biết sự nguy hiểm của bệnh không có sự khác biệt
trong các nhóm đối tượng so với trình độ học vấn của bố. Tuy vậy khác biệt lại
có ý nghĩa thống kê trong các nhóm học vấn của mẹ với p<0,001. Điều này
chứng tỏ các em có ảnh hưởng rất lớn từ mẹ.
Về nhóm kiến thức đường lây truyền bệnh bảng 3.15 cho thấy cũng có sự
khác biệt trong hai nhóm trình độ học vấn của bố và mẹ đối với hiểu biết đường
lây truyền là đường tiêm chích.
Về nhóm kiến thức phòng tránh bệnh chúng tôi cũng thấy có sự khác biệt
ở một số kiến thức như: dùng bơm tiêm sạch và XN người cho máu. Đặc biệt
trong kiến thức về quan hệ tình dục không lành mạnh sự khác biệt chỉ có ý
nghĩa đối với trình độ học vấn của mẹ. Điều này phù hợp xu thế các em chỉ
tìm sự hoặc trao đổi vấn đề “tế nhị” này với mẹ của người Việt Nam.
Như vậy nhìn chung kiến thức hiểu biết về HIV/AIDS đã phổ cập đến hầu hết
các bộ phận dân cư và tầng lớp xã hội. Tuy vậy mặt bằng kiến thức còn bị bó hẹp
trong phạm vi các kiến thức cộng đồng chung chung, chưa bao quát được tổng thế.
18


Nghiên cứu ban đầu nâng cao nhận thức phòng chống HIV/AIDS tại tỉnh Hòa
Bình năm 2003-2004 của Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự cho thấy: Tỷ lệ
người dân có hiểu biết đúng và đầy đủ về 4 đường lây truyền HIV/AIDS không
nhiều 25,4%. Tuy nhiên cũng không có nhiều người có nhu cầu tìm kiếm thông tin
về HIV/AIDS chỉ với 35,2% số đối tượng trong nghiên cứu. Như vậy, mặc dù thực
ra đa số người dân biết HIV/AIDS là nguy hiểm, là không có thuốc chữa, là chết
người, là vấn đề sức khỏe rất nguy hiểm nhưng họ không hề có dự định tìm hiểu
thấu đáo về vấn đề này. Rõ ràng người dân còn thụ động khi tìm kiếm thông tin.
Đó chính là khoảng trống giữa kiến thức - thái độ và thực hành của người dân
xung quanh vấn đề HIV/AIDS. Những hiểu biết cơ bản của người dân chỉ dừng lại
ở những vấn đề cơ bản như nguy cơ nhiễm, mức độ nguy hiểm, đường lây. Tuy
nhiên kiến thức cơ bản nhất là đường lây thì chỉ có 25,4% biết đúng và đủ về
đường lây truyền. Kiến thức và hiểu biết có sự chênh lệch giữa các nhóm nghề
nghiệp khác nhau, trình độ văn hóa khác nhau và giữa nhóm kết hôn và chưa kết
hôn. Đặc biệt còn một khoảng cách khá xa giữa kiến thức và thực hành
2.6 Một số yếu tố liên quan đến thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS
Khoa học đã chứng minh, để thay đổi một hành vi nào đó thì cần phải trải
qua rất nhiều giai đoạn. Trước hết phải có nhận thức, hiểu biêt về hành vi đó, phân
tích nó có hại hay không, hại như thế nào, sau đó mới có thái độ dứt bỏ hành vi đó
một cách khoa học được. Nhưng điều quan trọng là phải thực hành việc từ bỏ
hành vi đó một cách bền bỉ, kiên trì nhằm loại bỏ hẳn nó. Về nguyên lý là như
vậy nhưng trong thực tế thực hành để có kết quả thực sự khó khăn.
Trong nghiên cứu này của chúng tôi, mặc dù kiến thức hiểu biết về phòng
chống HIV/AIDS là tốt, nhưng chưa chắc thái độ thực hành của các em đó hoàn
hảo.
Phân tích thái độ thực hành phòng chống HIV/AIDS của các em học sinh có
liên quan đến giới tính( bảng 3.17) cho thấy: Hầu hết các em đó có thái độ tham
gia tích cực như; tham gia vào XN HIV, tham gia tích cực vào hoạt động phòng
19


tránh HIV/AIDS với tỷ lệ từ 84,6% đến 96,2%. Đây cũng là hai hành vi có sự
khác biệt giữa hai nhóm giới tính.
Về mối liên quan giữa thái độ thực hành và nhóm lớp, chúng tôi nhận thấy
khác biệt hầu như không có ý nghĩa thống kê với đa số các loại hình thái độ hành
vi. Khác biệt chỉ có ý nghĩa ở nhóm hành vi không tiêm chích ma túy và không
yêu đương. Điều này cũng dể hiểu vì quan niệm về tình yêu ở các nhóm tuổi này
đang có sự thay đổi lớn.
Về mối liên quan giữa thái độ, hành vi với các nhóm trường không có sự
khác biệt lớn. Hầu hết các em học sinh có thái độ tích cực trong các nhóm hành vi
thực hành phòng chống HIV/AIDS tỷ lệ đạt được tương đối cao 95,0% ở trường
Công lập và 92,8% ở trường Dân lập
Xem xét thái độ thực hành phòng chống HIV/AIDS của các em với học
vấn, trình độ và tầng lớp của bố mẹ chúng tôi cũng thu được kết quả rất cao.
Hầu hết các em đó có thái độ tích cực khi tham gia vào các nhóm hành vi.
Trong nghiên cứu thực trạng và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ,
thực hành phòng chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Thanh Miện tỉnh
Hải Dương của Nguyễn Thành Công chỉ ra, kiến thức phòng chống HIV/AIDS của
học sinh đạt 85,9%, vẫn có 43,3% cho rằng muỗi đốt cũng lây truyền HIV, 49,1%
không biết quan hệ tình dục đồng giới có thể làm lây truyền HIV, kiến thức mà các
em có chủ yếu tiếp thu từ thông tin đại chúng 97,9%, thầy cô 80,7%. Có 48,8% có
thái độ đúng, tích cực. 99,2% có thực hành đúng về phòng lây nhiễm HIV

20


III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHĂM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CAN THIỆP
CỦA CTXH
3.1. Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc phòng chống kỳ
thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Trong tất cả các môi trường tạo ra sự kỳ thị và phân biệt đối xử với NNH thì
ngoài việc tăng cường các biện pháp tuyên truyền giáo dục, thiết lập các chính
sách cụ thể thì vai trò của nhân viên CTXH là cực kỳ quan trọng ở khía cạnh này.
Trong nhiều trường hợp thì chính bản thân thân chủ sẽ tự kỳ thị mình do có
những suy nghĩ sai lệch. Lúc này nhân viên CTXH sẽ đóng vai trò là nhà tham vấn
để cùng chia sẻ, giải tỏa các cảm xúc hoặc điều chỉnh lại những suy nghĩ sai lệch.
Hơn nữa với vai trò nhà quản lý trường hợp sẽ giúp kết nối thân chủ với các nguồn
dịch vụ để họ có thể tự tin hơn trong cuộc sống.
Ngoài những vai trò trên thì một trong những vấn đề nổi cộm khiến vấn đề kỳ
thị và phân biệt đối xử vẫn tồn tại là nhận thức còn chưa đầy đủ của cộng đồng.
Do đó, với vai trò của mình, nhân viên CTXH sẽ tổ chức các hình thức giáo dục,
tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Nhân viên CTXH sẽ kết nối với
các cơ quan tổ chức chuyên môn để đưa ra những hình thức tuyên truyền chuyên
sâu và đa dạng để từ đó mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao nhận thức của
người dân trong cộng đồng. Ngoài ra, khác với những hình thức tuyên truyền
khác, nhân viên CTXH ở đây sẽ tìm hiểu sâu về những vấn đề còn đang tồn tại,
những nguyên nhân sâu xa của các vấn đề đó để đưa ra những hình thức và nội
dung tuyên truyền phù hợp. Cung cấp cho họ đầy đủ thông tin và tạo cơ hội cho họ
thể hiện trước đám đông, điều này sẽ giúp họ có thêm sự tự tin và có thể tự lực
vươn lên trong cuộc sống.
3.2 Nâng cáo vai trò và trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể thuộc các
cấp và cộng đồng
Tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể và
cộng đồng trong hoạt động phòng chống kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến
HIV/AIDS, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS cũng như gia đình của họ.
Đặc biệt, khuyến khích, huy động sự tham gia của những người nhiễm HIV, người
21


bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong hoạt động phòng chống căn bệnh này, tạo nên
một hình ảnh tích cực về người nhiễm HIV để giảm sự kỳ thị, đồng thời xóa bỏ sự
mặc cảm, tự ti và tự kỳ thị của chính họ.
3.3 Tăng cường và nâng cao chất lượng phòng chống kỳ thị và phân biệt đối
xử thông qua công tác truyền thông
Đổi mới tư duy về truyền thông
Chuyển từ truyền thông “hù dọa” sang truyền thông giải thích, dưạ trên các cơ sở
khoa học và thực tiễn.
Chuyển từ việc nhấn mạnh vào đường lây sang nhấn mạnh hơn đường không lây.
Chuyển từ việc coi người nhiễm HIV và gia đình là đối tượng của truyền
thông sang coi họ là chủ thể của truyền thông phòng, chống HIV/AIDS.
Chuyển từ đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV sang đưa tin, hình
ảnh tích cực về họ, cải thiện hình ảnh, tiến tới bình thường hóa sự có mặt của
người nhiễm HIV trong cộng đồng.
Đổi mới nội dung/thông điệp truyền thông:
Tập trung vào việc giải thích cho mọi người dân hiểu về khả năng lây truyền
của HIV, nhất là làm rõ rằng HIV không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường
và giải thích tại sao HIV lại không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường.
- Tập trung giải thích cho người dân các tác hại của kỳ thị và phân biệt đối xử
với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ, trong đó nhấn mạnh đến các tác hại
đối với cộng đồng, với sự phát triển kinh tế, xã hội và làm cho dịch HIV lây lan
nhanh hơn.
- Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh có thể gây hiểu nhầm HIV/AIDS cũng là
tệ nạn xã hội, người nhiễm HIV là người có lỗi.
-Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh có tính hù dọa, gây hoảng sợ trong cộng đồng.
- Tăng cường các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về HIV/AIDS, trong
đó nhấn mạnh các quy định về chống kỳ thị và phân biệt đối xử.
22


Đổi mới phương pháp truyền thông:
- Rà soát, kiên quyết thay thế các thông điệp, hình ảnh, nhất là các pano, áp
phích có nội dung hù dọa hoặc gây nhầm lẫn HIV/AIDS với tệ nạn xã hội.
- Biên soạn lại các tài liệu, ấn phẩm truyền thông theo hướng loại bỏ các nội
dung có thể dẫn đến tình trạng kỳ thị, phân biêt đối xử.
- Đa dạng hóa các phương pháp truyền thông. Lồng ghép nội dung chống kỳ
thị, phân biệt đối xử vào tất cả các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS.
- Tổ chức nhiều hoạt động truyền thông với sự tham gia của người nhiễm
HIV, đồng thời tạo điều kiện cho các nhóm người nhiễm HIV tổ chức các hoạt
động truyền thông trong cộng đồng, trong nhà trường, tại nơi làm việc và tuyên
truyền quảng bá rộng rãi về các hoạt động này.
- Không đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV, ngược lại cần tăng
cường đưa tin, quảng bá các hoạt động tích cực của họ, sự đóng góp của họ cho
cộng đồng và gia đình.

23


KẾT LUẬN
Trong những năm qua, cùng với các cấp ngành có liên quan, ngành GD&ĐT
đã có nhiều giải pháp thiết thực trong việc đảm bảo cho các đối tượng HSSV trên
địa bàn thanh hóa có điều kiện tiếp cận với các kiến thức cơ bản về HIV/AIDS.
Ngành GD&ĐT hiện đang trực tiếp quản lý trên 700.000 HSSV thuộc các
cấp học khác nhau. Việc các đơn vị trường học tiên phong đi đầu trong công tác
phòng chống HIV/AIDS sẽ góp phần đáng kể trong nỗ lực chung của toàn xã hội
nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ có nhận thức và cách hành xử thích hợp trước nguy
cơ lây lan, bùng phát của căn bệnh nguy hiểm này.
Ngay từ đầu năm học, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo cho các đơn vị trường học phổ
biến nội quy học tập tới tất cả các đối tượng HSSV, trong đó có nội dung về phòng
chống HIV/AIDS, yêu cầu HSSV và phụ huynh cùng ký cam kết thực hiện lối
sống lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, không buôn bán, tàng trữ trái phép các
chất ma túy.
Bên cạnh đó, Sở GD&ĐT cũng đã xây dựng chương trình hành động cụ thể
về công tác phòng chống HIV/AIDS cho toàn ngành, có kế hoạch chỉ đạo, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện ở các đơn vị trường học. Đồng thời, tiến hành cung
cấp, trang bị cho các cơ sở giáo dục hệ thống kiến thức cơ bản về các biện pháp
phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS thông qua các nguồn tài liệu, sách báo, băng
đĩa.
Mặc dù vậy, công tác phòng chống HIV/AIDS ở các đơn vị trường học hiện đang
gặp phải một số khó khăn. Việc cung cấp các kiến thức cơ bản về HIV/AIDS mới
chỉ được lồng ghép trong nội dung bài học của một số môn học ít nhiều có liên
quan như: Sinh học, Giáo dục công dân... trong khi các đơn vị kiến thức thuộc các
môn học mà học sinh phải tiếp thu còn khá “nặng”. Điều này đã ảnh hưởng không
nhỏ tới hiệu quả của công tác phổ biến, tuyên truyền.

24


Đối với các đơn vị trường học đóng ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng
xa, việc tiếp cận với các nguồn tài liệu tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS
vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi ở những địa bàn này, đối tượng học sinh đa
số là con em dân tộc thiểu số nên kỹ năng sống và sự hiểu biết về căn bệnh thế kỷ
này còn hết sức sơ sài, thậm chí chỉ là con số 0.
Đây cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn tới tình trạng số người nhiễm HIV có
chiều hướng gia tăng ở một số huyện miền núi phía Tây như: Quế Phong, Tương
Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu… Nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện công tác tuyên
truyền phòng chống HIV/AIDS đóng vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, phần lớn đội
ngũ nhân viên y tế ở các đơn vị trường học hiện nay chưa được trang bị đầy đủ,
bài bản về kỹ năng nghiệp vụ thực hiện công tác phổ biến, tuyên truyền phòng
chống AIDS. Vì thế, việc tư vấn, định hướng, giáo dục cho học sinh nắm được
những kiến thức cơ bản về căn bệnh thế kỷ này vẫn còn hạn chế, hiệu quả chưa
cao.
Để công tác phòng chống HIV/AIDS ở các đơn vị trường học trở thành hoạt động
có nề nếp, phát huy hiệu quả, trước hết, mỗi đơn vị trường học cần nhận thức được
tầm quan trọng của việc phòng chống đại dịch HIV/AIDS. Xem đây như là nhiệm
vụ thiết yếu của nhà trường trong việc đào tạo nên những thế hệ học sinh vừa có
đủ đức, trí, thể, mỹ vừa có khả năng “đề kháng” trước các tệ nạn xã hội và nguy
cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS.
Cần đưa công tác phòng chống HIV/AIDS trở thành hoạt động thường xuyên,
liên tục trong suốt cả năm học, được nhấn mạnh thành hoạt động chủ điểm vào
tháng 12 hàng năm. Nhằm tạo sức cuốn hút, hấp dẫn các đối tượng học sinh, bên
cạnh việc lồng ghép kiến thức phòng chống HIV/AIDS trong một số môn học đặc
thù, cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền như: tổ chức các cuộc thi tìm hiểu,
sân khấu hóa, tổ chức các câu lạc bộ, diễn đàn phòng chống AIDS. Bên cạnh đó,
cần quan tâm tới công tác tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng
giáo dục, tư vấn đối với đội ngũ nhân viên làm công tác y tế trường học.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×