Tải bản đầy đủ

vai trò của NVCTXH trong tham vân cho đối tượng nhiễm HIVAIDS

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN

TRẦN THỊ HOA

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỒ TRỢ TÂM LÝ
CHO ĐỐI TƯỢNG NHIỄM HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM KHÁM CHỮA
BÊNH SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH XÃ HỘI TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã
hội

Hà nội, 2015

MỤC LỤC


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Phụ lục 1: Thảo luận nhóm....................................................
Phụ lục 2: Nội dung, kế hoạch và tiến trình của tọa


112
113 đàm


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch, là hiểm họa cho nhân loại và là mối quan tâm
hàng đầu của các nước. Ở nước ta, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tiếp tục diễn biến phức tạp.
HIV/AIDS xuât hiện ở tât cả các tỉnh, thành phố và có xu hướng ngày càng lan rộng, đe dọa trực tiếp đến
sức khỏe, tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển của đât nước. Thời gian qua, dưới
tác động của công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đôi hành vi, nhận thức của người dân về
dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Thực trạng ở Việt Nam, với hơn 220.000 người nhiễm HIV được báo cáo, Việt Nam là quốc gia
có số người nhiễm HIV đứng thứ 5 trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương (sau Ản Độ, Trung Quốc,
Indonesia và Thái Lan). Việt Nam kỳ vọng kết thúc đại dịch HIV/AIDS năm 2030 . Thông tin được Thứ
trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết tại lễ mítting hưởng ứng Tháng hành động quốc gia phòng
chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1/12, diễn ra tại Hà Nội sáng 30/1/2014.
Theo thứ trưởng, Việt Nam đã kiểm soát được tốc độ gia tăng của các ca nhiễm mới HIV, giảm số
người tử vong do AIDS. Tuy nhiên, tình hình lây nhiễm bệnh có nhiều diễn biến phức tạp.Mỗi năm nước
ta có khoảng 10.000 ca nhiễm mới HIV được phát hiện, HIV/AIDS vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây
gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Sự quay trở lại của đại dịch HIV/AIDS đang trở nên hiện hữu khi tốc độ
đầu tư cho công tác phòng chống đang giảm xuống. Bên cạnh đó, các biện pháp can thiệp chưa được
triển khai đủ mạnh và tình trạng phân biệt đối xử chưa giảm xuống. Dịch HIV ở Việt Nam vẫn tập trung
chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm cao: người nghiện chích ma túy, nam quan hệ
tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm.
Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo, chiếm hơn 32% các ca nhiễm
mới trong năm 2013, cho thây sự lây truyền HIV từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình.
Quyết tâm ngăn ngừa đại dịch HIV/AIDS lan tràn ở Việt Nam là công tác vô cùng câp bách đòi
hỏi tât cả các ngành các câp cùng tham gia.
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề tương đối mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên từ khi ra đời nó đã
được ứng dụng vào rât nhiều hoạt động đặc biệt là hoạt động hỗ trợ người yếu thế. Với sứ mệnh của
ngành, CTXH hướng đến an sinh, công bằng và hạnh phúc cho toàn thế mọi người. Đảng và Nhà nước ta
đã thấy rõ được tầm quan trọng của nghề CTXH trong công tác giải quyết các vấn đề xã hội và hỗ trợ
3


người yếu thế, chính vì vậy mà năm 2011 đã thành lập mã nghề CTXH và thực hiện nâng cao năng lực
cho cán bộ xã hội tại các địa phương với đề án 32 của chính phủ. Điều này chứng minh được rằng,


CTXH và nhân viên CTXH (NVCTXH) có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện hỗ trợ
những người yếu thế.
Một trong những nhóm người yếu thế mà CTXH hướng đến đế hỗ trợ đó chính là đối tượng nhiễm
HIV/ AIDS. Trong đó, vai trò của các NVCTXH có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp đỡ đối tượng
đương đầu và vượt qua hoàn cảnh.
Thái Bình là tỉnh với nền nông nghiệp lâu đời, hiện nay, với xu hướng mới tăng sản xuât công
nghiệp bên cạnh vẫn chú trọng nông nghiệp đã mang đến bộ mặt mới, diện mạo mới cho tỉnh. Bên cạnh
những thành tựu đã đạt được thì những hạn chế do sự phát triển của công nghiệp mang lại cũng không
nhỏ mà van đề trước mắt đó chính là đối tượng nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng tính đến ngày 29/12,
tỉnh Thái Bình phát hiện hơn 3.580 người nhiễm HIV/AIDS. Riêng trong năm 2014, tỉnh phát hiện 114
người nhiễm mới. Điều này là một trong những thách thức lớn đối với các câp lãnh đạo của tỉnh. Trong
những năm gần đây, trong những bản phương hướng, nhiệm vụ của tỉnh đều đề cập đến vần
2

4


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
dê giâm ti lê dôi tuong nhiêm HIV/AIDS và công tac hô tro dôi tuong này châm soc và hoa nhâp công
dông [24,99]
Trung tâm Chùa bênh - Giao duc - Lao dông xâ hôi thuôc sô lao dông thuong binh xâ hôi Thai
Binh Tinh Thai Binh duoc thành lâp vôi muc tiêu, nhiêm vu là môt trong nhùng trung tâm thuc hiên công
tac châm soc, hô tro cho dôi tuong sông chung vôi HIV/AIDS. Cac can bô ô dây thuc hiên vai tro châm
soc và hô tro dôi tuong. Vi vây viêc nâng cao nâng luc cho can bô thuc hiên và thê hiên vai tro cüa
NVCTXH tai co sô là vô cùng cân thiêt
Chinh vi nhùng ly do trên mà tôithuc hiên nghiêncùu dê tài: Vai tro
cüanhân viên

công tac xâ

hôi trong hô tro tâm ly

cho dôi tuong

nhiêm

HIV/AIDS tai trung tâm chûa bênh - giao duc - lao dông xâ hôi Sô lao
rri

/v

-*i



r

. Tong quan van de nghiên cuu
2.1 Tinh hinh nghiên cüu vê HIV/AIDS và hô tra dôi twang nhiêm HIV/AIDS dwang dâu và vwat qua
khüng hoang trên thêgiâi [25,99]
HIV/AIDS xuât hiên ô Châu phi vào nhùng nâm 1950, 1960, 1970. Tuy nhiên vào thôi gian do
nhùng dâu hiêu xuât hiên môi chi duoc coi là nhùng ca viêm nhiêm và chua duoc giâi thich và cùng chua
duoc su quan tâm cüa xâ hôi. Trên thuc tê cac hô so vê cac truông hop bi nhiêm virut cùng không duoc
luu giù cân thân, và cùng chua ai khâng dinh duoc rang dâ co bao nhiêu truông hop nhiêm virut ô Châu
phi luc bây giô.Cho dên khi cac nuôc Phuong Tây vôi hê thông châm soc y tê hiên dai hon dâ phat hiên
ra no.
Nâm 1992, môt nghiên cùu ô Rwanda dâ co cuôc nghiên cùu cüa cac nhà xâ hôi hoc trong viêc
kiêm tra tac dông cüa tw vân phong ngwa dôi vâi ngwoi nhiêm HIV. Và nghiên cùu chi ra rang dôi vôi
phu nù dôi tac mà cùng dâ duoc thù nghiêm và tu vân, hàng nâm ty lê nhiêm HIV môi giâm tù 4,1% dên
1,8%. Ô dây, tu vân dâ giup giâm ti lê nguôi nhiêm H [25,99].
Một nghiên cứu dựa vào cộng đồng, cách tiếp cận cho thanh thiếu niên và phụ nữ. Yangon,
UNICEF, năm 1995, được thiết kế để giúp đỡ cộng đồng người lao động ở nông thôn tăng nhận thức và
phát triển cuộc sống kỹ năng liên quan đến HIV / AIDS. Tất cả các vấn đề liên quan, chẳng hạn như
chăm sóc trong thanh niên và phụ nữ, tư vấn cho họ cách bảo vệ mình trước HIV. Chủ đề được tiếp cận
trong thực tế một cách thân thiện và tập trung vào tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng, bạn bè và
5


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
gia đình. UNAIDS chính sách về xét nghiệm HIV và tư vấn. Ở nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, những
người nhiễm HIV/AIDS rất cần sự hỗ trợ từ phía gia đình, cộng đồng, bạn bè đặc biệt là từ những nhà
chuyên môn - hỗ trợ về mặt tâm lỷ để họ vượt qua khủng hoảng và rào cản về mặt tâm lỷ để họ hòa nhập
với cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu này được UNICEF tài trợ đã có kết quả khả quan hơn khi họ nhẩn
mạnh đỉ.i vai trò của những nhà chuyên môn trong công tác tham vẩn cho người nhiễm HIV/AÍDS
[25,99]
Ngọn nến của niềm hy vọng : AIDS chương trình của Hội Chữ thập đỏ Thái Lan và Chiến lược
ActionAid, 1994 đã cung cấp cái nhìn tống quan của Thái Lan ứng phỏ quốc gia với dịch HIV / AIDS.
Bao gồm giới thiệu những nỗ lực và kinh nghiệm của Hội Chữ thập đỏ Thái Lan và Câu lạc bộ đồng
đang trong việc tư vấn, phố biến Giáo dục về AIDS, và cung cấp chăm sóc sức khỏe, dịch vụ hỗ trợ, và
niềm hy vọng cho những người sống HIV. Chương trình này cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của nhà
tham vấn trong công tác hỗ trợ cho đối tượng nhiễm HIV đương đầu với khủng hoảng [28,99].
Năm 1996, hội nghị quốc tế lần thứ 11 về AIDS được tổ chức tại Vancouver, Canada. Lần đầu tiên
người ta được nghe thông tin lạc quan về hóa chất ngăn chặn, liệu pháp kết hợp, xét nghiệm virut HIV và
khả năng can thiệp sớm. Tại đây nhiều bài tham luận và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người
nhiễm HIV thường gặp phải những vấn đề về tâm lý đặc biệt là về khủng hoảng tâm lý, vì vậy những
nghiên cứu và tham luận này cũng chỉ ra rằng cần phải có sự can thiệp sớm bằng cách hỗ trợ về mặt
tâm lý cho người nhiễm HIV để họ có sức mạnh vượt qua khó khăn. [25,99]
Từ đó cho đến nay, nội dung của các hội nghị, tài liệu trên thế giới xoay quanh vấn đề phòng
chống HIV/AIDS, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đối tượng sống chung với
HIV/AIDS.
2.2 Tình hình nghiên cứu về HIV/AIDS và hỗ trợ đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua
khủng hoảng tại Việt Nam
Trong những năm qua, các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam
đã dần hình thành và ngày càng thể hiện rõ vai trò của pháp luật trong công tác phòng, chống HIV. Các
văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS được ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau.
Bộ Luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành đã có những điều khoản xử
phạt nghiêm minh tất cả mọi hình thức bạo lực tình dục đối với trẻ em, bao gồm cả mại dâm trẻ em và

6


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
buôn bán trẻ em. Trong đó có hai tội phạm đặc biệt có liên quan đến HIV/AIDS cũng đã được đề cập đến
là tội lây truyền HIV cho người khác và tội cố ý truyền HIV cho người khác.
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS đã tạo cơ sở pháp lý, hình
thành một khung pháp luật khá đầy đủ cho việc triển khai thống nhất, đồng bộ các hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS trong phạm vi toàn quốc, góp phần quan trọng trong việc hạn chế sự gia tăng lây
nhiễm HIV trong cộng đồng; đồng thời góp phần giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao sự hiểu
biết về HIV/AIDS và công tác phòng, chống HIV/AIDS trong nhân dân, góp phần giảm thiểu tác hại của
dịch HIV/AIDS đối với nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Toàn xã hội đã và đang quan tâm đến vấn đề này, nó được thể hiện rõ trong những nghiên cứu,
diễn đàn, hội thảo cấp nhà nước, liên ngành và quốc tế.
“Một số cảm xúc tiêu cực ở người nhiễm HIV/AIDS và cách thức hỗ trợ” của GS. TS. Trần Thị
Minh Đức và cử nhân Tâm lý học Trương Phúc Hưng, Tạp chí Tâm lý học số 6/2000, cũng đã chỉ ra
rằng, ở người nhiễm H có những cảm xúc tiêu cực mà đối tượng phải trải nghiệm, vì vậy gây ra cho họ
những trạng thái tiêu cực và nhà tham vấn cần hỗ trợ cho họ để họ ứng phó với những cảm xúc, trạng
thái tiêu cực đó [23,99.
“Diễn đàn của những người sống chung với HIV/AIDS” do Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng
Khoa học về Giới- Gia đình- Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA), 2004 thực hiện tại Hà Nội và Thanh
Hóa (thành thị) với sự hỗ trợ của Quỹ Canada. Nội dung:
Tạo cơ hội đế những người sông chung với HIV/AIDS nói lên tiếng nói của mình
• Tăng cường năng lực và sự tự tin của người nhiễm HIV/AIDS


Khuyến cáo cộng đồng về sự nguy hiếm của nạn dịch HIV/AIDS



Loại bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng với người có HI V/AIDS

Trong đề án nghiên cứu của UNESSCO/ UNAIDS về phương pháp tiếp cận văn hóa trong dự phòng
và chăm sóc HIV/AIDS, 2004 đã ưu tiên trình bày các phương pháp xây dựng thực hiện chiến lược,
chính sách phù hợp với truyền thống văn hóa trong chăm sóc HIV/AIDS.
Trong chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam, giai đoạn 2001 - 2010 đã đưa mục
tiêu bảo vệ trẻ em bị nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là một trong các mục tiêu quan trọng.
Hiện nay Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đang phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng và
trình Chính phủ phê duyệt “Chiến lược bảo vệ trẻ em giai đoạn 2006 - 2010 và tâm nhin 2020”, trong do

7


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
co cac muc tiêu và cac hoat dông cu thê nham bâo vê, châm soc tre bi nhiêm HIV và tre bi ânh huông bôi
HIV/AIDS.
Trong bao cao “Tré em bi anh hwâng bâi HIV/AIDS và Vai tro cüa Ngành LDTB&XH trong viêc
thuc hiên KHHDQG vi tré em bi anh hwâng bâi HIV/AIDS dên nam 2010” cüa BS. Nguyên Trong An Pho Cuc truông Cuc BVCSTE-Bô LDTB&XH dâ nêu lên thuc trang tre em bi nhiêm và ânh huông bôi
HIV/AIDS và thành tuu, thach thùc cüa Viêt Nam trong công tac châm soc và bâo vê dôi tuong nhiêm và
ânh huông bôi HIV/AIDS noi chung và tre em noi riêng. Dâc biêt, trong bao cao này dâ chu y dên viêc
châm soc dôi tuong nhiêm và ânh huông bôi HIV/AIDS tâp trung tai gia dinh và cac trung tâm xâ hôi.
Bao cao Diên dàn Quôc gia “Tiêng noi tré em và HIV/AIDS”, do Bô Lao Dông Thuong Binh &
Xâ Hôi, Tô chùc Cùu tro Tre em Anh, Tô chùc Tâm Nhin Thê Giôi, 2007 tô chùc Diên dàn vôi 25 thông
diêp cüa minh, tâp trung vào nhùng vân dê nhu (1) giâm phân biêt dôi xù; (2) duoc tiêp cân vôi thông tin,
tu vân hô tro; (3) duoc hô tro và châm soc trong diêu tri: (4) duoc hô tro vê giao duc; (5) duoc vui choi
giâi tri nhu cac ban khac; (6) duoc hô tro tâm ly xâ hôi và (7) duoc tham gia và duoc lâng nghe.
Trong giai doan 2005-2011, co rât nhiêu dê tài nghiên cùu khoa hoc vê HIV/AIDS câp Nhà nuôc,
câp Bô, ngành và câp co sô duoc triên khai. Kêt quâ nghiên cùu dâ giup công tac lâp kê hoach, xây dung
cac chuong tinh can thiêp, châm soc và diêu tri dat hiêu quâ. Kêt qüa nghiên cùu dâ duoc bao cao tai cac
hôi nghi khoa hoc và dâng tâi ô nhiêu tap chi khoa hoc trong nuôc và quôc tê. Trong thôi gian qua (2010
- 2012), hon 150 công trinh, dê tài nghiên cùu vê dich tê hoc, cac mô hinh, biên phap can thiêp du phong
và diêu tri vê HIV/AIDS, nghiên cùu vê hành vi, xâ hôi hoc cüa cac viên nghiên cùu, cac truông dai hoc,
bênh viên dâ duoc triên khai và ùng dung co hiêu quâ.
Hôi nghi Khoa hoc quôc gia vê HIV/AIDS lân thù IV diên ra ngày 0103/12/2010 tai Hà Nôi tâp
trung vào 4 chü dê: Khoa hoc co bân vê HIV/AIDS và dịch tễ học về HIV/AIDS, HIV/AIDS/STI/Lao;
Can thiệp, dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; Chăm sóc, điều trị nhiễm trùng cơ hội và AIDS; Lãnh đạo,
quản lý và sự tham gia của các to chức xã hội dân sự trong phòng, chống HIV/AIDS. Hội nghị có 4 phiên
toàn thể và 16 phiên chuyên đề. 112 báo cáo được lựa chọn để trình bày tại hội trường và 38 báo cáo
được trình bày dưới dạng poster.
Năm 2012, với nghiên cứu về HIV/AIDS, Phạm Văn Tư, trưởng bộ môn cơ sở Công tác xã hội,
Khoa Công tác xã hội, Đại học sư phạm Hà Nội đã nghiên cứu về nội dung: Vai trò của NVCTXH trong
việc hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hòa nhập học đường, nghiên cứu này diễn ra tại Hà Nội,
Thái Bình, Thái Nguyên và Quảng Ninh [14,98], Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng :
8


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
-

Nhân viên Công tác xã hội can thiệp, hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bằng phương pháp
công tác xã hội cá nhân theo tiến trình cụ thế nhằm giúp trẻ phát huy được tiềm năng của bản thân
các em ở việc giải quyết vấn đề của mình, trong đó có việc đi học.

-

Nhân viên Công tác xã hội sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm đế can thiệp, hỗ trợ nhóm
trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại một địa bàn cụ thế (Trung tâm bảo trợ xã hội), thông qua việc
sinh hoạt nhóm, giúp các em đồng cảm, chia sẻ và đặc biệt là giúp các em có cơ hội đi học.

-

Nhân viên Công tác xã hội sử dụng kỹ năng biện hộ để giúp trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thực
hiện quyền được đến trường của mình.

-

Nhân viên Công tác xã hội làm việc với các nhà trường nơi địa bàn các em cư trú để giúp nhà
trường ủng hộ việc đi học của những trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

-

Tranh thủ sự ủng hộ của Hội cha mẹ học sinh, tuyên truyền chống kỳ thị và phân biệt đối xử của
các bậc phụ huynh giúp cho trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được đi học.
Tóm lại, theo những tài liệu và những thông tin mà chúng tôi thu thập được thì hiện nay cũng

chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu tập trung vào vân đề vai trò NVCTXH trong việc hỗ trợ tâm lý đặc
biệt là tham vân cho đối tượng sống chung với HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng. Những
nghiên cứu hay báo cáo mới chỉ dừng lại ở những vân đề hỗ trợ cho đối tượng tiếp cận dịch vụ, phòng
chống lây nhiễm ra cộng đồng hay chỉ tập trung vào đối tượng là trẻ em mà chưa có nghiên cứu chuyên
sâu về vân đề.
Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài góp phần tông hợp cơ sở lý luận về vân đề và nghiên cứu
làm rõ vai trò của nhân viên CTXH trong hỗ trợ tâm lý đặc biệt là tham vân cho đối tượng nhiễm
HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng. Từ đó xây dựng quy trình hỗ trợ đối tượng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò của nhân viên CTXH trong tham vân cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu
và vượt qua khủng hoảng và tham vân giúp đối tượng nhiễm HIV/AIDS giảm căng thang tâm lý.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn về vai trò của nhân viên CTXH, vai trò của
NVCTXH trong tham vân cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS; các giai đoạn khủng hoảng của đối
tượng nhiễm HIV/AIDS.
9


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
-

Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng HIV/AIDS, những yếu tố làm gia tăng căng thang của
đối tượng nhiễm HIV/AIDS.

-

Nghiên cứu và làm rõ quá trình tham vân của nhân viên Công tác xã hội giúp đối tượng nhiễm
HIV/AIDS trong các giai đoạn của khủng hoảng.

-

Đề xuât một số khuyến nghị nhằm tăng cường khả năng đương đầu và vượt qua khủng hoảng cho
đối tượng nhiễm HIV/AIDS.

4. Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu vân đề có ý nghĩa trực tiếp về mặt lý luận và thực tiễn:
-

Về lý luận: Chỉ rõ được vai trò và tầm quan trọng của CTXH và nhân viên CTXH trong hỗ trợ
cho đối tượng yếu thế nói chung và đối tượng nhiễm HIV/AIDS nói riêng.

-

Về thực tiễn: Nghiên cứu vân đề vai trò của nhân viên CTXH có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp
đối với tỉnh Thái Bình, tham mưu cho sở Lao động - Thương binh xã hội tỉnhThái Bình trong việc
thực hiện phương hướng, nhiệm vụ của tỉnh xây dựng trung tâm CTXH và hỗ trợ tốt hơn cho đối
tượng nhiễm HIV/AIDS.

5 . Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên CTXH trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS
5.2 Khách thế nghiên cứu
16 Nhân viên CTXH (cán bộ) và 16 đối tượng nhiễm HIV/AIDS
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vỉ về thời gian: 2/2013 - 2/2014
6.2 Phạm vỉ về không gian: Trung tâm khám chữa bệnh - sở Lao động thương binh xã hội Tỉnh
Thái Bình (Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội).
6.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu: Trong Công tác xã hội với người nhiễm HIV/AIDS có rât
nhiều vân đề mà người nhiễm HIV cần được hỗ trợ như: Chăm sóc sức khỏe thể chât và tinh
thần, tham vân, tư vân, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ, giáo dục...Tuy nhiên đề tài tập trung nghiên
cứu và làm rõ vai trò của nhân viên CTXH trong tham vân cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS
đương đầu và vượt qua khủng hoảng.

1
0


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
7. Câu hỏi nghiên cứu
-

Đối tượng nhiễm HIV/AIDS đang gặp phải những khó khăn gì?
-

Nhân viên CTXH có vai trò gì trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS?

8. Giả thuyết nghiên cứu
-

Đối tượng nhiễm HIV/AIDS đang gặp phải vấn đề về khó khăn tâm
lý.
-

Đối tượng nhiễm HIV/AIDS gặp vấn đề căng thẳng tâm lý vì vậy họ cần được tham vấn để vượt
qua những căng thẳng đó.

-

Nhân viên Công tác xã hội có vai trò tham vấn trong hoạt động hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm
HIV/AIDS.

9. Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu vấn đề tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu vượt qua khủng hoảng là
vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, xã hội, điều kện kinh tế.... Vì vậy để nghiên cứu
vấn đề này có hiệu quả, chúng tôi đã vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở phương pháp luận khoa học cho đề tài, đó chính là quan điểm toàn diện lịch sử, cụ thể và
phát triển. Phương pháp luận này đòi hỏi khi xem xét vấn đề khủng hoảng của đối tượng nhiễm
HIV/AIDS, cần đặt đối tượng vào hoàn cảnh cụ thể, giai đoạn khủng hoảng cụ thể, các giai đoạn phát
triển của bệnh cụ thể và sự phát triển của xã hội và tính nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp luận này cũng đòi hỏi khi xem xét khủng hoảng của đối tượng nhiễm HIV/AIDS phải nhìn
đối tượng theo quan điểm phát triển, tích cực, không nhìn vào mặt hạn chế, tiêu cực của đối tượng.
9.2 Phương pháp thu thập thông tin:
rr^l

r

r
!_•*___ I »Ạ ________________r____

Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
Mẫu nghiên cứu
Tong số mẫu khách thể nghiên cứu là 32 người, cụ thể : 16 cán bộ, nhân viên tại trung tâm và 16
đối tượng nhiễm HIV.
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi chọn ngẫu nhiên : 16 cán bộ, 16 đối tượng nhiễm HIV.

1
1


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
-

Tổ chức 02 buổi thảo luận nhóm, nhóm nhân viên chăm sóc và đối tượng nhiễm H. Trong đó,
nhóm cán bộ 6 người, nhóm đối tượng nhiễm H 6 người.

-

Tố chức 20 cuộc phỏng vấn sâu, cụ thế 10 đối tượng nhiễm H và 10 người chăm sóc (người quản
lý và nhân viên trực tiêp chăm sóc).
Những cán bộ và đối tượng tham gia thảo luận nhóm không thuộc những người/không tham gia

vào phỏng vấn sâu.
Thu thập thông tin Phương pháp thu thập
* Phỏng vẩn sâu
Đây là phương pháp chính đế chúng tôi thu thập thông tin cho nghiên cứu của mình.
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này đế phỏng vấn sâu 10 đối tượng nhiễm HIV/AIDS và 10
cán bộ của trung tâm. Nhờ vào phương pháp này, chúng tôi hiếu rõ hơn về các vấn đề mà đối tượng
đang gặp phải và đối tượng đương đầu, vượt qua khủng hoảng như thế nào. Cũng như thông qua phương
pháp này, chúng tôi biết được cách nhìn chủ quan của đối tượng đối với vân đề và cán bộ (NVXH ) đã
làm gì và thể hiện vai trò như thế nào để hỗ trợ cho đối tượng.
Chúng tôi đã xây dựng bảng hướng dẫn phỏng vân sâu phù hợp với từng đối tượng cán bộ và đối
tượng nhiễm HIV/AIDS tại trung tâm. Hai bảng hướng dẫn này đã được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận
của đề tài và thực tế
nghiên cứu địa bàn và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu. Vì vậy bảng hướng dẫn
mang tính khái quát và khách quan, định tính về vấn đề nghiên cứu.
Tong số khách thể tham gia nghiên cứu phỏng vấn sâu là 20 người .
* Thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là việc nhân viên xã hội đưa ra một vấn đề có thể là thông qua một
số câu hỏi hay nội dung gợi ý và yêu cầu các thành viên nhóm thảo luận trong một khoảng thời gian nhất
định. Phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong quá trình sinh hoạt nhóm nhằm thu hút mọi
người tham gia một cách chủ động vào việc chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề
đang được quan tâm.
Chúng tôi tiến hành 2 buoi thảo luận nhóm với các cán bộ và đối tượng của trung tâm.
Đối tượng: tham gia thảo luận nhóm: cán bộ và đối tượng nhiễm HIV/AIDS
1
2


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Hình thức và thời gian: Tổ chức buổi thảo luận trong 30 - 60 phút.
Nội dung: Bàn luận về các vấn đề liên quan đến những sự kiện gây nên khủng hoảng và cách thức
mà đối tượng đã thực hiện để đương đầu với khủng hoảng . Tùy theo chủ đề dự kiến trước hoặc có những
vấn đề nảy sinh; nhưng ưu tiên việc bàn về những vấn đề lo lắng các đối tượng gặp phải trong cuộc sống.
Cách thức thực hiện:
Bước 1: Nhân viên xã hội yêu cầu các thành viên chia theo nhóm nhỏ . Mỗi nhóm có 6 thành viên.
Bước 2: Nhân viên xã hội đưa ra chủ đề thảo luận và những câu hỏi, những vấn đề nhóm cần thảo
luận làm rõ. Chủ đề và những câu hỏi thảo luận đưa ra phải rõ ràng, ngắn gọn và đảm bảo tất cả các
thành viên hiểu được.
Bước 3: Đưa ra những yêu cầu về thời gian thảo luận, địa điểm thảo luận và phân công người trình
bày kết quả thảo luận của nhóm. Lưu ý là nhắc nhở các thành viên thay phiên nhau trình bày các kết quả
thảo luận. Không để việc trình bày cho duy nhât một hay một vài thành thành viên trong nhóm mà tât cả
thành viên đều có nhiệm vụ trình bày . Trong quá trình các nhóm thảo luận,nhân viên xã hội có thể đi đến
các nhóm để giải thích cho các thành viên những vân đề họ chưa hiểu cặn kẽ.
Bước 4: Sau khi các nhóm đã hoàn thành phần thảo luận,nhân viên xã hội yêu cầu các thành viên
lên trình bày kết quả nhóm. Sau khi thành viên nhóm đại diện trình bày xong, có thế đề nghị các thành
viên khác trong nhóm đó bố xung ý kiến và hỏi ý kiến từ những thành viên của nhóm khác.
Bước 5: Phân tích, tóm lược những ý chính nhóm và các nhóm khác đã trình bày và quan trọng là
sử dụng những kết quả thảo luận này đế phân tích vấn đề đang cần giải quyết hoặc liên hệ nó với vấn đề
đang giải quyết.
Nhân viên xã hội đã chuấn bị chủ đề thảo luận rõ ràng, ngắn gọn. Quan trọng hơn là sử dụng kết
quả thảo luận-chính là những ý kiến của các thành viên phục vụ cho hoạt động của nhóm.
Thông qua phương pháp này, chúng tôi thu được nhiều thông tin và hiếu rõ hơn những khó khăn
đặc biệt là vấn đề đương đầu và vượt qua khủng hoảng trong các giai đoạn của đối tượng.
Ngoài ra, để thu thập được những thông tin khách quan, sâu sắc và có ý nghĩa hơn nữa về vân đề
nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng 01 buổi tọa đàm để tìm hiểu về nội dung : Biểu hiện tâm lý và các yếu
tố ảnh hưởng đến tâm lý của đối tượng nhiễm HIV/AIDS. Đây là phương pháp bổ trợ để tăng lượng
thông tin về vân đề nghiên cứu.
Công cụ thu thập thông tin
1
3


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
- Bảng hướng dẫn phỏng vân phù hợp với từng đối tượng
-

So nhật ký cá nhân ghi chép lại những quan sát được trong quá trình nghiên cứu.

-

Đoạn phim, băng ghi âm ghi hình Kiểm soát sai lệch
thông tin

-

Bảng hướng dẫn phỏng vấn sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với tiếng địa phương
và từng đối tượng nghiên cứu; và được tiến hành thử nghiệm trước khi tiến hành nghiên cứu
chính thức.

-

Tập hợp trao đoi thông tin sau mỗi cuộc phỏng vấn.
Kỹ thuật phân tích thông tin
Các dữ liệu được tổng hợp dưới dạng văn bản từ sổ nhật ký quan sát; bản ghi chú, máy ghi
âm từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu. Sau đó được mã hóa theo các mục tiêu nghiên
cứu.
Cuối cùng được phân tích sâu và trình bày báo cáo kết quả bằng phần mềm Microsoft Word.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
-

Chỉ tiến hành thu thập thông tin khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu

-

Đảm bảo quyền lợi của người cung cấp thông tin bao gồm thông báo về mục đích và việc sử
dụng kết quả nghiên cứu; đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân

-

Đảm bảo đối tượng không bị tổn thương bởi các phương pháp nghiên cứu hoặc bị thiệt hại
bởi kết quả nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Học thuyết, lý thuyết là sự đúc rút, tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn và là cơ sở để người giúp
đỡ/ nhà tham vấn phân tích, giải nghĩa, lập kế hoạch can thiệp giúp đỡ.
Neu một chuyên gia hỗ trợ không sử dụng kiến thức cũng như lý thuyết đã được nghiên cứu mà
chỉ dựa ti ên sự suy đoán, kinh nghiệm cá nhân hay các ý kiến chưa được kiếm chứng, các giá trị, niềm
tin của riêng cá nhân thì họ sẽ không có được nền tảng thống nhất hay những chuấn mực nhất định cho
triến khai hay theo dõi, giám sát cho quá trình giup đỡ.
Đe giúp đỡ có hiệu quả, người hỗ trợ cần có sự kết nối giữa lý thuyết và thực hành, lý thuyết sẽ có
ý nghĩa định hướng, làm cơ sở nền tàng cho việc thực hiện quá trình giúp đỡ.
1
4


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Các lý thuyết về Thân chủ là trọng tâm, lý thuyết nhận thức hành vi và lý thuyết vai trò, lý
thuyết can thiệp khủng hoảng, là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu, triển khai kế hoạch tham
vấn, can thiệp và đưa ra biện pháp hỗ trợ tốt nhất cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS .
1.1.1Lý thuyết tiếp cận thân chủ trọng tâm - Carl Roger
Đại biểu có ảnh hưởng nhiều nhất tới quan điểm Nhân văn - hiện sinh là Carl Rogers (1902 1987). Ông là người sáng lập ra phương pháp tham vấn thân chủ trọng tâm. Lúc đầu phương pháp này
được gọi là “Liệu pháp thân chủ trọng tâm” và sau đó được gọi là “phương pháp tham vấn tập trung vào
cá nhân”[7,98]
Nội dung
Rogers gia thuyêt rang môi nguoi dêu sa hùu nhùng tiêm nâng cho su lon lên , tiêm nâng cho
nhùng hành vi co hiêu qua và co khuynh huong tu hiên thuc hoa nhùng tiêm nâng cüa minh. Bai vi môi
ca nhân dêu co nhu câu manh mê duoc nguoi khac châp nhân, coi trong nên ca nhân co thê hành dong
mot cach không tu nhiên, không thuc tê và phat triên nhùng cam giac sai lêch vê ban thân vê nhùng diêu
minh mong muôn.
Thân chü duoc xem nhu là mot chü thê co hiêu biêt , ho phai duoc hiêu và duoc châp nhân dê nhà
tham vân co thê cung câp nhùng loai hinh giup dô tôt hon.
Phuong phap tham vân tâp trung vào ca nhân cüa ông không phai là chùa tri cho thân chü hoàc tim
kiêm nhùng nguyên nhân tù qua khù mà cai chinh là khuyên khich thân chü tu hiên thuc hoa nhùng tiêm
nâng cüa ban thân dê phat triên tâm ly lành manh 6 thân chü.
Theo Carl Rogers môi tuong giao hùu ich giùa nhà tham vân và thân chü là môi tuong giao xac
dinh bang mot su trong suôt vê phân tôi, trong do cac giac quan cüa tôi biêu hiên thât su rô ràng su châp
nhân nguoi khac nhu mot con nguoi riêng biêt, co gia tri riêng và bang mot su cam thông sâu xa.
Nhiêm vu cüa nhà tham vân theo phuong phap tiêp cân này là tao ra mot môi truong thuân loi dê
giup thân chü gô bo “rào can tâm ly” dang han chê su bày to khuynh huong tich cuc vôn co và giup thân
chü làm sang to và châp nhân tinh cam cüa riêng minh.
Phuong phap thân chü trong tâm danh gia cao qua trinh tâp trung vào môi quan hê tri liêu hon là
tâp trung vào kï thuât tri liêu. Voi nhà tri liêu thi thai do dong vai tro rât quan trong trong quan hê tri liêu.
B6i vi tri liêu thân chü trong tâm nhân manh dên môi quan hê giùa nhà tri liêu và thân chü cho nên thai
do cüa nhà tri liêu dong vai tro chü yêu . Chinh vi vây, làng nghe tich cuc là mot kï nâng nên tang trong

1
5


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
phuong phap thân chü là trong tâm. Nó đòi hỏi nhà tham vấn phải lắng nghe bằng tất cả các giác quan ,
bằng “trái tim”
Quan điểm tiếp cận của C.Rogers cho rằng con người có bản tính tốt , tích cực. Con người có khả
năng tự lo liệu, tự giải quyết vấn đề của họ mà không cần định hướng của người hỗ trợ. Mục đích của
tiếp cận thân chủ trọng tâm là giúp thân chủ trải nghiệm vấn đề của mình, biết chấp nhận bản thân, tự
tin, cởi mở, sẵn sàng đương đầu với những biến cố, sống thực với bản chất bên trong của mình, tự giải
quyết vấn đề của mình.
Khái niệm chủ đạo trong tiếp cận thân chủ trọng tâm là: mỗi người đều có thế định hướng được
cuộc sống của chính mình. Các thân chủ đều có khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc
sống một cách hiệu quả. Cách tiếp cận này tập trung chủ yếu vào những trải nghiệm hiện tại của thân chủ
và quyết định cách thức giải quyết vấn đề hiệu quả.
Điều quan trọng trong khi nhà tham vấn sử dụng phương pháp này sự trung thực, tôn trọng và
chấp nhận vô điều kiện , cảm thông trọn vẹn, chỉnh xác với thân chủ. Khi thân chủ cảm thấy cổ người
hiêu mình, thông cảm, chia sẻ trọn vẹn với mình thì sẽ bộc lộ, giãi bày dễ dàng, thăng thắn. Do vậy, cần
tạo ra môi trường, mối quan hệ hỗ trợ, khích lệ không phê phán, trong đổ thân chủ cảm thấy thoải mái,
từ đổ cổ thê bộc lộ những điều riêng tư của mình kê cả nhũng điều mà xã hội lến án. Trên cơ sở đổ nhà
tham vấn mới hiểu được trọn vẹn thân chủ và từ đó có nhiều cơ hội hơn để giúp thân chủ trưởng thành
hơn và tự giải quyết vấn đề của chính mình
Rogers tin rằng thân chủ có thể tìm ra giải pháp của riêng mình. Do đó, trong khi tham vấn cho
thân chủ ông hoàn toàn không chi phối quyết định của thân chủ. Theo ông, chính mối quan hệ giữa nhà
tham vấn - thân chủ đã giúp thân chủ tự giải quyết vấn đề của chính mình. Chỉ khi nào nhà tham vấn có
được sự chấp nhận, tôn trọng vô điều kiện những giá trị tự tại, riêng biệt của thân chủ, bât kể địa vị, hành
vi..., nhà tham vân chân thực trong mối quan hệ tương giao với thân chủ và thâu hiểu thân chủ (trải
nghiệm vân đề như thân chủ đang trải nghiệm, nhìn vân đề như họ nhìn...) Chỉ khi đó thì nhà tham vân
mới có thể hỗ trợ thân chủ vững tin ở bản thân, thân chủ mới có thể đương đầu với những vân đề của
mình một cách hiệu quả, thích đáng.
Ứng dụng
Việc ứng dụng cách tiếp cận thân chủ trọng tâm trong tham vân nhân mạnh đến sự thâu hiểu
những vân đề bên trong khách hàng thông qua những điều khách hàng biểu hiện ra bên ngoài.
1
6


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Mục đích của phương pháp thân chủ trọng tâm không phải là chữa trị cho thân chủ hoặc tìm kiếm
nguyên nhân từ quá khứ mà cái chính là khuyến khích ở thân chủ tự hiện thực hóa những tiềm năng của
bản thân, tự tin, cở mở và đương đầu với những biến cố, khủng hoảng của bản thântạo điều kiện dễ dàng
cho sự phát triển tâm lý lành mạnh từ đó tự giải quyết vân đề của mình.
Tiếp cận thân chủ trọng tâm ứng dụng trong các tình huống giao tiếp xã hội, trong trị liệu và trong
đào tạo lây học sinh là trung tâm, trong quan hệ cha mẹ - con cái, thích hợp trong tham vân khủng hoảng,
ứng dụng với nhiều khách hàng thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau.
Trong nghiên cứu này, lý thuyết thân chủ là trọng tâm được ứng dụng trong quá trình tham vân
cho đối tượng và nhà tham vân theo phương pháp tiếp cận này là giúp thân chủ gỡ bỏ rào cản tâm lý
đang hạn chế sự bày tỏ khuynh hướng tích cực vốn có và giúp thân chủ làm sáng tỏ, hiểu rõ bản thân và
châp nhận bản thân. Đồng thời việc ứng dụng lý thuyết vào trong quá trình tham vân cho đối tượng
nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng đặc biệt trong những giai đoạn của khủng hoảng.
1.1.2

Lý thuyết nhận thức - hành vi
Nội dung
Từ những năm 1960, các tác giả như Albert Ellis đặt tiền đế mô hình trị liệu xúc cảm hợp lý

( Rational Emotive Behaviour Therapy - REBT), Aaron Beck phát triển liệu pháp nhận thức , Maxie C.
Maultsby phát triển liệu pháp hành vi. Năm 1990 tên gọi liệu pháp nhận thức hành vi bắt đầu được sử
dụng. Sự phát triển của mô hình tiếp cận nhận thức - hành vi đã đưa tham vân cũng như trị liệu nhận thức
hành vi trở nên phổ biến trên thế giới.
Lý thuyết nhận thức - hành vi quan niệm rằng, con người không phải là sinh vật thụ động bị kiếm
soát chặt chẽ của môi trường. Các cách thức con người hành động đều xuất phát từ sự hiếu biết và nhận
thức của họ. Neu sự nhận thức dựa ti ên các quan điếm hay niềm tin phi lý nó thường gây ra các hỗn loạn
cảm xúc và ứng xử không thích ứng.
Có thế diễn giải quan điếm của cách tiếp cận nhận thức - hành vi như sau: Suy nghĩ, cảm xúc và
hành vi liên quan mật thiết với nhau. Suy nghĩ, nhận thức quyết định sự biếu hiện của cảm xúc và hành
vi. Những rối loạn cảm xúc có thế xuất hiện do những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực. Neu thay đối những
suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực sẽ giúp cá nhân cải thiện được những rối loạn cảm xúc của mình.
Phương pháp sử dụng trong lý thuyết nhận thức hành vi đó là sử dụng Kĩ thuật REBT (cảm xúc
hợp lý ), đây là kĩ thuật mang tính hướng dẫn cao, có sự thuyết phục và chấp nhận đương đầu của thân

1
7


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
chủ nhằm thay đối nhận thức, cảm xúc, hành vi. Kĩ thuật này được thiết kế để xác định và kiểm tra nhận
định sai lệch của thân chủ, từ đó đi đến điều chỉnh những suy nghĩ và niềm tin không hợp lý này.
Ứng dụng
Nhà tham vân hỗ trợ thân chủ trong việc phân tích tình huống phải đối đầu, vạch ra những điều
bât hợp lý trong nhận thức để đi đến thay đổi chúng, giúp thân chủ thích nghi hơn với hoàn cảnh.
Cách tiếp cận theo lý thuyết này này yêu cầu thân chủ phải có khả năng nhận thức cần thiết và sẵn
sàng đầu tư thời gian cần thiết để giám sát và phân tích các cách thức mà mình tư duy đồng thời thực
hành các kỹ thuật phù hợp để thay đoi những thói quen cố hữu trong suy nghĩ của mình. Thuyết nhận
thức - hành vi đặc biệt hữu hiệu đối với các vấn đề về suy giảm lòng tự trọng và những suy nghĩ về việc
tự chuốc lấy những thất bại. Ứng dụng trong thực hành của lý thuyết này kết hợp những khái niệm được
lựa chọn từ lý thuyết học hỏi và áp dụng phân tích hành vi với những thuyết khác rút ra từ việc nghiên
cứu quá trình nhận thức. Ví dụ, làm thế nào mọi người tư duy và thông tin về quá trình đó). Nó cũng
đồng thời trọng tâm vào sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những nhận thức (tư duy), cảm xúc và hành vi.
Những hành vi có vấn đề và những đau khổ cá nhân thường được bắt nguồn từ những suy nghĩ cứng
nhắc, không hợp lý và không hoàn hảo cũng như từ những niềm tin không thực tế, không được tìm thấy
về cách thức mà chúng nên tồn tại (theo sự mong đợi của cá nhân).
Trong suốt quá trình trị liệu nhận thức - hành vi, thân chủ được hỗ trợ nhận biết, giám sát, kiểm
tra, và thay đổi những hình mẫu suy nghĩ đó và những giả định khiếm khuyết mang tới sự gia tăng của
vấn đề. Thân chủ cũng được dạy những kỹ năng đặc thù và thủ tục để nhận biết nội hàm và tương tác
trong suy nghĩ của họ, đánh giá tính đúng đắn trong nhận thức của mình cùng với những giả định và cách
xem xét các sự kiện cũng như các trạng thái qua quan sát kỹ tường tận hơn.
Việc ứng dụng lý thuyết trong tham vấn cho đối tượng nhiễm HI/AIDS đương đầu và vượt qua
khủng hoảng. Đối tượng đang trong giai đoạn khủng hoảng, nhà tham vấn áp dụng lý thuyết để hỗ trợ
cho đối tượng thay đổi hành vi từ đó thay đổi nhận thức, chấp nhận thực tế và vươn lên trong chính hoàn
cảnh của mình.
1.1.3

Lý thuyết vai trò Nội dung

Đây là một trong những lý thuyết cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu xã hội học và có ứng dụng
mạnh mẽ trong thực hành CTXH.
Lý thuyết vai trò cho rằng một cá nhân trong xã hội có một vị trí nhất định và từ đó có một vai trò
nhất định gắn với vị trí đó. Sự tương tác giữa các nhóm và giữa các cá nhân bao gồm cả sự tương tác
1
8


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
giữa các vi trí, giữa các vai trò này. Mỗi người có một khoảng cho cá nhân của mình, khoảng này gắn với
vị trí, với vai trò và có những tương tác với nhau để dẫn đến bản sắc xã hội nhất định. Trong tương tác
này, mỗi người có một kết cấu cá nhân, mỗi người có ý tưởng riêng của mình về một sự vật, sự kiện nhất
định và họ trao đối nhau, tương tác với nhau từ những kết cấu này.
ửng dụng
Lý thuyết vai trò có ý nghĩa lớn trong thực hành CTXH bởi lẽ đó là lý thuyết về tương tác của với
những người khác; đồng thời sự mong đợi của những người khác về cũng như phản ứng của họ đối với
ảnh hưởng đến phương thức đap ứng của con người. Có hai lý thuyết về vai trò: (1) Lý thuyết cấu trúc
chức năng, và (2) Ly thuyết vai tuồng (trò đời).
Lý thuyết câu trúc chức năng cho rằng mỗi người có một vị trí trong cấu trúc xã hội. Mỗi vị trí
trong cấu trúc đều có một vai trò gắn với nó. Do đó, vai trò được định nghĩa là một tập hợp các mong đợi
hoặc hành vi gắn với một vị trí trong cấu trúc xã hội. Tùy theo cách nhìn nhận về vai trò của như thế nào
mà có thể quản lý sự thay đổi.
Lý thuyết về trò đời coi vai trò là hành động đối với sự mong đợi của xã hội về một trạng thái xã
hội nhất định. Trong thực hành CTXH dựa trên lý thuyết vai trò, người ta có thể tiến hành 6 bước như
sau:
1 .Xác định yêu cầu mà những vai trò mới có thể tạo ra
2.

Định nghĩa các vai trò (những người khác tham gia vào và vai trò của họ là gì)
3. Nhận biết những rào cản mà các vai trò hiện nay tạo ra và mâu thuẫn với vai trò mới

4.

Điều đình chi tiết những vai trò mới (ai làm gì, khi nào và ở đâu)

5.làm việc với sự lồng ghép vai trò, thí dụ lập thời khóa biểu ai làm gì và khi nào tạo ra bản sao
6.

Điều đình lại vai trò và phản hồi để cho thấy khi nào cần thay đoi
Lý thuyết vai trò là lý thuyết được áp dụng nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu này. Việc áp

dụng lý thuyết này trong tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng
làm rõ vai trò của NVCTXH trong quá trình tham vấn.
1.1.4

Lý thuyết can thiệp khủng hoảng Nội dung

Khủng hoảng được định nghĩa là “sự nhận biết (perception) hay kinh nghiệm (experience) của
người ta về một sự cố hay một tình huống được người ta coi như một khó khăn không thể chịu đựng nổi
vượt quá nguồn lực và cơ chế xử lý tình huống (coping mechanism) hiện có của người ta”.
1
9


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Lý thuyết của can thiệp khủng hoảng không chỉ đơn thuần dựa trên khái niệm về cân bằng mà hơn
thế còn dựa trên khái niệm về “trạng thái ổn định” (steady state) cho rằng khi có điều gì đó (khủng
hoảng) xẩy rá người ta có khả năng xử lý (coping) đáp ứng với sự kiện và thay đổi để phát triển.
Lý thuyết này dựa trên mô hình khủng hoảng với khả năng quản lý các sự kiện cho rằng khủng
hoảng là một quá trình chứ không phải là một sự kiện nhất thời, song nó có sự kiện gây tác động
(precipitating event). Thông thường người ta có chức năng xã hội bình thường. Khi có một sự kiện gây
tác động, người ta thấy lo lắng, căng thẳng và lẫn lộn (sự kiện gây tác động làm cho người ta rơi vào
trạng thái hoảng sợ “distress”). Trạng thái này làm cho người ta mất khả năng xử lý (coping) tình huống.
Vì mất khả năng xử lý người ta có nguy cơ cao hơn, mất cân bằng nhiều hơn. Tình trạng mất cân bằng
nặng nề này làm cho người ta rơi vào trạng thái hoạt hóa khủng hoảng (active crisis). Nếu được giúp đỡ,
người ta có thể nâng cao kỹ năng xử lý tình huông (coping skill), tìm được nguyên nhân an dấu trong
tiềm thức và từ đó nâng cao dược chức xử lý khủng hoảng. Ngược lại nếu không được giúp đỡ sẽ có hai
khả năng xay ra; hoặc chức xử lý tình huống khủng hoảng bị giảm khiến người ta lại có thẻ bị ton thương
khi một sự cố gây khủng hoảng lại xay ra; hoặc chức năng xử lý tình huống bị tê liệt, người ta không còn
khả năng xử lý nữa và dẫn đến tự tử, bạo lực hoặc bệnh tâm thần. ửng dụng Trị liệu
Trị liệu 1: Từ lý thuyết trên, can tịhiếp khủng hoảng bao gồm những nội dung sau đây (theo
Robert):
1. Thiết lập cơ chế xử lý tình huông mới như là một phần các năng lực mà thân chủ có được
2. CTXH được tiến hành thông qua cảm nhận và kinh nghiệm về vấn đề cần giải quyết so cho một sự
thay đối lâu dài có thế thực hiện được
3. Huy động các nguồn lực hỗ trợ
4. Giảm bới những tác động không mong muốn hay những súc động ảnh hưởng liên tục
5. Tư duy thông qua các sự kiện và diễn biến sau đó đế lồng ghép chúng vào mô tả đời sống của cá
nhân thân chủ
Khi thực hiện can thiệp, người ta chia ra làm 7giai đoạn
1. Lập kế hoạch và thực hiện đánh giá khủng hoảng
2. Thiết lập tiếp cận và nhanh chóng thiểt lập quan hệ
3. Xác định các vấn đề chính và yếu tố kích động khủng hoảng
4. Làm việc về tình cảm hay cảm nhận (feelings) và xúc động (emotions)
2
0


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
5. Gợi mở và khai thác những khả năng xử lý
6. Phát triển một kế hoạch hành động
7. Thiết lập cách theo rõi đánh giá và đòng thuận thực hiện
Trị liệu 2: Từ lý thuyết trên, người ta phân ra 3 loại mô hình can thiệp khủng hoảng (theo Jame và
Galliland)
1. Mô hình thăng bằng (equilibrium model) cho rằng con người khi có vấn đề thường mất sự thăng
bằng tâm lý và cần phải trở về trạng thái ổn định; trong trạng thái này người ta có khả năng giải
quyết có hiệu quả nhũng vấn đề của cuộc đời mình.
2. Mô hình nhận thức (cognitive model) cho rằng con người khi có vấn đề thường nhìn nhận một
cách sai lệch các sự kiện quanh khủng hoảng
3. Mô hình quá độ tâm lý xã hội (psychosocial transition model) cho rằng con người có vấn đề là khi
họ phải kinh qua các giai đoạn chuyển tiếp của cuộc đời; khi người ta phải vượt qua những thay
đổi tâm lý hay xã hội cũng được coi là người ta trải qua một chặng phát triển của cuộc đời
Khi thực hiện can thiệp người ta chia ra làm 6giai đoạn
1. Nghe và xác định vấn đề
2. Nghe và bảo đảm sự an toàn của thân chủ
3. Nghe và mang lại cho thân chủ sự hỗ trợ
4. Đánh giá vấn đề
5. Hành động xem xét các khả năng giải quyết vấn đề
6. Hành động xây dựng kế hoạch can thiệp
7. Hành động để có được sự cam kết
Trong nghiên cứu này, việc ứng dụng lý thuyết can thiệp khủng hoảng trong tham vấn cho đối tượng
nhiễm HIV đương đầu và vượt qua khủng hoảng có ý nghĩa quan trọng. Cụ thể: Coi khủng hoảng là một
phần của cuộc sống và chấp nhận nó để từ đó vươn lên. Đối với đối tượng nhiễm HIV việc chấp nhận
thực tế là vô cùng quan trọng và việc NVCTXH can thiệp tham vấn cho đối tượng để họ chấp nhận thực
tế đó để họ vươn lên và vượt qua chính hoàn cảnh khủng hoảng của bản thân bằng chính sức mạnh nội
lực của mình.

2
1


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
Tóm lại, việc áp dụng các lý thuyết trong nghiên cứu tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV đương
đầu và vượt qua hoàn cảnh có ý nghĩa định hướng, làm cơ sở nền tàng cho việc thực hiện quá trình
nghiên cứu đề tài và giúp đỡ đối tượng.
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1

Khái niệm Công tác xã hội
Thuật ngữ công tác xã hội được dùng khá rộng rãi đế chỉ các hoạt động (các tố chức, đoàn thế) từ

những hình thức giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân thiếu hụt chức năng xã hội. Nhiều nhà khoa học đã khang định
rằng, CTXH là một ngành khoa học và là một nghề chuyên môn.
Từ khi ra đời đến nay, có rất nhiều các khái niệm khác nhau về CTXH, trong đó nối bật lên là các
khái niệm sau :
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ
các cá nhân, nhóm hay cộng đồng đế nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ đế giúp họ thực
hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996:
5).CTXH tồn tại đế cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình,
nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999) [13,98]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada,
vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các
mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ
ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH
can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là
các nguyên tắc căn bản của nghề.CTXH dưới nhiều hình thức đa dạng của nó, nhằm vào vô số các tương
tác phức hợp giữa con người và các môi trường của họ. Sứ mạng của nó là tạo năng lực giúp người dân
phát triển tối đa tiềm năng, làm phong phú đời sống của họ, và ngăn ngừa các trục trặc. CTXH chuyên
nghiệp tập trung vào quá trình giải quyết các vấn đề và sự thay đoi. Do đó, nhân viên CTXH (hay được
gọi là nhân viên xã hội -NVXH) là những tác nhân đổi mới trong xã hội, trong đời sống của các cá nhân,
gia đình, cộng đồng mà họ phục vụ. CTXH là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết và thực hành.
Theo Foundation of Social Work Practice ( Cơ sở thực hành công tác xã hội): công tác xã hội là
một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được vị trí ở mức độ phù
hợp trong xã hội. Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng

2
2


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh, nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực
tiễn cho công tác xã hội và xây dựng những kĩ năng chuyên môn hoá [30,99]
Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc: công tác xã hội là 1 sự nghiệp và môn khoa học
chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành
viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng với các chức năng xã hội.
Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc
đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lí xã hội [30,44].
Theo F.LuLu Pablo - Bộ trưởng bộ xã hội Philippin, chuyên gia tư vấn cho dự án “ Tư pháp vị
thành niên" của Radda Barnen: công tác xã hội vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một
nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của
cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thoả đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt
động xã hội như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, to chức cộng đồng, quản lý xã hội và
nghiên cứu [33,98].
Theo Crouch.R.C: Công tác xã hội là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương
tiện sinh tồn biết tiếp cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thế được.
Theo Joanf Robertson - chủ nhiệm khoa công tác xã hội trường Đại học Wisconsin - Hoa Kỳ:
công tác xã hội là một quá trình giải quyết vấn đề hợp lý nhằm thay đối theo kế hoạch, hướng tới mục
tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tố chức, cộng đồng và chính sách xã hội
Theo Cố Thạc sĩ Nguvễiắ Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định nghĩa cổ điển: CTXH
nhằm giúp cá nhân và cộng đồng Tự GIÚP. Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà
nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) đế họ tự giải quyết vấn đề
của mình.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối
quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây
dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Có nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về công tác xã hội vừa trình bày trên, chúng ta có thể
nội hàm cơ bản của CTXH qua những nội dung cơ bản sau:
-

Tính chất hoạt động: Có tính chuyên nghiệp và ở trình độ phát triển cao
2
3


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
-

Nguyên lý và phương thức hoạt động: Dựa vào quyền con người và mối quan hệ giữa con người
và hoàn cảnh xã hội của họ.

-

Đối tượng tác động: Giúp đỡ cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng và cả xã hội đạt được sự
thay đoi và giải quyết được vấn đề.

-

Mục tiêu của việc tác động: Vì hạnh phúc của người dân và an sinh của xã hội.
Như vậy, từ những khái niệm, quan niệm trên, chúng ta thấy rằng: CTXH không chỉ đơn thuần là

hoạt động cứu trợ, giúp đỡ những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn mà cần xem công tác xã hội như là
“những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn
cảnh khó khăn, để họ phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo điều kiện thuận lợi cho họ đạt
được những mục đích của cá nhân”. Những hoạt động này cần đảm bảo các quan điểm, nguyên tắc và
qui điều đạo đức của ngành.
Từ những phân tích trên, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm sau:
Công tác xã hội được định nghĩa như là một khoa học, một nghề chuyên nghiệp, hoạt động áp
dụng những kiến thức, quan điểm xã hội và kỹ năng chuyên môn để thực hiện chỉ thị của xã hội trong
việc cung cấp các dịch vụ đảm bảo sự an sinh và đáp ứng nhu cầu của các thành viên. Công tác xã hội
tìm cách tăng cường chức năng xã hội của cá nhân và nhóm bằng các hoạt động tập trung vào các quan
hệ xã hội của họ, tạo nên sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh.
1.2.2

Khái niệm Nhân viên Công tác xã hội
Trong khái niệm về Công tác xã hội - Vào tháng 7 năm 2000, tại Hội nghị Quốc tế Montreal,

Canada, Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) đã đề cập đến khái niệm về NVCTXH như
sau: Nhân viên
CTXH (hay được gọi là nhân viên xã hội -NVXH) là những tác nhân đối mới trong xã hội, trong đời
sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà họ phục vụ [30,99] .
Theo PSG.TS Bùi Thế Cường, nhân viên xã hội là một nhà chuyên môn bên cạnh các nhà chuyên
môn khác. NVXH hay Tác viên phát triển, một dạng nhân viên xã hội, còn được gọi là “tác nhân đối
mới” (change agent) là một nhà phân tích, tố chức, xúc tác, vận động giáo dục quần chúng.
Theo TS. Mai Kim Thanh, Nhân viên công tác xã hội với các kĩ năng được đào tạo về chuyên
môn và các kinh nghiệm nghề nghiệp là người trực tiếp làm việc đế đạt được các mục đích được định rõ
và do nghề công tác xã hội đặt ra bằng cách vận dụng các phương pháp, kĩ năng cơ bản trong công tác xã
2
4


Ket-noi.com kho
tai lieu mien phi
hội đế làm cho đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề đang đặt ra
của mình cho phù hợp với sự thay đối 1Ĩ1Ô hình xã hội [13,98]
Theo khoa Xã hội học và CTXH trường Đại học Đà Lạt: Nhân viên xã hội (Social Workers) là
những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội mà hành động của họ nhằm mục
đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích
cực vao cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng.
Như vậy trong nghiên cứu này thì Khái niệm nhân viên CTXH được hiểu như sau: nhân viên công
tác xã hội là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp và sử dụng những kiến thức và kỹ năng của
mình để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các thân chủ (những người này có thể là cá nhân, gia đình,
nhóm, cộng đồng), nhân viên công tác xã hội sẽ giúp những thân chủ tăng cường khả năng giải quyết và
đối phó với các vấn đề của mình cũng như giúp họ trong việc tiếp cận các nguồn lực, thiết lập những
mối quan hệ thuận lai giüa ho và môi truàng cüa ho, âông thài giüp cho xâ hôi thây ro trach nhiêm cüa
mïnh âôi vôi su phat triên chung cüa xâ hôi, qua âo co nhüng anh huùng âên su phat triên cüa chinh
sach xâ hôi.
1.2.3 Khai niêm vai tro và vai tro cüa nhân viên Công tac xâ hôi
1.2.3.1 Khai niêm vai trô
Khai niêm vai tro xâ hôi bat nguôn tü khai niêm vai diên trên sân khâu. Vai diên trên sân khâu doi
hoi diên viên phâi nhâp tâm, bat chuoc và hoc tâp dong vai cüa nhüng nhân vât duoc dao diên phân dong.
Con vai tro xâ hôi không co tinh chât tuong tuong, bat chuoc cüng nhac và nhât thôi. Nhüng hành vi thuc
tê cüa môt nguôi nhô hoc hoi duoc nhüng kinh nghiêm, loi sông, tac phong tü truoc do trong cuôc sông.
Vai tro xâ hôi cüa môt nguôi co nghïa là nguôi do phâi dâm nhân hay thê hiên dây dü cac hành vi, nghïa
vu, hê thông chuân muc trên co so vi thê cüa nguôi do. Dông thôi ho cüng nhân duoc nhüng quyên loi xâ
hôi tuong üng voi viêc thuc hiên vai tro cüa ho. Môi ca nhân co vô vàn vai tro, co bao nhiêu môi quan hê
xâ hôi thi co bây nhiêu vai tro xâ hôi. Vi thê và vai tro cüa ca nhân trong xâ hôi bat nguôn tü vi tri kinh
tê, chinh tri, xâ hôi cüa ho, tü dia vi cüa cac ca nhân thuôc cac giai câp và cac nhom xâ hôi khac mà quy
dinh nên. Môi ca nhân co nhiêu vi thê và vai tro khac nhau o gia dinh, ngoài xâ hôi...và tuy theo vai tro
cüa minh mà ca nhân se co cach üng xu, hành vi, tac phong, hành dông tuong üng voi vai tro mà ca nhân
dâm trach. Vi thê và vai tro luôn gan bo mât thiêt voi nhau. Không thê noi toi vi thê mà không noi toi vai
tro và nguoc lai. Vai tro và vi thê là hai mât cüa môt vân dê. Vi thê cüa ca nhân duoc xac dinh bâng viêc
trâ lôi cho câu hoi: nguôi do là ai? Và vai tro cüa cac nhân duoc xac dinh bâng cach trâ lôi câu hoi: nguôi
2
5


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×