Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG hỗ TRỢ NGƯỜI có HIV TIẾP cận DỊCH vụ y tế tại TỈNH PHÚ THỌ

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.............................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................................1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TIẾP CẬN Y TẾ CỦA NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS................3
1.1 Khái niệm về HIV Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS.................................................................3
1.1.1 Khái niệm HIV và AIDS...................................................................................................3
1.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế....................................................................................................3
1.1.3 Khái niệm thuốc ARV........................................................................................................3
1.2. Các vấn đề liên quan khái niệm kỳ thị người nhiễm HIV.......................................................4
1.3 Lý luận về vấn đề công tác xã hội............................................................................................4
1.3.1 Khái niệm về công tác xã hội............................................................................................4
1.3.2 Khái niệm nhân viên CTXH..............................................................................................5
1.4 Các đường lây truyền HIV.......................................................................................................5
II. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y
TẾ TẠI TỈNH PHÚ THỌ...................................................................................................................8
2.1 Khái quát chung về vấn đề HIV/AIDS tại tỉnh Phú Thọ..........................................................8
2.2 Một số tình hình hình và đặc điểm của tỉnh Phú Thọ...............................................................8
2.3 Thực trạng về hoạt động hỗ trợ người có HIV/AIDS tiếp cận dịch vụ y tế tại tỉnh Phú Thọ. 9
2.3.1 Hoạt động hỗ trợ người nhiễm HIV tiếp cận dịch vụ y tế tại tỉnh phú thọ......................11
2.3.2 Thực hiện Mục tiêu 90 - 90 - 90 trong phòng, chống HIV/AIDS....................................11
2.3.3 Xét nghiệm HIV sớm góp phần tăng hiệu quả điều trị và đề phòng lây nhiễm...............12

2.3.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế của người nhiễm
HIV/AIDS.................................................................................................................................14
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA CTXH............17
KẾT LUẬN......................................................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................24


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIDS

Acquired Immuno – Deficency
Syndrome

HIV

Human Immunodeficiency Virus

CTXH

Công tác xã hội

GDPC AIDS

Giáo dục phòng chống AIDS

TTYT

Trung tâm y tế.

CQGVYTX

Chuẩn quốc gia về y tế xã

BHYT

Bảo hiểm y tế

UBQGPC AIDS

Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS



ARV

Antiretrovaral


LỜI MỞ ĐẦU
Quyền về sức khỏe là một quyền cơ bản của mọi người dân – nghĩa là tất cả mọi
người dân đều có quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khỏe về thể chất và tinh
thần ở mức cao nhất có thể được. Quyền này đã được công nhận tại Công ước quốc
tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1996. Quyền về sức khỏe mang hàm
ý rộng, và có thể được hiểu là mọi người dân đều có quyền như nhau về chăm sóc
sức khỏe; là có đủ hạ tầng cơ sở y tế bảo đảm chất lượng; là việc cung cấp các dịch
vụ y tế không phân biệt đối xử và tôn trọng phẩm giá của con người; là dịch vụ y tế
phù hợp với người bệnh và bảo đảm chất lượng cuộc sống.
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, bảo hiểm y tế (BHYT) luôn là một trong
các giải pháp tài chính bền vững đảm bảo cho người dân được khám bệnh, chữa
bệnh, được bảo vệ khỏi các rủi ro về tài chính do các chi phí y tế. Ðối với những
người nhiễm HIV/AIDS, càng trở nên quan trọng trong việc bảo đảm cho họ được
tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh khi các nguồn tài trợ kinh phí cho hoạt động
này bị cắt giảm mạnh. Chúng ta luôn luôn vận động cho việc xây dựng các hệ thống
y tế tôn trọng và bảo đảm quyền về sức khỏe của mọi người dân, từ đó thúc đẩy các
nỗ lực giúp tất cả các quốc gia và mọi người dân trên toàn thế giới hiểu về HIV: làm
thế nào để dự phòng lây nhiễm HIV và để điều trị HIV
Vẫn còn quá nhiều người dân – đặc biệt là những người dân yếu thế và chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất bởi HIV – đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc
tiếp cận tới các dịch vụ về y tế và xã hội mà họ vô cùng cần được sử dụng. Chúng ta
cần phải tiếp tục chung vai, giúp đỡ những người dân còn đang bị tụt lại phía sau để
bảo đảm rằng không một người dân nào bị từ chối các quyền mà họ đáng được
hưởng.
Thực tế, cho dù đã trải qua hơn 20 năm phòng, chống AIDS với rất nhiều nỗ lực,
HIV vẫn còn là một trong những vấn đề y tế công cộng nhức nhối nhất tại Việt Nam.
Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn liên quan đến thái độ của
xã hội đối với người nhiễm HIV. Kỳ thị và phân biệt đối xử đang tiếp tục cản trở
khiến những nhóm dân dễ bị tổn thương không được hưởng các quyền cơ bản về
chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội, đồng thời cản trở bước tiến của những hoạt
động phòng, chống HIV.Chúng ta đã có rất nhiều bằng chứng mới được thu thập về
việc nhiều người nhiễm HIV còn đang bị cô lập và chối bỏ ngay trong chính gia
đình của mình, cũng như trong cộng đồng và các mối quan hệ xã hội. Các bằng
1


chứng cũng cho thấy việc phát hiện nhiễm HIV có thể dẫn đến bị mất việc làm, mất
quyền sở hữu tài sản, và không được nhận vào trường học. Người nhiễm HIV còn bị
bạo hành, bị từ chối cung cấp các dịch vụ y tế hay dịch vụ trợ giúp xã hội, và gặp
khó khăn trong việc tiếp cận trợ giúp pháp lý.
Vậy Làm thế nào để người nhiễm HIV có cơ hội tiếp cận với dịch vụ BHYT là
vấn đề của ngành y tế và bảo hiểm, cũng như công tác xã hội đang đặc biệt quan
tâm. Từ những khó khăn trên, nhiều ý kiến cho rằng, cần truyền thông, phổ cập kiến
thức về BHYT một cách rộng rãi, giúp người có HIV có thể tiếp cận điều trị thông
qua BHYT, bảo đảm cho 100% người có HIV được điều trị thông qua BHYT.
Từ những thực trạng trên, em xin chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động hỗ trợ
người có HIV/AIDS tiếp cận dịch vụ y tế tại tỉnh Phú Thọ” làm đề tài tiểu luận môn
CTXH với người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Mặc dù có nhiều cố gắng, xong bài tiểu luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong sự góp ý của thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô!

2


I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TIẾP CẬN Y TẾ CỦA NGƯỜI NHIỄM
HIV/AIDS
1.1 Khái niệm về HIV Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS
1.1.1 Khái niệm HIV và AIDS
Khái niệm HIV
- Khái niệm: HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency
Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng
chống lại các tác nhân gây bệnh.
Khái niệm AIDS
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency
Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được
biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong.
AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tế bào của hệ miễn
dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh. Do
đó cơ thể bị một số loại bệnh ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể
đề kháng được.
AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, mỗi người
khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnh nhiễm trùng
cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người.
1.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế
Số: 46/2014/QH13

Hà Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2014

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối
tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi
nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.”
1.1.3 Khái niệm thuốc ARV
ARV là viết tắt của Antiretrovaral là một loại thuốc được chế ra nhằm làm giảm
sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể. Nếu điều trị ARV hiệu quả thì có thể làm
chậm sự tiến triển hoàn toàn của AIDS trong nhiều năm, làm giảm nguy cơ lây
truyền và làm tăng chất lượng sống của người nhiễm HIV/AIDS. Thuốc ARV được
khuyến khích sử dụng lết hợp để ngăn chặn hình thành khánh thuốc.

3


1.2. Các vấn đề liên quan khái niệm kỳ thị người nhiễm HIV
Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác
vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với
người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV (Luật phòng, chống
HIV/AIDS,2006).
1.2.1 Khái niệm phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt,
ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc
nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm
HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV (Luật phòng chống HIV/AIDS, 2006).
Như vậy kỳ thị là nói về thái độ, còn phân biệt đối xử là nói về hành vi hoặc
hành động cụ thể đối với người nhiễm HIV/AIDS. Kỳ thị và phân biệt đối xử có
quan hệ mật thiết với nhau và khó tách rời nhau. Kỳ thị là tiền đề của phân biệt đối
xử. Muốn chống phân biệt đối xử phải bắt đầu từ việc chống kỳ thị vệ người nhiễm
HIV/AIDS.
1.2.2 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là một quá trình liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình
cảm và kỹ năng nhằm tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận
thông tin để dẫn tới những sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành động.
1.3 Lý luận về vấn đề công tác xã hội
1.3.1 Khái niệm về công tác xã hội
Thuật ngữ CTXH được dùng khá rộng rãi để chỉ các hoạt động (cá nhân, nhóm,
tổ chức, đoàn thể) từ những hình thức giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân thiếu hụt chức năng
xã hội. Mặc dù vậy, nếu xét dưới góc độ khoa học thì cách áp dụng đó hoàn toàn
chưa phù hợp và đúng ý nghĩa khi nhiều nhà khoa học khẳng định rằng CTXH là
một nghành khoa học, một nghề chuyên môn.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH , cụ thể như sau:
Theo Hiệp hội quốc gia Nhân viên CTXH Mỹ (NASW): CTXH là một ngành để
giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các
chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục
tiêu đó.
4


Định nghĩa của Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế(IFSW) cho rằng, nghề
CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con
người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho họ có cuộc sống
ngày càng được thoải mái , dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và
hệ thống xã hội, CTXH tương tác vềnhững điểm giữa con người với môi trường của
họ, trong đó, nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề.
Ở Việt Nam, khái niệm CTXH được hiểu là: CTXH can thiệp vào những điểm
tương tác giữa con người với môi trường xã hội và hệ thống xã hội, nhằm tạo ra
những thay đổi trong các mối quan hệ tương tác giữa con người với con người và
con người với xã hội.
1.3.2 Khái niệm nhân viên CTXH
CTXH là một tiến trình làm việc, can thiệp, hỗ trợ những cá nhân, nhóm, cộng
đồng có vấn đề và cần sự hỗ trợ. Theo đó, nhân viên CTXH sử dụng các kiến thức,
kỹ năng chuyên môn được đào tạo để giúp thân chủ tăng năng lực và quyền lực
trong giải quyết vấn đề của họ. Mục đích cuối cùng là nhằm khôi phục, phát triển
các chức năng xã hội của con người, vì sự an sinh của họ và vì sự phát triển xã hội.
Hiện nay, những người đang hoạt động và làm việc trong lĩnh vực CTXH một
cách chuyên nghiệp và được đào tạo một cách chính quy , bài bản được gọi là nhân
viên CTXH . Tuy nhiên, nhân viên CTXH chưa được định nghĩa một cách cụ thể,
mà mới chỉ được hiểu một cách khái quát như sau : nhân viên CTXH là những
người hoạt động trong lĩnh vực CTXH , đảm trách và hoàn thành những vai trò cụ
thể tại vị trí mà họ làm việc ởgia đình, bệnh viện, trường học…
1.4 Các đường lây truyền HIV
- Lây truyền HIV qua đường máu
HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu như
hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể lây truyền
qua máu và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV.
Về nguyên tắc, có thể nói mọi trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của người mà
ta không biết chắc chắn là họ có nhiễm HIV hay không đều có nguy cơ lây nhiễm
HIV, ví dụ:
+ Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên chích qua
da, như trong các trường hợp sau:
5


+ Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các trường
hợp như dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa...
+ Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của người
nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da xây sát hoặc niêm mạc...
+ Lây truyền qua truyền máu và các sản phẩm của máu hoặc ghép các mô, các
tạng... bị nhiễm HIV. Hoăc qua các dụng cụ truyền máu, lấy máu... không được tiệt
trùng đúng cách.
- Lây truyền HIV qua đường tình dục
Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được coi là
phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới. Khoảng 7080% tổng số người nhiễm HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này.
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh dục)
nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) tìm được “đường xâm nhập” vào cơ thể bạn tình
không nhiễm HIV. “Đường xâm nhập” này không nhất thiết phải là các vết thương
hở hay vết loét trên da mà cả những vết trấy xước nhỏ không nhìn thấy bằng mắt
thường hoặc ta (người có vết xước) cũng không cảm nhận thấy. Hơn thế, niêm mạc
trong các hốc tự nhiên của cơ thể như đường âm đạo, lỗ niệu đạo ở đầu dương vật,
trực tràng, thậm chí niêm mạc mắt và cuống họng có các lỗ rất nhỏ mà HIV (vốn
cũng rất nhỏ) có thể xâm nhập được.
+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục xâm nhập đường hậu môn
Quan hệ tình dục xâm nhập Dương vật – Hậu môn thường được thực hành phổ
biến trong quan hệ tình dục đồng giới nam, nhưng cũng khá phổ biến trong quan hệ
tình dục khác giới nam – nữ. Đây là hình thức quan hệ tình dục có nguy cơ lây
truyền HIV cao nhất.
+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường âm đạo
Quan hệ tình dục đường âm đạo là hình thức quan hệ tình dục nam – nữ phổ biến
nhất và cũng là kiểu quan hệ tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. Ngay cả khi
thành âm đạo không bị tổn thương, các lỗ nhỏ li ti trên niêm mạc và chất lót của các
tế bào biểu mô cũng là “cửa mở” cho HIV từ dịch sinh dục của bạn tình nhiễm HIV
xâm nhập vào bạn tình kia. HIV cũng có thể lây nhiễm từ bạn tình nữ sang nam qua
cả niệu đạo.
+ Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường miệng
6


Quan hệ tình dục đường miệng hiện cũng đang thực hành cả trong trường hợp quan
hệ tình dục nam – nam, nam – nữ, nữ - nữ. Đây cũng là kiểu quan hệ tình dục có
nguy cơ lây truyền HIV nếu một trong các bạn tình nhiễm HIV, vì HIV từ dịch sinh
dục, hoặc từ máu (do các loét trong miệng...) có thể xâm nhập qua các vết loét tương
tự ở bạn tình.
Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ bị lây nhiễm HIV qua
quan hệ tình dục hơn. HIV có quan hệ chặt chẽ với các bệnh lây truyền qua đường
tình dục (BLTQĐTD), đặc biệt là các bệnh gây viêm loét bộ phận sinh dục như hạ
cam, giang mai. Khi một người mắc bệnh LTQĐTD mà có vết loét ở bộ phận sinh
dục thì nguy cơ nhiễm HIV khi quan hệ tình dục với người nhiễm sẽ tăng lên từ 50300 lần. Những vết loét đường sinh dục cho phép HIV xâm nhập vào máu. Một số
bệnh LTQĐTD như herpes simplex, giang mai... làm giảm khả năng miễn dịch và
cũng có thể làm tăng tính cảm nhiễm với HIV. Dịch tiết từ các vết loét sinh dục cũng
chứa nhiều các tế bào bị nhiễm HIV...
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con
Trước hết cần khẳng định rằng HIV lây truyền từ mẹ sang con không có nghĩa là
bệnh di truyền. Phụ nữ nhiễm virus HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là
con nhiễm HIV theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có
khoảng 30 trẻ bị nhiễm. Virus HIV có thể lây sang bé trong các trường hợp sau:
+ Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai
nhi.
+ Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ
khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá trình
đẻ). Khi sinh HIV cũng có thể từ trong máu mẹ thông qua các vết loét ở cơ quan
sinh dục me. mà dính vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.
+ Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú người
mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc răng cắn
núm vú chảy máu
Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường có tuổi thọ rất thấp, bé sẽ bị bệnh và chết.

7


II. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TIẾP CẬN
DỊCH VỤ Y TẾ TẠI TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Khái quát chung về vấn đề HIV/AIDS tại tỉnh Phú Th ọ
Theo báo cáo của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, hết năm 2017, lũy
tích phát hiện nhiễm HIV/AIDS ở tỉnh là trên 5.600 người; trong đó bệnh nhân đang
quản lý là 1.959 người. Năm 2017, toàn tỉnh phát hiện 266 trường hợp nhiễm HIV
mới, trong đó 67 trường hợp ngoại tỉnh.
Sau khi tiến hành kiện toàn các cơ sở điều trị, đến nay tỉnh có 6 cơ sở điều trị
HIV/AIDS đang hoạt động gồm các phòng khám ngoại trú tại: Trung tâm Phòng,
chống HIV/AIDS, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Đa khoa thị xã Phú Thọ,
Trung tâm Y tế huyện Thanh Sơn và Trại giam Tân Lập (Bộ Công an). Đến cuối
tháng 12/2017, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có BHYT đạt 99,17%.
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tài trợ, giúp đỡ về tài chính, cơ sở
vật chất của các tổ chức quốc tế, tỉnh Phú Thọ đã đạt được các mục tiêu cơ bản:
Giảm số ca nhiễm mới HIV; giảm số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn
AIDS; giảm số người tử vong do AIDS. Hiệu quả điều trị ARV cho người nhiễm
HIV đạt 95%, từ đó hạn chế tốc độ gia tăng lây nhiễm HIV, khống chế thành công tỷ
lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư.
Tại hội nghị, đại diện Vụ BHYT (Bộ Y tế), Phòng khám ngoại trú OPC Bệnh
viện Đa khoa thị xã Phú Thọ và Bệnh viện Đa khoa tỉnh cũng đã trình bày tổng quan
về các chính sách BHYT theo hướng tạo điều kiện tốt nhất khuyến khích người
nhiễm HIV/AIDS tham gia; đồng thời đánh giá tóm tắt hiệu quả công tác kiện toàn
cơ sở điều trị và mở rộng bao phủ BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS tại các địa
phương.
Hội nghị cũng dành nhiều thời gian tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến và chia
sẻ kinh nghiệm giữa Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố trong
quá trình thực hiện kiện toàn cơ sở điều trị HIV/AIDS, đưa ra các giải pháp tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc để thực hiện có hiệu quả, đạt các mục tiêu trong điều trị bệnh
nhân HIV/AIDS thời gian tới.

8


2.2 Một số tình hình hình và đặc điểm của tỉnh Phú Th ọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
và Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh
Sơn La, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình. Phú Thọ là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng
thủ đô Hà Nội.
Diện tích
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.532,9493 km², chiếm 1,5% diện tích cả nước.
Toạ độ địa lý:
Cực Bắc: 21°43'B thuộc xã Đông Khê - huyện Đoan Hùng.
Cực Nam: 20°55'B ở chân núi Tu Tinh xã Yên Sơn - huyện Thanh Sơn.
Cực Đông: 105° 27'Đ ở xóm Vinh Quang - xã Sông Lô - TP. Việt Trì.
Cực Tây: 104°48'Đ thuộc bản Mĩ Á - xã Thu Cúc - huyện Tân Sơn (đây là xã có
diện tích rộng nhất Phú Thọ, rộng gần gấp 1,5 lần thị xã Phú Thọ - 96,6 km²).
Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 Phú Thọ có 1.313.926 người với mật độ
dân số 373 người/km². Tỷ lệ dân số sống tại nông thôn, vùng núi khoảng 67% và tại
thành thị khoảng 33%. Theo Nghị định 05/NĐ-CP, Phú Thọ có 1.400.226 người vào
thời điểm tháng 1/2009.
Năm 2014, thu nhập bình quân GDP/người đạt 1349 USD/người. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân năm năm đạt 5,87% [6]
2.3 Thực trạng về hoạt động hỗ trợ người có HIV/AIDS ti ếp cận d ịch v ụ
y tế tại tỉnh Phú Thọ
Trong 5 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm tỉnh Phú Thọ phát hiện thêm
khoảng 300 người nhiễm HIV. Hình thái dịch HIV ở tỉnh bắt đầu có xu hướng lây
lan ra cộng đồng và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát, đòi hỏi phải triển khai đồng bộ,
kịp thời , hiệu quả các giải pháp phòng, chống HIV/AIDS.
Tính đến cuối năm 2015, lũy tích trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là 3.895 người
nhiễm HIV. Trong đó, 1.790 bệnh nhân AIDS; 1.814 người nhiễm HIV/AIDS hiện
còn sống và quản lý. 77% trong số này đang được điều trị ARV. Theo số liệu thống
kê, trên 80% là nam giới và trên 95% ở nhóm tuổi từ 20-49.
Thời gian qua, để duy trì những kết quả đã đạt được, và để có thể đạt hiệu quả
cao hơn nữa trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, tỉnh đã triển khai đầy đủ,
9


đồng bộ và có hiệu quả các chương trình, dự án phòng chống HIV/AIDS. Đồng thời,
bảo đảm thực hiện lồng ghép các nguồn lực đầu tư, từng bước nâng cao nhận thức
của toàn xã hội về HIV/AIDS. Tuy nhiên, trong xã hội, tình trạng kỳ thị, phân biệt
đối xử với người nhiễm HIV/AIDS, người nghiện ma tuý vẫn khá phổ biến khiến họ
có tâm lý e ngại khi tiếp cận các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS. Hơn nữa, nguồn
lực tài chính từ ngân sách Trung ương cũng như nguồn tài trợ quốc tế bị cắt giảm
dần từ năm 2013 dẫn tới thiếu hụt kinh phí cho các hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS trong khi dịch HIV vẫn tiềm ẩn nguy cơ lan rộng ra cộng đồng và hệ lụy
là những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội.
Mặc dù đã có nhiều chính sách, song việc tiếp cận BHYT đối với người nhiễm
HIV của tỉnh phú thọ vẫn còn nhiều rào cản (như không có giấy tờ tùy thân; tâm lý
sợ bị lộ danh tính, sợ bị kỳ thị nếu phải cung cấp thông tin tên tuổi thật; cán bộ
chuyên trách, cán bộ BHYT còn thiếu kiến thức về bệnh nhân nhiễm HIV nên vẫn
còn thái độ ứng xử chưa phù hợp; không có nhân viên cộng đồng hỗ trợ tư vấn tại
các cơ sở điều trị…).
Bệnh nhân HIV khó tiếp cận BHYT
Theo Cục Phòng chống HIV/AIDS, hiện nay, cả nước có 349 điểm điều trị cho
người nhiễm HIV bằng thuốc ARV. Tuy nhiên, chỉ có 234 điểm điều trị thuộc các
bệnh viện tỉnh, huyện là đủ điều kiện ký hợp đồng với cơ quan BHYT. Còn lại 115
điểm ở các trung tâm phòng, chống HIV của tỉnh và trung tâm dự phòng huyện chưa
đủ điều kiện ký hợp đồng với BHYT.
Ông Đỗ Hữu Thủy, Trưởng phòng Truyền thông và huy động cộng đồng, Cục
Phòng chống HIV/AIDS, lý giải, nhiều cơ sở điều trị HIV/AIDS trước đây thuộc hệ
thống y tế dự phòng nên cán bộ y tế chưa có chứng chỉ hành nghề riêng về điều trị
HIV. Vì thế, nếu các cơ sở này muốn được cấp giấy phép khám chữa bệnh thì các
cán bộ ở đây phải được cấp chứng chỉ hành nghề sau khi đi học và thực hành tại các
bệnh viện.
Bên cạnh đó, một số cơ sở điều trị HIV/AIDS tại bệnh viện hoạt động theo dự
án, khi chuyển sang khám chữa bệnh BHYT phải được cấp có thẩm quyền giao
nhiệm vụ, bổ sung hợp đồng khám chữa bệnh HIV/AIDS mới đủ điều kiện thanh
toán BHYT.
Một khó khăn nữa khiến nhiều người HIV chưa tiếp cận với BHYT chính là do
tâm lý sợ lộ thông tin cá nhân. Nhiều người nhiễm HIV/AIDS có tâm lý lo sợ bị kỳ
thị, phân biệt đối xử nên không muốn cung cấp thông tin để tham gia BHYT.
10


Khó khăn về tài chính là khó khăn lớn nhất đối với người nhiễm HIV điều trị
bệnh. Điều trị HIV đòi hỏi dài hơi, kiên trì và cũng rất tốn kém. Trong khi, những
người mắc HIV/AIDS đều hầu như mất sức lao động, gia đình cũng suy kiệt vì chữa
bệnh. Vì thế, việc có tới gần 60% số bệnh nhân chưa tiếp cận được BHYT là một
nguy cơ cho đối tượng này trong việc duy trì điều trị bệnh, dẫn tới tình trạng bỏ điều
trị, bị kháng thuốc.
2.3.1 Hoạt động hỗ trợ người nhiễm HIV tiếp cận dịch vụ y tế tại tỉnh
phú thọ
Đứng trước khó khăn từ sau năm 2018 các nhà tài trợ gần như sẽ ngừng cấp
thuốc cho điều trị và dự phòng HIV ở Việt Nam. Chính vì vậy để đảm bảo tính bền
vững cho công tác phòng chống HIV/AIDS, việc sử dụng nguồn từ BHYT để thanh
toán chi phí chăm sóc, điều trị, xét nghiệm cho người nhiễm HIV/AIDS, bao gồm cả
thuốc điều trị kháng virus (ARV) là việc rất cần thiết.
giáo dục kiến thức về dự phòng các bệnh truyền nhiễm cho nhân viên y tế là vô
cùng quan trọng, nhằm giảm kỳ thị: bác sĩ, nhân viên y tế, nhất là khi phụ trách về
HIV, cần thân thiện hơn với bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó, cần có các
quy định... “mở” giúp người nhiễm HIV/AIDS dễ dàng mua thẻ BHYT.
Việc truyền thông về lợi ích và sự cần thiết của BHYT cho người có HIV; tìm
kiếm, khuyến khích và hỗ trợ người có HIV điều trị HIV thông qua BHYT của các
nhóm đồng đẳng đóng vai trò rất quan trọng.
Để làm được điều đó, cần kết hợp với các cơ sở điều trị để tư vấn, hỗ trợ tuân
thủ điều trị cho người nhiễm HIV và liên tục cập nhật những thông tin về luật, nghị
định, thông tư hướng dẫn về BHYT cho nhóm khách hàng là người nhiễm HIV
2.3.2 Thực hiện Mục tiêu 90 - 90 - 90 trong phòng, ch ống HIV/AIDS
90% số người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình: Nếu một
người nhiễm HIV mà không biết mình nhiễm thì có thể vô tình làm lây nhiễm HIV
cho người thân và cho người khác trong cộng đồng. Hơn nữa nếu chúng ta không
biết được thì không thể tiếp cận và cung cấp được các dịch vụ phòng chống
HIV/AIDS cho họ. Không biết được số người nhiễm HIV thực tế trong cộng đồng
cũng sẽ gây khó khăn trong việc lập kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS.
- 90% số người đã chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV: Việc điều trị sớm
bằng thuốc ARV sẽ giúp cho người nhiễm HIV tiếp tục kéo dài cuộc sống khỏe
mạnh, giảm các nhiễm trùng cơ hội. Hơn nữa, việc điều trị sớm bằng thuốc ARV và
11


đúng sẽ làm giảm khả năng lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục và giảm lây truyền
HIV từ mẹ sang con.
- 90% số người được điều trị ARV kiểm soát được tải lượng vi rút ở mức thấp để
sống khỏe mạnh và giảm nguy cơ lây truyền HIV sang người khác: Việc kiểm soát
tải lượng vi rút HIV ở mức thấp dưới ngưỡng phát hiện là chỉ báo quan trọng liên
quan đến chất lượng và tuân thủ điều trị bằng thuốc kháng HIV.
2.3.3 Xét nghiệm HIV sớm góp phần tăng hiệu quả điều trị và đề phòng
lây nhiễm
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, từ trường hợp
nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1995 đến hết tháng 9/2017, toàn tỉnh
đã phát hiện 4.259 người nội tỉnh nhiễm HIV và đã có 1.495 bệnh nhân tử vong.
13/13 huyện, thành, thị, 277/277 xã, phường, thị trấn có người nhiễm HIV. Số người
nhiễm HIV/AIDS quản lý được của tỉnh là 1.888 người; tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng
đồng dân cư là 0,13%. Những con số này cho thấy, dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn
nguy cơ bùng phát nếu không tiếp tục triển khai những biện pháp can thiệp mạnh
mẽ và hiệu quả.
Nhận thức được nguy cơ đó, thời gian qua, các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh đã
chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực góp phần kiểm soát và
khống chế dịch HIV/AIDS trên địa bàn. Trong đó, ngành Y tế tỉnh đã tập trung thực
hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, nhất là
những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao, sống ở vùng sâu, vùng
xa, đồng bào dân tộc ít người về dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS nói
chung và lợi ích của xét nghiệm HIV sớm nói riêng; tổ chức có hiệu quả các hoạt
động dự phòng, mở rộng các dịch vụ tiếp cận, đặc biệt là tư vấn, xét nghiệm HIV
sớm tại tất cả các tuyến từ tỉnh đến cơ sở, nhằm đạt được mục tiêu 90% người
nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, từ đó giúp tăng hiệu quả điều
trị nếu phát hiện dương tính với HIV và đề phòng lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng
đồng.
Trạm Y tế xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng là 1 trong số hơn 130 đơn vị y tế ở cơ
sở thực hiện công tác xét nghiệm sàng lọc sớm HIV năm 2017. Chị Trần Thu H. ở
khu 3, xã Ngọc Quan cho biết: “Qua nghe thông báo của cán bộ y tế xã về việc xét
nghiệm HIV sớm và miễn phí, tôi và một số chị em trong khu đã đến trạm xá để
được xét nghiệm, trước là biết được tình trạng sức khỏe bản thân, sau là biết cách
điều trị và phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS nếu không may bị nhiễm”.
12


Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thủy - Trạm trưởng Trạm Y tế xã Ngọc Quan, nếu như
trước đây, việc xét nghiệm HIV thường được thực hiện ở những bệnh viện hay đơn
vị y tế tuyến tỉnh với cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phức tạp thì hiện nay,
người có nhu cầu xét nghiệm HIV có thể đến xét nghiệm trực tiếp tại các trạm y tế
xã, phường, thị trấn. Kỹ thuật xét nghiệm HIV cũng đơn giản, thuận tiện hơn, có thể
thực hiện bằng cách lấy máu đầu ngón tay hoặc bằng dịch miệng. Đối với Trạm Y tế
xã Ngọc Quan, chúng tôi đã được cấp 60 test kit (sinh phẩm xét nghiệm) để thực
hiện việc xét nghiệm sàng lọc HIV sớm cho các khách hàng có nhu cầu, đến nay đã
tiến hành xét nghiệm cho trên 30 khách hàng là phụ nữ đang mang thai và phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ. Hiện chưa phát hiện trường hợp nào dương tính.
Có thể thấy, việc xét nghiệm HIV sớm có ý nghĩa rất quan trọng, giúp người
dân, nhất là các đối tượng phụ nữ mang thai và người có hành vi nguy cơ cao lây
nhiễm HIV nắm bắt được tình trạng sức khỏe, tình trạng nhiễm HIV và tiếp cận với
các dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS. Hằng năm, thông qua việc xét nghiệm
sớm, toàn tỉnh đã phát hiện và điều trị thuốc kháng virút (ARV) cho trên 200 người
nhiễm HIV. Riêng 9 tháng đầu năm 2017, đã phát hiện và điều trị ARV cho trên 160
người nhiễm HIV mới; trong đó 100% số phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ em
sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV được quản lý, chăm sóc, điều trị dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con, góp phần giảm thiểu tình trạng lây nhiễm HIV trong gia đình
và cộng đồng.
Trao đổi với chúng tôi, Thạc sỹ, Bác sỹ Hồ Quang Trung - Giám đốc Trung tâm
Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh cho biết: “Trên thực tế vẫn có một bộ phận người dân
cho rằng nhiễm HIV không có thuốc điều trị khỏi do vậy không cần thiết phải đi xét
nghiệm HIV sớm. Cũng có trường hợp đáng tiếc do không biết tình trạng nhiễm
HIV nên đã vô tình làm lây truyền HIV sang vợ, chồng, bạn tình, người thân trong
gia đình và lây truyền HIV từ cha, mẹ sang con. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến
công tác phòng, chống HIV/AIDS nói chung, công tác điều trị và đề phòng lây
nhiễm HIV/AIDS nói riêng. Do vậy, việc xét nghiệm HIV sớm sẽ giúp nâng cao
hiệu quả công tác kiểm soát và khống chế dịch HIV/AIDS, giảm số người nhiễm
HIV, chuyển AIDS và tử vong hằng năm”.
Ngành Y tế khuyến cáo, mọi người cần làm xét nghiệm HIV sớm biết về tình trạng
sức khỏe của mình, giúp chủ động điều trị HIV nếu phát hiện dương tính cũng như
dự phòng lây nhiễm HIV cho vợ, chồng, bạn tình, người thân trong gia đình và
những người khác. Khi xét nghiệm và biết tình trạng nhiễm HIV sớm, người nhiễm
sẽ được cán bộ y tế tư vấn, cung cấp các kiến thức, kỹ năng, phương tiện dự phòng
13


lây nhiễm HIV; được điều trị HIV kịp thời, giúp giảm chi phí thuốc men, chi phí
khám chữa bệnh và chi phí nằm viện, trong khi người nhiễm HIV có thể sống khỏe
mạnh, dài lâu, lao động, học tập như những người khác, đồng thời góp phần giảm
khả năng lây truyền HIV trong cộng đồng.
2.3.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tiếp cận d ịch vụ y t ế
của người nhiễm HIV/AIDS
Mặc dù trong thời gian qua, tỉnh Phú Thọ đã giảm được tốc độ lây lan của HIV,
tuy nhiên theo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, dịch HIV/AIDS vẫn diễn biến
khó lường và công tác phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn thành phố hiện còn đối
mặt với những khó khăn, thách thức, đòi hỏi các biện pháp ứng phó toàn diện và
quyết liệt hơn.
Trong 10 tháng đầu năm, trên phạm vi toàn thành phố đã phát hiện mới 161
người nhiễm HIV, số người chuyển sang giai đoạn AIDS là 66 người và số tử vong
là 33 người. Tất cả đều giảm so với cùng kỳ năm 2016. Cho đến nay, số người
nhiễm HIV báo cáo còn sống trên toàn thành phố là 3.569 người và số người nhiễm
HIV đã tử vong là 2.345 người.
Mặc dù trong thời gian qua, Phú Thọ đã có những nỗ lực để khống chế không để
dịch HIV/AIDS gia tăng, các chương trình can thiệp được triển khai đồng bộ từ dự
phòng đến chăm sóc điều trị và có tác động tích cực đến tình hình dịch HIV/AIDS
trên địa bàn. Tuy nhiên cùng với xu hướng chung, tình hình dịch HIV/AIDS trên địa
bàn thành phố Phú Thọ có những điểm cần chú ý sau:
- Số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục giảm, song mức độ giảm không
đáng kể so với cùng kỳ các năm trước đây. Số tử vong trung bình ở mức 30 trường
hợp mỗi năm và dự báo sẽ có xu hướng tăng lên do dịch HIV tại Cần Thơ đã lâu
năm.
- Hàng năm, thành phố phát hiện thêm khoảng 200 trường hợp nhiễm HIV mới,
do đó số người nhiễm HIV còn sống vẫn tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên, việc tham gia
điều trị ARV vẫn còn hạn chế vì nhiều lý do, đây sẽ là nguồn lây nhiễm rất lớn trong
cộng đồng và tác động làm tăng nguy cơ tử vong.
- Lây truyền HIV qua đường tình dục vẫn là xu hướng lây truyền dịch HIV
chính. Những người nhiễm HIV mới trong giai đoạn hiện nay không còn tập trung
trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như trước đây nữa, mà sự lây nhiễm HIV đã và
đang xảy ra nhiều trong nhóm những người dễ bị tổn thương như vợ, bạn tình của
người nhiễm HIV. Đáng chú ý trong những năm gần đây, đang có sự gia tăng nhanh
14


chóng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM, đây cũng là nhóm bắc cầu làm lây truyền
HIV ra cộng đồng.
Vì vậy, mặc dù chúng ta đã làm giảm được tốc độ lây lan của HIV, nhưng dịch
HIV/AIDS vẫn diễn biến khó lường và tiềm ẩn các yếu tố có thể gây bùng nổ dịch,
đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp ứng phó toàn diện và quyết liệt hơn.
Với phương châm điều trị cho người nhiễm HIV là một trong những biện pháp
dự phòng lây nhiễm hiệu quả nhất, thành phố Cần Thơ đã triển khai 07 phòng khám
ngoại trú điều trị ARV được phân bố tại các quận huyện, đảm bảo thuận tiện cho
người nhiễm HIV trên toàn địa bàn tiếp cận điều trị.
Bên cạnh đó, cùng với sự hỗ trợ của một số dự án tập trung tuyên truyền, tư vấn,
giới thiệu, chuyển gửi người nhiễm HIV/AIDS tiếp cận điều trị; thực hiện việc điều
trị ngay theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế cho tất cả bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS
không kể giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4 là bao nhiêu. Tuy nhiên, hiện
nay, mới chỉ có khoảng 2.100 người nhiễm HIV/AIDS được điều trị ARV, chiếm
60% số người nhiễm HIV/AIDS hiện còn sống trên địa bàn.
Nguyên nhân chính là do người nhiễm HIV/AIDS có tâm lý lo sợ bị kỳ thị, phân
biệt đối xử nên không muốn công khai bản thân mình bị nhiễm HIV; không muốn
tiếp xúc với người lạ; không muốn tiếp cận với cán bộ y tế để được điều trị ARV.
Một số người mới nhiễm HIV/AIDS cảm thấy sức khỏe vẫn tốt nên chưa thấy cần
thiết phải điều trị. Một số khác do phải làm ăn xa nên họ thường xuyên vắng mặt tại
địa phương, dẫn đến việc quản lý gặp nhiều khó khăn.
Đồng thời, do phải đảm bảo tính bí mật cho bệnh nhân nên việc tiếp cận của cán
bộ y tế với số bệnh nhân chưa điều trị đang sinh hoạt bình thường trong cộng đồng
rất khó khăn, họ không muốn những người xung quanh biết mình đang mắc bệnh, kể
cả người thân trong gia đình họ, và trong đó cũng có nhiều trường hợp chọn đi tỉnh
khác để điều trị vì lo sợ lộ thông tin khi điều trị tại địa phương.
Mặt khác, từ cuối năm 2016 Phú Thọ đã hoàn tất lộ trình kiện toàn các cơ sở
điều trị HIV/AIDS; chuyển các Phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm Y tế dự
phòng quận, huyện vào bệnh viện để triển khai hoạt động khám chữa bệnh
HIV/AIDS thông qua bảo hiểm y tế. Việc chuyển đổi mô hình, quy trình khám chữa
bệnh, cũng như sự thay đổi về những chính sách hỗ trợ cho bệnh nhân làm ảnh
hưởng đến tâm lý của họ, gây ra những khó khăn nhất thời trong quá trình tiếp cận
điều trị, góp phần làm tăng tỷ lệ bỏ trị.
15


Hiện nay, mặc dù dịch HIV/AIDS ở Phú Thọ tiếp tục có xu hướng giảm, tuy
nhiên vẫn chưa đảm bảm tính bền vững và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát nếu chúng ta
không có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và hiệu quả.
Mức độ bao phủ của các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS còn hạn chế. Điều trị
ARV mới tiếp cận được khoảng 60% số người nhiễm HIV được phát hiện. Điều trị
Methadone mới chỉ đạt được 70% chỉ tiêu thành phố giao. Trong khi đó, nguồn lực
cho công tác phòng, chống HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn, kinh phí viện trợ liên tục
bị cắt giảm, chủ yếu sử dụng ngân sách của thành phố.
Giải pháp trước tiên là tập trung nguồn lực để duy trì thực hiện các hoạt động
then chốt, nhất là các hoạt động tuyến quận/huyện và phường/xã. Nhanh chóng
chuyển đổi hoạt động phòng, chống HIV/AIDS chủ yếu dựa vào viện trợ sang hình
thức lồng ghép, dựa vào ngân sách của địa phương và bảo hiểm y tế nhằm dồn tổng
lực để đạt được mục tiêu 90 - 90 - 90 vào năm 2020.
Để đạt được mục tiêu 90% người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của
mình, trong thời gian tới nhằm tăng số người nhiễm HIV phát hiện mới, cần tiếp tục
duy trì và mở rộng các hoạt động như: tư vấn xét nghiệm HIV tại cơ sở y tế, tư vấn
xét nghiệm HIV tại cộng đồng, tự xét nghiệm tại cộng đồng... Tăng cường các hoạt
động truyền thông để cung cấp thông tin, quảng bá dịch vụ liên quan đến phòng,
chống HIV/AIDS. Tiếp tục duy trì có chất lượng hoạt động tiếp cận cộng đồng để
tập trung can thiệp vào các nhóm nguy cơ cao.
Để đạt được mục tiêu 90% người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng
HIV vào năm 2020, cần tăng cường các hoạt động rà soát, tìm kiếm, tiếp cận và tư
vấn các trường hợp người nhiễm HIV còn ngoài cộng đồng để mua bảo hiểm y tế
cho họ và đưa họ vào điều trị. Tăng cường năng lực cho đội ngũ tư vấn viên để tư
vấn bệnh nhân tuân thủ điều trị, giảm các trường hợp bỏ trị; đồng thời, tổ chức các
lớp đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân sự mới tại các bệnh viện,
đảm bảo chất lượng khám và điều trị HIV/AIDS.
Một khó khăn, thách thức khác, đó là mục tiêu 90% số người được điều trị ARV
kiểm soát được tải lượng vi rút ở mức thấp. Trong năm 2017 và các năm trước đây,
các chi phí liên quan đến xét nghiệm tải lượng vi rút cho bệnh nhân được hỗ trợ từ
các nguồn lực hợp tác quốc tế, nhưng từ năm 2018 trở đi, các dự án sẽ không còn hỗ
trợ các chi phí liên quan đến xét nghiệm tải lượng vi rút. Các chi phí này là rất lớn,
kinh phí địa phương không thể đáp ứng. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh
giá chất lượng điều trị cũng như đánh giá mục tiêu 90 thứ ba trong thời gian tới.
16


Về chương trình điều trị Methadone: Triển khai điều trị và cấp phát thuốc tại tất
cả các quận, huyện; có kế hoạch phối hợp với Công an thành phố điều trị
Methadone trong trại giam. Tiếp tục tuyên truyền, vận động người nghiện chích ma
túy tham gia và duy trì điều trị; giám sát hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật thường
xuyên và đột xuất các cơ sở điều trị và cơ sở cấp phát thuốc Methadone để nâng cao
chất lượng điều trị.
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA
CTXH
3.1.Thực thi các giải pháp về y tế
Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ y tế về HIV/AIDS, về kỳ thị và phân biệt
đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong thực hành nghề nghiệp.
Đưa ra những quy định cụ thể trong các các cơ sở y tế: Quy trình, cách thức làm
việc cũng như cách ứng xử, giao tiếp với bệnh nhân và dán những nội quy và quy
tắc này tại các phòng làm việc của cán bộ y tế.
Nên đưa nội dung “Không kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm
HIV/AIDS” vào trong các buổi họp giao ban, họp chuyên đề hay sinh hoạt chung
của khoa, phòng, của bệnh viện/cơ sở y tế.
Phát động các phong trào, các cuộc thi về tuyên truyền viên, tư vấn viên giỏi
ngành y tế, hội diễn văn nghệ, v.v… có lồng ghép những nội dung về chống kỳ thị
và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và có tổ chức sơ kết, đánh giá.
Có chế độ khen thưởng các tập thể và cá nhân có những đóng góp/thành tích hay
sáng kiến nhằm góp phần hạn chế, xóa bỏ sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người
nhiễm HIV/AIDS cũng như có biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm.
Trong quá trình khám và chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS, cần:
Tổ chức các khóa tập huấn tại các cơ sở cho cán bộ y tế về “Dự phòng chuẩn”
và “Dự phòng sau phơi nhiễm HIV”, về kỹ năng tư vấn và giao tiếp đặc biệt là
những người thường xuyên tiếp xúc với những người nhiễm HIV/AIDS, hoặc những
người thuộc nhóm nguy cơ cao.
Đảm bảo sự riêng tư trong quá trình khám chữa bệnh, và đảm bảo tất cả hồ sơ
của người bệnh nhiễm HIV/AIDS được bảo mật.

17


Tránh sự cách ly người bệnh nhiễm HIV/AIDS với những bệnh nhân khác trừ
khi được chỉ định cần thiết để xóa bỏ mặc cảm về sự phân biệt đối xử với họ.
Tránh căng những biểu ngữ, áp phích, pano, v.v… liên quan đến HIV/AIDS
quanh khu vực khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV (điều này có thể làm cho mọi
người chú ý đến những người đến đây khám).
Đưa các hoạt động tư vấn, xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS lồng ghép với các qui
trình thường qui của các cơ cơ sở y tế.
Tăng cường mở rộng các hoạt động chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ điều trị cho người
nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ, tạo nên ở họ niềm tin và hy vọng cũng như có
được điểm tựa trong cuộc sống, giúp họ có thêm nghị lực, vượt qua mặc cảm tự ti và
hòa nhập với cộng đồng.
Trong quá trình khám và điều trị, cán bộ y tế cần giúp cho người nhiễm
HIV/AIDS nhận thức được rằng: họ có quyền, đồng thời có trách nhiệm với bản
thân mình là chống kỳ thị và tự cô lập, tích cực tham gia phòng chống HIV/AIDS và
các tệ nạn xã hội. Cán bộ y tế cũng cần tăng cường truyền thông để người thân của
người nhiễm HIV/AIDS nhận thức được tầm quan trọng của gia đình trong việc
chăm sóc người bệnh, cũng như khuyến khích, động viên họ làm tốt vai trò đó tại
nhà, tại cộng đồng.
Cùng đó, tăng cường cung cấp các dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV, để đáp ứng
các nhu cầu cấp thiết bảo đảm sự sẵn có và dễ tiếp cận cũng như kết nối chuyển gửi
người được chẩn đoán nhiễm HIV đến các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị-đặc biệt
là các dịch vụ điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cho người nhiễm HIV/AIDS, điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone.
3.2.Tạo điều kiện cho người nhiễm HIV/AIDS chủ động tham gia vào các
hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
cần tăng cường cung cấp các dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết bảo đảm
quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị và dự phòng lây
nhiễm HIV của tất cả mọi người; chú trọng triển khai các mô hình, các dịch vụ cho
những nhóm đối tượng khó tiếp cận như nhóm di biến động, nam quan hệ tình dục
với nam, người chuyển giới để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau
Để cán bộ y tế không còn nỗi sợ thái quá đối với HIV

18


Hòa chung khí thế của một phong trào đang dấy lên trên toàn thế giới, Việt Nam
đã khởi động một sáng kiến mới vào nửa cuối năm 2016 nhằm giảm phân biệt đối
xử liên quan đến HIV trong các cơ sở y tế.
3.3 Tạo điều kiện cho người nhiễm HIV tiếp cận thẻ bảo hiểm y tế
Đẩy mạnh tuyên truyền về quyền lợi của người tham gia BHXH, BHYT. Một
môi trường y tế không còn phân biệt đối xử để góp phần kết thúc dịch AIDS
“Phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại các cơ sở y tế là một rào cản lớn cho nỗ
lực mở rộng tối đa việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ phòng chống HIV, nhằm
thực hiện mục tiêu 90-90-90 về điều trị HIV của Việt Nam, để từ đó Việt Nam có thể
vững bước tiến tới kết thúc dịch AIDS vào năm 2030,” Ông Ali Safarnejad, Quyền
Giám đốc Quốc gia UNAIDS Việt Nam cho biết.
“Xóa bỏ phân biệt đối xử còn đặc biệt quan trọng bởi Việt Nam đang chuyển đổi
các dịch vụ phòng, chống HIV từ nguồn hỗ trợ của nước ngoài sang sử dụng nguồn
quỹ bảo hiểm y tế, có nghĩa là các dịch vụ về HIV sẽ được cung cấp chủ yếu ở các
bệnh viện đa khoa chứ không phải tại các cơ sở y tế chuyên biệt về HIV nữa,” Ông
Ali Safarnejad nhấn mạnh.
“Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ y tế mà còn
là trách nhiệm chung trong đó người nhiễm HIV chúng tôi cũng phải tham gia,”
Sự tham gia của cộng đồng người nhiễm HIV và người có nguy cơ cao lây
nhiễm HIV xuyên suốt từ việc xây dựng ý tưởng, đến sửa đổi các công cụ, tiến hành
khảo sát, tập huấn giảng viên và triển khai tập huấn cho cán bộ nhân viên tại các cơ
sở y tế, cũng như theo sát tiến trình ở các cơ sở y tế, là vô cùng quan trọng nhằm
đảm bảo dự án thí điểm này sẽ mang lại kết quả mong muốn.
Ngoài ra, giáo dục kiến thức về dự phòng các bệnh truyền nhiễm cho nhân viên
y tế cũng vô cùng quan trọng, nhằm giảm kỳ thị: bác sĩ, nhân viên y tế, nhất là khi
phụ trách về HIV, cần thân thiện hơn với bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó,
cần có các quy định... “mở” giúp người nhiễm HIV/AIDS dễ dàng mua thẻ BHYT.
Các nhóm đồng đẳng đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền thông về lợi
ích và sự cần thiết của BHYT cho người có HIV; tìm kiếm, khuyến khích và hỗ trợ
người có HIV điều trị HIV thông qua BHYT.

19


Để làm được điều đó, cần kết hợp với các cơ sở điều trị để tư vấn, hỗ trợ tuân
thủ điều trị cho người nhiễm HIV và liên tục cập nhật những thông tin về luật, nghị
định, thông tư hướng dẫn về BHYT cho nhóm khách hàng là người nhiễm HIV.

3.4. Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc phòng chống
kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
Trong tất cả các môi trường tạo ra sự kỳ thị và phân biệt đối xử với NNH thì
ngoài việc tăng cường các biện pháp tuyên truyền giáo dục, thiết lập các chính sách
cụ thể thì vai trò của nhân viên CTXH là cực kỳ quan trọng ở khía cạnh này.
Trong nhiều trường hợp thì chính bản thân thân chủ sẽ tự kỳ thị mình do có
những suy nghĩ sai lệch. Lúc này nhân viên CTXH sẽ đóng vai trò là nhà tham vấn
để cùng chia sẻ, giải tỏa các cảm xúc hoặc điều chỉnh lại những suy nghĩ sai lệch.
Hơn nữa với vai trò nhà quản lý trường hợp sẽ giúp kết nối thân chủ với các nguồn
dịch vụ để họ có thể tự tin hơn trong cuộc sống.
Ngoài những vai trò trên thì một trong những vấn đề nổi cộm khiến vấn đề kỳ
thị và phân biệt đối xử vẫn tồn tại là nhận thức còn chưa đầy đủ của cộng đồng. Do
đó, với vai trò của mình, nhân viên CTXH sẽ tổ chức các hình thức giáo dục, tuyên
truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Nhân viên CTXH sẽ kết nối với các cơ
quan tổ chức chuyên môn để đưa ra những hình thức tuyên truyền chuyên sâu và đa
dạng để từ đó mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao nhận thức của người dân
trong cộng đồng. Ngoài ra, khác với những hình thức tuyên truyền khác, nhân viên
CTXH ở đây sẽ tìm hiểu sâu về những vấn đề còn đang tồn tại, những nguyên nhân
sâu xa của các vấn đề đó để đưa ra những hình thức và nội dung tuyên truyền phù
hợp. Cung cấp cho họ đầy đủ thông tin và tạo cơ hội cho họ thể hiện trước đám
đông, điều này sẽ giúp họ có thêm sự tự tin và có thể tự lực vươn lên trong cuộc
sống.
3.5 Nâng cáo vai trò và trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể thuộc các cấp
và cộng đồng
Tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể và cộng
đồng trong hoạt động phòng chống kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến
HIV/AIDS, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS cũng như gia đình của họ.
Đặc biệt, khuyến khích, huy động sự tham gia của những người nhiễm HIV, người
20


bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong hoạt động phòng chống căn bệnh này, tạo nên
một hình ảnh tích cực về người nhiễm HIV để giảm sự kỳ thị, đồng thời xóa bỏ sự
mặc cảm, tự ti và tự kỳ thị của chính họ.

3.6 Tăng cường và nâng cao chất lượng phòng chống kỳ thị và phân biệt đối
xử thông qua công tác truyền thông
Đổi mới tư duy về truyền thông
Chuyển từ truyền thông “hù dọa” sang truyền thông giải thích, dưạ trên các cơ
sở khoa học và thực tiễn.
Chuyển từ việc nhấn mạnh vào đường lây sang nhấn mạnh hơn đường không
lây.
Chuyển từ việc coi người nhiễm HIV và gia đình là đối tượng của truyền thông
sang coi họ là chủ thể của truyền thông phòng, chống HIV/AIDS.
Chuyển từ đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV sang đưa tin, hình ảnh
tích cực về họ, cải thiện hình ảnh, tiến tới bình thường hóa sự có mặt của người
nhiễm HIV trong cộng đồng.
Đổi mới nội dung/thông điệp truyền thông:
Tập trung vào việc giải thích cho mọi người dân hiểu về khả năng lây truyền của
HIV, nhất là làm rõ rằng HIV không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường và
giải thích tại sao HIV lại không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường.
- Tập trung giải thích cho người dân các tác hại của kỳ thị và phân biệt đối xử
với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ, trong đó nhấn mạnh đến các tác hại đối
với cộng đồng, với sự phát triển kinh tế, xã hội và làm cho dịch HIV lây lan nhanh
hơn.
- Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh có thể gây hiểu nhầm HIV/AIDS cũng là
tệ nạn xã hội, người nhiễm HIV là người có lỗi.
- Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh có tính hù dọa, gây hoảng sợ trong cộng
đồng.
- Tăng cường các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về HIV/AIDS, trong
đó nhấn mạnh các quy định về chống kỳ thị và phân biệt đối xử.
21


Đổi mới phương pháp truyền thông:
- Rà soát, kiên quyết thay thế các thông điệp, hình ảnh, nhất là các pano, áp
phích có nội dung hù dọa hoặc gây nhầm lẫn HIV/AIDS với tệ nạn xã hội.
- Biên soạn lại các tài liệu, ấn phẩm truyền thông theo hướng loại bỏ các nội
dung có thể dẫn đến tình trạng kỳ thị, phân biêt đối xử.
- Đa dạng hóa các phương pháp truyền thông. Lồng ghép nội dung chống kỳ
thị, phân biệt đối xử vào tất cả các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS.
- Tổ chức nhiều hoạt động truyền thông với sự tham gia của người nhiễm HIV,
đồng thời tạo điều kiện cho các nhóm người nhiễm HIV tổ chức các hoạt động
truyền thông trong cộng đồng, trong nhà trường, tại nơi làm việc và tuyên truyền
quảng bá rộng rãi về các hoạt động này.
- Không đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV, ngược lại cần tăng
cường đưa tin, quảng bá các hoạt động tích cực của họ, sự đóng góp của họ cho
cộng đồng và gia đình.

22


KẾT LUẬN
Trên thế giới, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch, là hiểm họa cho nhân loại và
là mối quan tâm hàng đầu của các nước. Ở nước ta, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS
tiếp tục diễn biến phức tạp. HIV/AIDS xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố và có
xu hướng ngày càng lan rộng, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người,
trật tự an toàn xã hội và sự phát triển của đất nước. Thời gian qua, dưới tác động
của công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi, nhận thức của
người dân về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS ở nước ta đã có nhiều chuyển biến
tích cực.
Nhận thức được nguy cơ đó, thời gian qua, các cấp, ngành, địa phương trong
tỉnh đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực góp phần kiểm soát
và khống chế dịch HIV/AIDS trên địa bàn. Trong đó, ngành Y tế tỉnh đã tập trung
thực hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân,
nhất là những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao, sống ở vùng sâu,
vùng xa, đồng bào dân tộc ít người về dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS nói
chung và lợi ích của xét nghiệm HIV sớm nói riêng; tổ chức có hiệu quả các hoạt
động dự phòng, mở rộng các dịch vụ tiếp cận, đặc biệt là tư vấn, xét nghiệm HIV
sớm tại tất cả các tuyến từ tỉnh đến cơ sở, nhằm đạt được mục tiêu 90% người
nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, từ đó giúp tăng hiệu quả điều
trị nếu phát hiện dương tính với HIV và đề phòng lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng
đồng.
Có thể thấy, việc xét nghiệm HIV sớm có ý nghĩa rất quan trọng, giúp người
dân, nhất là các đối tượng phụ nữ mang thai và người có hành vi nguy cơ cao lây
nhiễm HIV nắm bắt được tình trạng sức khỏe, tình trạng nhiễm HIV và tiếp cận với
các dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS. Hằng năm, thông qua việc xét nghiệm
sớm, toàn tỉnh đã phát hiện và điều trị thuốc kháng virút (ARV) cho trên 200 người
nhiễm HIV. Riêng 9 tháng đầu năm 2017, đã phát hiện và điều trị ARV cho trên 160
người nhiễm HIV mới; trong đó 100% số phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ em
23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×