Tải bản đầy đủ

BÁO CÁO ĐỀ TÀI Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

MỤC LỤC

I.
II.
III.
IV.
V.
VI.

Lời nói đầu
Vài nét về ô nhiễm không khí
Nguyên nhân
Hậu quả, ảnh hưởng
Giải pháp chống ô nhiễm không khí
Kết luận


I.

Lời nói đầu


Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm
không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công
nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn
cho phép.
Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc
hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương
rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công
nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì
để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước
thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang
xây dựng trạm xử lí nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải
ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Dọc lưu vực sông
Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có
hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác
động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận... Có nơi, hoạt động của các nhà
máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn
hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông
nghiệp của bà con nông dân.


KHÓICN

TRÁIĐÂTBỊCHÁY

KHÓIXE
Tình trạng báo động tại Việt Nam:
Ông Jacques Moussafir, chuyên gia người Pháp cung cấp giải pháp phần mềm tính
toán, mô phỏng ô nhiễm môi trường không khí và hỗ trợ dự báo khí tượng tại một
cuộc hội thảo về cải tạo chất lượng không khí và giao thông đô thị đã khẳng định:
“Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới hoạt động của
người dân mọi lúc, mọi nơi, nhất là ở thủ đô Hà Nội. Đây là một trong những thành
phố ô nhiễm không chỉ nhất Đông Nam Á mà còn cả châu Á”.
Theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam
nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sức khỏe.
Trên cơ sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí (Air
Quality Index- AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150-200 điểm thì đã bị coi là ô
nhiễm, từ 201-300 thì coi là cực kỳ cấp bách, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe của người dân. Trong khi đó, tại Việt Nam, hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà Nội
và TP HCM, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức 152-156. Còn vào giờ giao thông


cao điểm phải lên tới gần 200.


Hình ảnh Hà Nội chìm trong khói bụi. (Ảnh: Vnexpress.net)
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được
những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh
thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng
đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi
trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công
nghiệp... Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người
dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung
đột xã hội gay gắt.

II.

Giới thiệu chung
1. Khái niệm


Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự xuất
hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây
biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật. Ô nhiễm không khí là sự có mặt
một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không
khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)".Ô
nhiễm không khí là sự có mặt của các chất lạ có trong không khí hay do sự biến đổi
quan trọng trong các thành phần khí quyển gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
con người , sinh vật và các hệ sinh thái.
2. Nguồn gốc gây ô nhiễm không khí

Dạng hơi (lỏng)

Dựa vào trạng
thái vật lý gây ô
nhiễm
Nguồn gây ô
nhiễm
Dựa vào nguồn
gốc phát sinh chất
gây ô nhiễm

3. Các dạng ô nhiễm không khí
a) Bản chất hóa học
 Ô nhiễm khí
 Ô nhiễm bụi
b) Bản chất lý học

Dạng rắn

Dạng khí

Nguồn gây ô
nhiễm sơ cấp
Nguồn gây ô nhiễm thứ
cấp


 Ô nhiễm nhiệt
 Ô nhiễm tiếng ồn
 Ô nhiễm phóng xạ
c) Bản chất sinh học
4. Việt Nam trong quá trình đo thị hóa nhanh
- Việt Nam là nước triong 10 quốc gia có ô nhiễm không khí nhất thế giới
- Việt Nam trong quá trình đô thị hóa nhanh

-Hoạt động giao thông vận tải, nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn

-Hoạt động xây dựng , sửa chữa đường xá


III.

 Ô nhiễm không khí đặc biệt tập trung ở đô thị
Nguyên nhân

Các loại khí oxit: CO, CO2, SO2, NOx...
Các hợp chất khí halogen: HCl, HF, HBr
Các chất hữu cơ tổng hợp RH, bay hơi xăng, sơn
Các khí quang hóa: PAN, O3
Các chất lơ lửng: sương mù, bụi
Nhiệt, tiếng ồn, phóng xạ.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo.
Tự nhiên:
Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng. Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm
có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế giới,
không tập trung trong một vùng. Trong quá trình phát triển, con người đã thích nghi với
các nguồn này.


 Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua,
mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất xa vì nó được
phun lên rất cao.

Núi lửa phun trào ở Nhật Bản
 Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do
sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này thường
lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.

CHÁY RỪNG Ở ĐÀ NẴNG


 Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió
thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang
theo bụi muối lan truyền vào không khí. Hiện tượng bão cát thường xảy ra ở
những vùng đất trơ và khô không có lớp phủ thực vật ngoài việc gây ra ô nhiễm
bụi, nó còn làm giảm tầm nhìn

KHÓI CỦA CÁC XE TẢI LỚN VÀ KHÓI XE BUÝT GÂY
Ô NHIỄM

 Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải nhiều
chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí
sunfua, nitrit, các loại muối v.v... Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
Do quá trình lên men các chất hữu cơ khu vực bãi rác, đầm lầy sẽ tạo ra các khí
như metan (CH4), các hợp chất gây mùi hôi thối như hợp chất nitơ (ammoniac –
NH3), hợp chất lưu huỳnh ( hydrosunfua – H2S, mecaptan)


 Ô nhiễm do đại dương: Do quá trình bốc hơi nước biển co kéo theo một lượng
muối (chủ yếu là NaCl) bị gió đưa vào đất liền. không khí có nồng độ muối cao sẽ
có tác hại tới vật liệu kim loại.

Công nghiệp
 Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người. Các quá trình gây ô nhiễm là
quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2,
NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ
trên dây chuyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi.


 TÁC HẠI CỦA BỤI
- Thành phần hóa học, thời gian tiếp xúc là các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ quan nội
tạng.
- Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ hạt
bụi và cá nhân từng người.
- Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp như khó
thở, ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực …
-

TCVN 2005 qui định bụi tổng cộng trong không khí xung quanh 0,5 mg/m3.

- Bụi đất đá không gây ra các phản ứng phụ: tính trõ, không có tính gây độc. Kích
thước lớn (bụi thô), nặng, ít có khả năng đi vào phế nang phổi, ít ảnh hưởng đến sức
khỏe.
- Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD: 3,4-benzenpyrene), có
độc tính cao, có khả năng gây ung thư, phần lớn bụi than có kích thước lớn hơn 5
micromet bị các dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các lông giữ lại. Chỉ có các hạt bụi có
kích thước nhỏ hơn 5 mm vào được phế nang.


 TÁC HẠI CỦA SO 2VÀ NOx
- SO2, NOX là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axít (HNO 3,
H2SO3, H2SO4). Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước
bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó phân tán vào máu tuần hoàn.
- Kết hợp với bụi => bụi lơ lửng có tính axít, kích thước < 2-3µm sẽ vào tới phế nang, bị
đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết.
- SO2 nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra nước
tiểu và kiềm ra nước bọt.
- Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường, thiếu
vitamin B và C, ức chế enzym oxydaza.
-

Giới hạn phát hiện thấy bằng mũi SO2 từ 8 – 13 mg/m3.

- Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô hấp, ho là
50mg/m3.
-

Giới hạn gây nguy hiểm sau khi hít thở 30 – 60 phút là từ 130 đến 260mg/m 3

-

Giới hạn gây tử vong nhanh (30’ – 1h) là 1.000-1.300mg/m3.

- Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam đối với SO2, SO3, NO2 týõng ứng là 0,5;
0,3 và 0,085 mg/m3 (nồng độ tối đa 1 lần nhiễm).
 TÁC HẠI CỦA HF
- HF sinh ra do quá trình sản xuất hóa chất (HF) và là một tác nhân ô nhiễm quan trọng
khi nung gạch ngói, gốm sứ.
- Không khí bị ô nhiễm bởi HF và các hợp chất fluorua gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống sinh vật và sức khoẻ của người. Các hợp chất fluorua gây ra bệnh fluorosis trên hệ
xương và răng.
 TÁC HẠI CỦA CO
- Ôxít cacbon (CO) kết hợp với hemoglobin (Hb) trong máu thành hợp chất bền vững là
cacboxy hemoglobin (HbCO) làm cho máu giảm khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếu
ôxy trong máu rồi thiếu ôxy ở các tổ chức.


-

Mối liên quan giữa nồng độ CO và triệu chứng nhiễm độc tóm tắt dưới đây:

 AMONIAC (NH3)
- NH3 không ăn mòn thép, nhôm, tan trong nước gây ăn mòn kim loại màu: kẽm, đồng
và các hợp kim của đồng. NH3 tạo với không khí một hỗn hợp có nồng độ trong khoảng
từ 16 đến 25% thể tích sẽ gây nổ.
- NH3 là khí độc có khả năng kích thích mạnh lên mũi, miệng và hệ thống hô hấp.
- Ngưỡng chịu đựng đối với NH3 là 20 – 40 mg/m3.
- Tiếp xúc với NH3 với nồng độ 100 mg/m3 trong khoảng thời gian ngắn sẽ không để lại
hậu qủa lâu dài.
- Tiếp xúc với NH3 ở nồng độ 1.500 – 2.000 mg/m3 trong thời gian 30’ sẽ nguy hiểm đối
với tính mạng.
 HYDRO SUNFUA (H2S)
- Phát hiện dễ dàng nhờ vào mùi đặc trưng.
- Xâm nhập vào cơ thể qua phổi, H2S bị oxy hoá => sunfat, các hợp chất có độc tính
thấp. Không tích lũy trong cơ thể. Khoảng 6% lượng khí hấp thụ sẽ được thải ra ngoài
qua khí thở ra, phần còn lại sau khi chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu.
- Ở nồng độ thấp, H2S có kích thích lên mắt và đường hô hấp.


- Hít thở lượng lớn hỗn hợp khí H2S, mercaptan, ammoniac… gây thiếu oxy đột ngột, có
thể dẫn đến tử vong do ngạt.
- Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi họng khô và
có mùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết dịch mủ và giảm thị
lực.
- Sunfua được tạo thành xâm nhập hệ tuần hoàn tác động đến các vùng cảm giác –
mạch, vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh.
- Thường xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dưới mức gây độc cấp tính có thể gây
nhiễm độc mãn tính. Các triệu chứng có thể là: suy nhược, rối loạn hệ thần kinh, hệ tiêu
hóa, tính khí thất thường, khó tập trung, mất ngủ, viêm phế quản mãn tính…
 TÁC HẠI CỦA HYDROCACBON
- Hơi dầu có chứa các chất hydrocacbon nhẹ như metan, propan, butan, sunfua hydro.
- Giới hạn nhiễm độc của các khí như sau:
Metan

60-95 %

Propan

10 %

Butan

30 %

Sulfua hydro

10 ppm

- Tiêu chuẩn của Bộ Y Tế Việt Nam năm 1977 qui định tại nơi lao động: dầu xăng nhiên
liệu là 100mg/m3, dầu hỏa là 300mg/m3. TCVN 5938-2005 qui định nồng độ xăng dầu
trong không khí xung quanh tối đa trong 1 giờ là 5mg/m3.
- Nồng độ hơi xăng, dầu từ 45% (thể tích) trở lên sẽ gây ngạt thở do thiếu ôxy. Triệu
chứng nhiễm độc như say, co giật, ngạt, viêm phổi, áp xe phổi.
- Dầu xăng ở nồng độ trên 40.000 mg/m3 có thể bị tai biến cấp tính với các triệu chứng
như tức ngực, chóng mặt, rối loạn giác quan, tâm thần, nhức đầu, buồn nôn, ở nồng độ
trên 60.000 mg/m3 sẽ xuất hiện các cơn co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí gây tử
vong.


- Người nhạy cảm xăng dầu: tác động trực tiếp lên da (ghẻ, ban đỏ, eczema, bệnh nốt
dầu, ung thư da).
- Các hydrocacbon mạch thẳng như dung môi naphta; các hydrocacbon mạch vòng như
cyclohexan; các hydrocacbon mạch vòng thơm như benzen, toluen, xylen; các dẫn xuất
của hydrocacbon như cyclohexanol, butanol, axeton, etyl acetat, butyl acetat, metyletyl
xeton (MEK) và các dẫn xuất halogen.
- Các hợp chất hữu cơ bay hơi (THC): Dưới ánh sáng mặt trời, các THC với NOx tạo
thành ozon hoặc những chất oxy hóa mạnh khác. Các chất này có hại tới sức khỏe (rối
loạn hô hấp, đau đầu, nhức mắt), gây hại cho cây cối và vật liệu.
 TÁC HẠI CỦA FORMALDEHYDE
- Formaldehyde với nồng độ thấp kích thích da, mắt, đường hô hấp, ở liều cao có tác
động toàn thân, gây ngủ.
- Nhiễm theo đường tiêu hoá với liều lượng cao hơn 200mg/ngày sẽ gây nôn, choáng
váng.
- Người bị nhiễm độc mãn tính có tổn thương rất đặc trưng ở móng tay: móng tay màu
nâu, mềm ra, dễ gẫy, viêm nhiễm ở xung quanh móng rồi mưng mủ.
- Nồng độ tối đa cho phép của hơi formaldehyde trong không khí là 0,012mg/m3
(TCVN 5938-1995), trong khí thải là 6 mg/m3.
- Tổ chức Y tế Thế giới: nồng độ giới hạn formandehyde là 100 mg/m3 trong không khí
với thời gian trung bình 30phút.
- Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả sinh vật.
-

Thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí.

- SO2, NO2, ozon, fluor, chì… gây hại trực tiếp cho thực vật khi đi vào khí khổng, làm
hư hại hệ thống giảm thoát nước và giảm khả năng kháng bệnh.
- Ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật; giảm sự hấp thu thức ăn, làm lá
vàng và rụng sớm.
- Đa số cây ăn quả rất nhạy đối với HF. Khi tiếp xúc với nồng độ HF lớn hơn 0,002
mg/m3 thì lá cây bị cháy đốm, rụng lá.


- Mưa acid còn tác động gián tiếp lên thực vật và làm cây thiếu thức ăn như Ca và giết
chết các vi sinh vật đất. Nó làm ion Al được giải phóng vào nước làm hại rễ cây (lông hút)
và làm giảm hấp thu thức ăn và nước.
- Ðối với động vật, nhất là vật nuôi, thì fluor gây nhiều tai họa hơn cả. Chúng bị nhiễm
độc do hít trực tiếp và qua chuỗi thức ăn.

Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tập trung trong một
không gian nhỏ. Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiên liệu sử
dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽ khác nhau.
 Đốt cháy nguyên liệu hóa thạch : Đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra các axít như
sulfuric, cacbonic và nitric, các chất có nhiều khả năng tạo thành mưa axít và ảnh
hưởng đến các vùng tự nhiên và hủy hoại môi trường. Các tượng điêu khắc làm
bằng cẩm thạch và đá vôi cũng phần nào bị phá hủy do axít hòa tan cacbonat
canxi.Nhiên liệu hóa thạch cũng chứa các chất phóng xạ chủ yếu như urani và
thori, chúng được phóng thích vào khí quyển. Năm 2000, có khoảng 12.000 tấn
thori và 5.000 tấn urani đã bị thải ra từ việc đốt than. Người ta ước tính rằng
trong suốt năm 1982, Hoa Kỳ đốt than đã thải ra gấp 155 lần so với chất phóng xạ
thải vào khí quyển của sự cố đảo Three Mile. Bốt than cũng tạo ra một lượng lớn
xỉ và tro bay. Các chất này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, chiếm
khoảng 40% sản lượng của Hoa Kỳ. Việc khai thác, xử lý và phân phối nhiên liệu
hóa thạch cũng gây ra các mối quan tâm về môi trường. Các phương pháp khai
thác than đặc biệt là khai thác lộ thiên bốc lớp phủ của các đỉnh núi và khai thác
từ trên xuống và khai thác dạng dải cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường, và các hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi cũng là hiểm họa đối với
sinh vật thủy sinh. Các nhà máy lọc dầu cũng có những tác động tiêu cực đến môi
trường như ô nhiễm nước và không khí. Việc vận chuyển than cần sử dụng các
đầu máy xe lửa chạy bằng động cơ diesel, trong khi đó dầu thô thì được vận
chuyển bằng các tàu dầu (có nhiều khoang chứa), các hoạt động này đòi hỏi phải
đốt nhiên liệu hóa thạch truyền thống.


Biến động hàm lượng điôxít cacbon trong thời gian 400.000 năm gần đây cho thấy sự
gia tăng của nó kể từ khi bắt đầu cách mạng công nghiệp.
 Giao thông vận tải
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân
cư. Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ: CO, CO2,
SO2, NOx, Pb,CH4 Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển. Nếu xét trên từng
phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ giao thông lớn và
quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bên đường.
Phương tiện giao thông vận tải một mặt góp phần quan trọng vào quá trình phát triển
của xã hội, mặt khác lại gây ra những tác động xấu đến môi trường, gây nguy hại cho sức
khoẻ của con người và làm suy giảm chất lượng cuộc sống đô thị. Các tác nhân gây ô
nhiễm giao thông chủ yếu là:

 Các khí độc hại từ các loại xe có động cơ thải ra khí đốt nhiên liệu. - Bụi - Tiếng ồn.
Bụi và các khí thải độc dễ dàng thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, qua da
và niêm mạc mắt, miệng. Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc di chuyển chủ
yếu bằng các loại xe không có mui kín, vì vậy, trong quá trình di chuyển con người
bị tiếp xúc trực tiếp với khí thải độc từ động cơ xe chưa được pha loãng nên nồng
độ tác động thực tế còn lớn hơn nhiều so với số liệu đo đạc được. Là nguồn gây ô
nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu
nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung


quanh. Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: CO, bụi, khí thải từ máy móc gia dụng, xe
cộ,..
 Trong quá trình hoạt động các phương tiện giao thông phát thải vào không khí
một khối lượng lớn các loại khói, khí độc như CO, CO2, hydrocacbon, NO2, SO2,
khói đen, chì và các dạng hạt khác. Tùy theo loại động cơ và loại nhiên liệu mà
khối lượng các chất thải độc hại chiếm tỷ lệ khác nhau trong khí xả. a. Cacbon
monoxit (CO): CO là sản phẩm cháy không hòan tòan của nhiên liệu. Xe cộ là
nguyên nhân chủ yếu gây ra độ tập trung CO cao ở các khu vực đô thị. CO có ái
lực đối với hemoglobin cao gấp 200 lần so với O2. Vì vậy khi xâm nhập vào cơ thể
CO sẽ liên kết với hemoglobin trong máu, cản trở việc tiếp nhận O2, gây nghẹt
thở. Chính do tính chất này của CO mà nó rất có hại đối với phụ nữ có thai và
người mác bệnh tim mạch. Trong nhiễm độc CO cấp tính nhẹ, có thể các triệu
chứng: nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi, rối lọan thị giác. Trong nhiễm độc cấp tính
CO thể nặng, theo sự phát triển của tình trạng thiếu oxy trong máu và mô, hệ
thần kinh hệ tim mạch sẽ bị tổn thương, rối lọan hô hấp, liệt hô hấp dẫn tới tử
vong. b. Cacbon dioxit (CO2). Trong những năm gần đây người ta chú ý nhiều đến
giao thông vận tảivì nó góp phần thải ra CO2 – khí nhà kính quan trọng nhất. Trên
tòan thế giới khỏang 15% CO2 trong không khí là do các phương tiện giao thông
vận tải thải ra. CO2 là một chất gây ngạt. Bình thường tỷ lệ CO2 trong không khí
từ 0,3 – 0,4%0. Ở nồng độ thấp CO2 kích thích trung tâm hô hấp. Những nghiên
cứu gần đây cho thaáy nồng độ CO2 5%0 đã gây trở ngại cho hô hấp. Tiếp xúc với
CO2 ở nồng độ 15%0 người ta không thể làm việc được. Ở nồng độ 30 – 60 %0 có
thể gây nguy hiểm tính mạng cho con người. c. Hydro cacbon (CnHm) Có 3 nguồn
thải Hydro cacbon từ các phương tiện giao thông: - Từ khí thải. - Thoát ra bằng
cách bay hơi. - Thoát ra từ cacte ( lượng này tuy thấp nhưng lại chứa các
hydrocacbon cấu tạo phức tạp, có khả năng gây ung thư ở con người). Các hydro
cacbonlà những chất độc gây rối loạn hô hấp, ngay ở nồng độ thấp chúng cũng có
thể làm sưng tấy màng phổi, làm thu hẹp cuống phổi, làm viêm mắt, viêm mũi.
Hít phải hydro cacbon ở nồng độ 40 mg/L dẫn đến tức ngực, chóng mặt, rối loạn
giác quan, gây cảm giác buồn nôn. Ngoài ra chúng còn được coi là nguyên nhân
gây ung thư phổi, họng và đường hô hấp. d. Các oxit nitơ (NOx). Ở các khu đô thị,
giao thông thải ra khỏang 50% lượng NOx trong không khí. NOx được dùng để chỉ
hỗn hợp NO và NO2 trong không khí đồng thời cùng có mặt. NO và NO2 đóng vai
trò qua trọng trong ô nhiễm không khí. NOx kết hợp vớ Hemoglobin (Hb) tạo
thành Methemoglobin (Met Hb), làm Hb không vận chuyển được oxy, gây ngạt


cho cơ thể. Sau một thời gian tiềm tàng dẫn tới phù phổi cấp, tím tái biểu hiện co
giật và hôn mê. Khi tiếp xúc với NOx ở các nồng độ thấp (nhiễm độc mãn tính) có
các biểu hiện sau: kích ứng mắt, rối lọan tiêu hóa, viêm phế quản, tổn thương
răng. e. Sunfua dioxit (SO2). Trong lĩnh vực ô nhiễm không khí, SO2 là chất ô
nhiễm hàng đầu thường được quy kết là một tong những nguyên nhân quan
trọng gây tác hại cho sức khỏe của người dân đô thị. SO2 kích ứng niêm mạc mắt
và các đường hô hấp trên. Ở nồng độ rất cao, SO2 gây viêm kết mạc, bỏng và đục
giác mạc. Trường hợp tiếp xúc ào ạt với SO2 có thể làm chết người do nguyên
nhân ngưng hô hấp. Tác hại ủa SO2 đối với chức năng phổi nói chung rất mạnh
khi có mặt của các hạt bui trong không khí hô hấp. Ngoài ra, SO2 còn gây tác hại
cho cơ quan tạo máu (tủy, lách), gây nhiễm độc da, gây rối lạon chuyển hóa
protein – đường, gây thiếu các vitamin B và C, ức chế enzym oxydaza. g. Khói đen,
chì và các dạng hạt. Động cơ diesel thải khói đen gấp 7,5 lần so với động cơ xăng.
Nguyên nh6an gây ra khói đen của xe diesel là do nguyên liệu có nguyên tử
cacbon. Nguyên tử cacbon là nguyên nhân gây ra 90% hiện tượng hấp thụ ánh
sáng và 30% hiện tượng giảm tầm nhìn của người đi đường, gây nguy hiểm,
không an toàn giao thông. Chì là một trong những tác nhân gây ô nhiễm quan
trọng nhất. Chì có trong khí thaỉ của động cơ xăng vì người ta pha tetraethyl chì –
Pb(C2H5)4 vào xăng để chống kích nổ. Hơi chì theo khí thải phân tán vào không
khí, rất có hại cho sức khỏe của con người, gia súc và cây cối. Xe diesel không
chứa chì, nhưng lại thải ra nhiều hạt lơ lửng trong không khí. Các hạt đó kết hợp
với SOx thải ra trong không khí gây ra các bệnh như khí thũng, viêm cuống phổi,
hen suyễn. Có một số hạt có khả năng gây ung thư. Chì xâm nhập vào đường hô
hấp, đường da. Độc tính của chì ở nồng độ cao đã được biết đến từ lâu. Nhưng,
tác động của chì ở nồng độ thấp mới được đánh giá một cách đầy đủ trong hai
thập kỷ gần đây. Do đó mà mức độ chì có thể chấp nhận được ngày càng trở nên
thấp, và việc sử dụng xăng không pha chì ngày càng trở nên phổ biến. Ở nhiều
nước đã cấm hoàn toàn việc sử dụng xăng pha chì. Bụi. Khi dòng xe lưu thông
trên đường, đặc biệt là khi hãm phanh, các lốp xe sẽ ma sát mạnh với mặt đường
làm mòn đường, mòn các lốp xe và tạo ra bụi đá, bụi cao su và bụi sợi. Các bộ
phận ma sátcủa phanh bị mòn cũng thải ra bụi kẽm, đồng, niken, crom, sắt và
cadmi. Ngoài ra quá trình cháy không hết nhiên liệu cũng thải ra bụi ccacbon. Bên
cạnh các nguồn bụi sinh ra từ xe, còn có bụi đất đá, cát tồn đọng trên đường do
chất lượng đường kém, do đường bẩn và do chuyên chở các vật liệu xây dựng,
chuyên chở rác. Nguồn bụi này thường tồn đọng trên đường, hoặc bám theo xe


và thường cuốn theo lốp xe khi xe chạy. Bụi xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua
đường hô hấp. Các hạt bụi có đường kính lớn hơn 10 (m sẽ luẩn quẩn ở đường hô
hấp trên, sau đó chúng đi xuống đường hô hấp dưới. Phần lớn các hạt bụi có kích
thước từ 5 – 10 (m lưu ở đường hô hấp trên và khi tới phổi sẽ lắng đọng ở đ1ô
nhiễm do tác dụng của trọng lực. Nguy hiểm nhất là các hạt bụi có kích thước
( 5(m còn gọi là bụi hô hấp, đọng lại hầu hết ở phế nang. Một số hạt được làm
sạch bởi các màng nhầy, một số hạt lọt vào máu và một số nữa trở thành dị vật
trong phổi. Bụi kích thích cơ học gây khó khăn cho các hoạt động của phổi. Chúng
có thể gây nên các bệnh đường hô hấp, bệnh hen suyễn, viêm cuống phổi, bệnh
khí thũng, bệnh viêm cơ phổi, trước hết là các dạng bệnh bụi phổi. Tiếng ồn.
Tiếng ồn là dạng ô nhiễm phổ biến ở các đô thị. Trong các nguồn sinh ra tiếng ồn
ở đô thị thì các phương tiện giao thông vận tải đóng vai trò chủ yếu: 60 – 80 %
nguồn sinh ra ồn đô thị là phương tiện giao thông bởi các nguyên nhân sau: Tiếng ồn do động cơ, do ống xả. - Tiếng ồn do rung động các bộ phận xe. Độ ồn
này phụ thuộc vào tình trạngkỹ thuật xe. Nếu xe được bảo dưỡng tốt, tình trạng
máy hoàn hảo, tình trạng thùng xe và khung xe chắc chắn, độ giảm xóc tốt thì
tiếng ồn sẽ giảm. - Tiếng ồn do đóng cửa xe, do còi xe, do phanh xe, do sự tương
tác giữa lốp xe và mặt đường, nhiều lúc cả tiếng la hét của phụ xe đã gây giật
mình hốt hoảng cho người đi đường v.v… Tiếng ồn gây tác hại rất lớn đến toàn bộ
cơ thể nói chung và cơ quan thính giác nói riêng.Tiếng ồn mạnh, thường xuyên
gây nên bệnh đau đầu, chóng mặt, cảm giác sợ hãi, bực tức vô cớ, trạng thái tâm
thần bất ổn, mệt mỏi. Tiếng ồn gây ra những thay đổi trong hệ thống tim – mạch,
kèm theo sự rối loạn trương lực mạch máu, rối loạn nhịp tim. Tiếng ồn còn làm
rối loạn chức năng bình thường của dạ dày, làm giảm bớt sự tiết dịch vị, ảnh
hưởng đến sự co bóp bình thường của dạ dày.


IV.
-

RẤTNHIỀUPHƯƠNG
BỤIDOCÁCXELỚN KHÓIXEBUÝT
TIỆNXẢKHÓI

ẢNH HƯỞNG
1. Đối với động vật: Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả sinh vật.
Thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí.

- SO2, NO2, ozon, fluor, chì… gây hại trực tiếp cho thực vật khi đi vào khí khổng, làm
hư hại hệ thống giảm thoát nước và giảm khả năng kháng bệnh.
- Ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật; giảm sự hấp thu thức ăn, làm lá
vàng và rụng sớm.
- Đa số cây ăn quả rất nhạy đối với HF. Khi tiếp xúc với nồng độ HF lớn hơn 0,002
mg/m3 thì lá cây bị cháy đốm, rụng lá.
- Mưa acid còn tác động gián tiếp lên thực vật và làm cây thiếu thức ăn như Ca và giết
chết các vi sinh vật đất. Nó làm ion Al được giải phóng vào nước làm hại rễ cây (lông hút)
và làm giảm hấp thu thức ăn và nước.
- Ðối với động vật, nhất là vật nuôi, thì fluor gây nhiều tai họa hơn cả. Chúng bị nhiễm
độc do hít trực tiếp và qua chuỗi thức ăn.
2. Đối với thực vật :
-Vàng lá: mất màu sắc của lá, giảm mức độ tăng trưởng của cây trồng


-Các chất ô nhiễm thường ảnh hưởng tới thực vật : Aldehyds, Amoniac, Asenic, Bo,
Cacbonmonoxi…
3. Đối với vật liệu :
- Làm gỉ kim loại.
- Ăn mòn bêtông.
- Mài mòn, phân huỷ chất sõn trên bề mặt sản phẩm.
- Làm mất màu, hư hại tranh.
- Làm giảm độ bền dẻo, mất màu sợi vải.
- Giảm độ bền của giấy, cao su, thuộc da.
4. Làm phú dưỡng nguồn đất và nước:
 KHÁI NIỆM
Phú dưỡng hóa xuất phát từ Hy lạp có nghĩa là “thừa dinh dưỡng”, dùng để mô tả hiện
tượng các ao hồ, hồ chứa nước có bùng nổ và phát triển rong tảo, cuối cùng có thể dẫn
đến suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trừơng nước. Hiện tượng phú dưỡng là hiện
tượng đáng quan tâm nhất là đối với ao hồ, trong môi trường nước, làm cho rong tảo
phát triển mạnh tạo nên ô nhiễm nguồn nước.
 NGUYÊN NHÂN
Các chất oxít Nitơ (NO, N2O, NO5… viết tắt là NOx) xuất hiện trong khí quyển qua quá
trình đốt nhiên liệu ở nhiệt độ cao. Trong khí quyển các oxit nitơ sẽ chuyển hóa thành
nitrat rồi theo nước mưa xuống đất. Nitrat nằm trên mặt đất theo nước mưa xuống đất
và theo nước mưa chảy tràn hay vào cống thóat nước để vào môi trường nước. Các chất
tẩy rửa dùng trong sinh hoạt là nguồn cung cấp phospho chính cho nước thải. Hai chất
nitơ và phospho thường là nguyên nhân chính trong việc gây ra hiện tượng phú dưỡng
làm bùng nổ sự phát triển thực vật.
Phospho là 1 trong những nguồn dinh dưỡng cung cấp cho các thực vật dưới nước, gây
ô nhiễm và góp phần thúc đẩy hiện tượng phú dưỡng ở các ao hồ làm rong tảo phát
triển.Nước giàu chất dinh dưỡng là cho thực vật quang hợp và phát triển mạnh, sinh ra 1
lượng sinh khối lớn. Khi chúng chết đi thì tích tụ lại ở đáy hồ, phân hủy từng phần tiếp
tục giải phóng các chất dinh dưỡng như CO2, phospho, nitơ, calci. Nếu hồ không sâu


lắm, loài thực vật có rễ ở đáy bắt đầu phát triển làm tăng quá trình tích tụ các chất rắn,
sau cùng đầm lầy được hình thành và phát triển thành rừng.
5. Tác hại của ô nhiễm không khí đến toàn cầu :
- Mưa axit
- Hiệu ứng nhà kính
- Sự suy giảm ôzôn
- Biến đổi nhiệt độ


H
IỆUỨ
N
GN
H
ÀKÍN
H

SU
YG
IẢMTẦN
GO
ZO
N

M
Ư
AAXIT

BIẾNĐ

I KHÍ HẬU

6. Đối với con người
Ô nhiễm không khí có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta bằng nhiều cách với cả
ngắn hạn và ảnh hưởng lâu dài. Các nhóm khác nhau của người dân đang bị ảnh hưởng
bởi ô nhiễm không khí theo những cách khác nhau. Một số cá nhân đang có nhiều nhạy
cảm hơn với các chất ô nhiễm hơn những người khác. Trẻ em, người già và những người
có vấn đề sức khỏe như hen suyễn, tim và bệnh phổi thường bị ảnh hưởng nhiều hơn từ
các tác động của ô nhiễm không khí. Mức độ mà một cá nhân bị tổn thương do các chất
ô nhiễm trong không khí sẽ phụ thuộc vào tổng số tiếp xúc của người đó để các hạt bụi
và các chất hóa học, tức là thời gian tiếp xúc và nồng độ của các chất gây ô nhiễm. Có
thể có tác động cả ngắn hạn và dài hạn của ô nhiễm không khí.
Tác dụng ngắn hạn:
- Phản ứng dị ứng
- Nhiễm trùng mắt (viêm kết mạc)
- Kích ứng mũi và họng
- Cơn suyễn
- Viêm phê quản


- Khó thở, viêm phổi
- Đau đầu và buồn nôn

Tác động lâu dài:
- Bệnh đường hô hấp mãn tính
- Ung thư phổi
- Bênh tim
- Thiệt hại cho não và dây thần kinh
- Thiệt hại cho cơ quan nội tạng (ví dụ như gan và thận)
Ngoài ra, ô nhiễm không khí cũng là tác nhân hàng đầu gây ung thư. Ngày 17/10/2013,
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã xếp ô nhiễm không khí ngoài trời là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế
về Ung thư (IARC) ngày 16/10/2013 cũng tuyên bố rằng ô nhiễm không khí là một
nguyên nhân dẫn đến gây ung thư, cùng với những tác nhân nguy hiểm khác được biết
đến như amiăng (một loại khoáng chất tự nhiên thường được sử dụng trong xây dựng),
thuốc lá và bức xạ tia cực tím.
v. Giải pháp chống ô nhiễm không khí
1. Lọc không khí công nghệ cao
Hạn chế khí bẩn phát tán ra môi trường được xem là giải pháp hàng đầu để chống ô
nhiễm, do vậy, nhiều thành phố bị ảnh hưởng nặng nề đang chuyển sang các giải pháp
chống ô nhiễm công nghệ cao.

Tại Mexico, Bệnh viện Manuel Gea González ở Thủ đô Mexico City đã trình làng tòa nhà
“hút khói”, tọa lạc trên một diện tích rộng 2.500 mét vuông. Tòa nhà được phủ sơn titan
điôxít (TiO2) có khả năng phản ứng với ánh sáng để trung hòa các tác nhân gây ô nhiễm
không khí. Theo các nhà thiết kế, tòa nhà này có thể vô hiệu hóa lượng khói do 1.000
chiếc xe hơi thải ra mỗi ngày.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×