Tải bản đầy đủ

Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra huyện nga sơn, tỉnh thanh hóa

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

TRỊNH CÔNG SƠN

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

TRỊNH CÔNG SƠN

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Hành chính
Mã số: 60380102

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THỦY

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả luận văn

Trịnh Công Sơn

\


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1. KNTC : Khiếu nại tố cáo.
2. NXB : Nhà xuất bản.
3. PCTN : Phòng chống tham nhũng.
4. QLNN : Quản lý Nhà nước
5. UBND : Uỷ ban nhân dân.



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1.Tính cấp thiết của đề tài. ..........................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. ...................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu. ..............................................................................................6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. .............................................................................................6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ..........................................................................6
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ........................................6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn..............................................................7
8. Bố cục luận văn .......................................................................................................7
CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ
QUAN THANH TRA HUYỆN ................................................................................8
1.1. Khái niệm và đặc điểm của cơ quan Thanh tra huyện. ........................................8
1.1.1 Khái niệm về cơ quan Thanh tra huyện. ............................................................8
1.1.2. Đặc điểm của cơ quan Thanh tra huyện. ...........................................................9
1.2. Tổ chức cơ quan Thanh tra huyện. .....................................................................12
1.2.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển cơ quan Thanh tra huyện qua các
thời kỳ........................................................................................................................12
1.2.2. Cơ cấu, tổ chức Thanh tra huyện theo Luật Thanh tra 2010.. ........................15
1.3. Khái niệm hoạt động cơ quan thanh tra huyện. .................................................20
1.3.1 Quan niệm về hoạt động thanh tra và hoạt động cơ quan thanh tra cấp huyện.
...................................................................................................................................20
1.3.2. Đặc điểm của hoạt động thanh tra cấp huyện. ................................................23
1.3.3. Vai trò trong hoạt động của cơ quan Thanh tra cấp huyện. ............................28
CHƢƠNG 2.THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA. ..........................................................33
2.1. Thực tiễn tổ chức Thanh tra huyện Nga Sơn. ....................................................33
2.1.1. Ban lãnh đạo Thanh tra huyện Nga Sơn. ........................................................33
2.1.2 Công chức, Thanh tra viên. ..............................................................................34
2.2. Thực tiễn hoạt động của cơ quan Thanh tra huyện Nga Sơn. ............................35
2.2.1. Các quy định chung của pháp luật về hoạt động thanh tra của Thanh tra cấp
huyện. ........................................................................................................................35
2.2.2. Thực tiễn hoạt động thanh tra tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. ..............40
2.3. Đánh giá chung về thực tiễn tổ chức và hoạt động Thanh tra huyện Nga Sơn..49


2.3.1. Những kết quả đạt được. .................................................................................49
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế. ...................................................................................54
Kết luận chương 2 .....................................................................................................64
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA HUYỆN NGA SƠN...........................65
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức và hoạt động thanh tra hiện nay.
...................................................................................................................................65
3.2. Nhu cầu hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan thanh
tra ở huyện Nga Sơn ..................................................................................................70
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Thanh tra
huyện Nga Sơn. .........................................................................................................73
3.3.1. Ổn định công tác tổ chức; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ thanh tra ngày càng chuyên nghiệp, trong sạch, vững mạnh.........................73
3.3.2. Đổi mới trong hoạt động của Thanh tra huyện Nga Sơn. ..............................76
3.3.3. Trang bị thêm cơ sở vật chất cho tổ chức và hoạt động của thanh tra huyện
Nga Sơn, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động thanh tra.........83
3.3.4. Tăng cường phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ với Huyện ủy và Uỷ ban nhân
dân huyện. .................................................................................................................84
Kết luận chương 3 .....................................................................................................86
KẾT LUẬN ..............................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Vì vậy, hoạt động
thanh tra đóng vai trò quan trọng vào hiệu quả của quản lý nhà nước. Từ những
ngày đầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ
Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã rất quan tâm đến công tác thanh tra, vì vậy đến
ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban
thanh tra đặc biệt, là tiền đề ra đời ngành thanh tra. Ở địa phương, cơ quan
Thanh tra có vai trò quan trọng trong công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết
khiếu nại tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng, đã góp phần quan trọng
vào sự phát triển chung của ngành Thanh tra cũng như bảo đảm hiệu quả trong
quản lý nhà nước ở địa phương.
Hiện nay, cùng với chủ trương phân cấp, phân quyền trong quản lý và tình
trạng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở địa phương
xuất hiện nhiều vấn đề trong quản lý, nhiều vụ việc khiếu nại nhất là trong lĩnh
vực đất đai, tố cáo cán bộ nhũng nhiễu người dân đòi hỏi cơ quan Thanh tra phải
thể hiện vai trò của mình là cơ quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân các cấp
thực hiện các nhiệm vụ bảo về quyền lợi chính đáng của Nhà nước, tổ chức và cá
nhân. Bên cạnh đó, tình hình tham nhũng hiện nay diễn ra nghiêm trọng và phức
tạp, đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị, đặc biệt phải phát huy vai trò
của cơ quan thanh tra để đẩy lùi nạn tham nhũng, góp phần làm trong sạch bộ
máy quản lý nhà nước.
Từ những yêu cầu tình hình mới đặt ra, Luật Thanh tra năm 2010 được
Quốc Hội ban hành đã tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của cơ quan Thanh
tra trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tổ
chức và hoạt động của toàn ngành Thanh tra nói chung và Thanh tra cấp huyện
nói riêng vẫn tồn tại một số bất cập như hệ thống văn bản về tổ chức và hoạt
động của ngành Thanh tra chưa đồng bộ, kip thời; mô hình tổ chức còn thiếu tập
trung; hoạt động thanh tra còn chồng chéo về đối tượng; quyền của các cơ quan


2

Thanh tra còn nhiều hạn chế; chất lượng công tác thanh tra còn thấp; các quyết
định, kết luận của cơ quan Thanh tra chưa được các đối tượng bị thanh tra thực
hiện một cách nghiêm túc; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại và tố cáo, hoạt
động phòng chống tham nhũng còn nhiều hạn chế. Những tồn tại đã ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng công tác của ngành Thanh tra nói chung và của cơ
quan Thanh tra huyện nói riêng. Vì thế cần đòi hỏi ngành Thanh tra nói chung và
cơ quan Thanh tra cấp huyện nói riêng phải đổi mới về tổ chức và hoạt động để
đáp ứng nhu cầu thực tiễn, khắc phục những điểm hạn.
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động Thanh tra cấp huyện có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, bởi lẽ tổ chức và hoạt động Thanh tra cấp huyện có hiệu quả thì mới
bảo đảm pháp luật về thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại và tố cáo và phòng
chống tham nhũng ở địa phương được thực hiện một cách nghiêm túc trên thực
tiễn. Trong thời gian qua mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực tổ
chức và hoạt động thanh tra nhưng nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt
động Thanh tra cấp huyện nói riêng vẫn chưa được luận giải, tổng kết thực tiễn
và đưa ra những giải pháp hữu hiệu. Vì vậy, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt
động thanh tra từ thực tiễn cấp huyện là rất cần thiết.
Đối với tổ chức và hoạt động ở Thanh tra huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
thời gian qua bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế
như: biên chế còn thiếu so với nhu cầu, đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, kinh
nghiệm trong công tác thanh tra chưa nhiều, chất lượng trong các cuộc thanh tra
chưa cao. Từ nguyên nhân đó thiết nghĩ cần đi sâu nghiên cứu vào công tác tổ
chức và hoạt động ở Thanh tra huyện Nga Sơn để tìm ra những điểm tích cực để
tiếp tục phát huy, làm rõ những điểm bất cập, hạn chế để tìm ra nguyên nhân của
những điều hạn chế đó, phương hướng khắc phục để cơ quan Thanh tra huyện
Nga Sơn thực sự phát huy hết khả năng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
trong hoạt động quản lý Nhà nước ở địa phương Nga Sơn. Đó là lý do học viên
chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra huyện Nga Sơn, tỉnh
Thanh Hóa” làm đề tài luận văn.


3

2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Tổ chức và hoạt động thanh tra nói chung, tổ chức và hoạt động thanh tra
cấp huyện nói riêng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu.
Sách chuyên khảo:
- “Đổi mới tổ chức và hoat động của ngành Thanh tra nhằm tăng cường
năng lực phòng, chống tham nhũng” của Viện khoa học Thanh tra năm 2011,
NXB Chính trị- Hành chính. Cuốn sách gồm 2 phần : Phần 1 là một số vấn đề
chung về công tác thanh tra - cơ sở thiết lập tổ chức và hoạt động của ngành
Thanh tra, vị trí, vai trò, đặc điểm của công tác thanh tra; chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan thanh tra; yêu cầu đối với công tác thanh tra trong điều
kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cải cách
hành chính, Phần 2 : Việc đổi mới tổ chức, hoạt động của ngành Thanh tra góp
phần phòng chống tham nhũng, trong đó đề cập đến tổ chức và hoạt động của
ngành thanh tra trong giai đoạn thực hiện pháp lệnh Thanh tra năm 1990, Luật
Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010.
- “ Những vấn đề pháp lý cơ bản của việc đổi mới tổ chức và hoạt động
thanh tra nhà nước Việt Nam” của T.S Phạm Tuấn Khải năm 1998. Thanh tra là
vấn đề mang tính tổ chức pháp lý quan trọng trong hệ thống bộ máy nhà nước.
Nhiều năm qua, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về tổ chức và hoạt động thanh
tra. Trong đó trước tiên phải kể đến tác phẩm của T.S Phạm Tuấn Khải những
năm 1998. Đề tài đã làm rõ những những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt
động, tổ chức của ngành Thanh tra, những bất cập, khó khăn của ngành Thanh
tra những năm 1998, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp về mặt khoa học cho
quá trình hoàn hiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, đóng góp thiết thực vào
việc nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra.
*Đề tài cấp bộ :
- Đề tài khoa học cấp Bộ “ Lịch sử và truyền thống ngành Thanh tra ”, chủ
nhiệm Vũ Phạm Quyết Thắng, Thanh tra Chính phủ năm 2005. Đề tài đã làm rõ
lịch sử hình thành, quá trình phát triển trong tổ chức và hoạt động của ngành
Thanh tra và định hướng phát triển ngành Thanh tra.


4

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành thanh
tra trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa – Luận cứ khoa học
phục vụ sửa đổi Luật thanh tra và hoàn thiện pháp luật về thanh tra”, chủ nhiệm
Trần Văn Truyền, Thanh tra Chính phủ, năm 2009. Đề tài đã tập trung làm sáng
tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành
thanh tra trong điều kiện phát triển cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trên cơ sở phân tích thực trạng và những hạn chế của ngành Thanh tra, đề
tài đã đề xuất những giải pháp và định hướng nhằm đổi mới tổ chức và hoạt
động của ngành. Cụ thể xây dựng và hoàn thiện ngành Thanh tra đồng bộ, thông
suốt, tăng cường thẩm quyền, đổi mới phương thức hoạt động, đổi mới việc
tuyển dụng.
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp
trong hệ thống các tổ chức thanh tra nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu
lực của công tác thanh tra”, chủ nhiệm Nguyễn Văn Thanh, Thanh tra Chính
phủ, năm 2009. Đề tài đã đưa ra một số vấn đề lý luận và tính hệ thống của các
cơ quan Thanh tra nhà nước và tính tất yếu của việc tăng cường mối quan hệ
trong hệ thống các cơ quan Thanh tra Nhà nước và biện pháp nhằm tăng cường
mối quan hệ đó.
*Luận văn thạc sĩ :
- Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Vũ Văn Đức năm 2014 : “ tổ chức và
hoạt động của thanh tra tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”. Luật văn đã làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của thanh Tỉnh Thanh Hóa,
tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động từ đó đề ra
phương hướng đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tỉnh Thanh
Hóa như như tăng cường hơn nữa tính độc lập cho cơ quan Thanh tra Tỉnh
Thanh Hóa; tiến hành thanh tra có trọng tâm, trọng điểm; nâng cao chất lượng
đào tạo.
- Luận văn thạc sĩ luật của tác giá Lê Thị Thu Oanh năm 2004 : “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra Việt Nam’’. Luật văn đã
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của cơ qua thanh tra


5

khi Luật Thanh tra 2004 có hiệu lực đề ra phương hướng đề hoàn thiện tổ chức
và hoạt động của cơ quan Thanh tra ở Việt Nam như như dụng hiệu quà nguồn
nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thanh tra trong
sạch vững mạnh.
*Các bài tạp chí :
- Nguyễn Tuấn Khanh- Viện khoa học Thanh tra: “ các biện pháp về việc
tăng cường tính độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra”, tạp chí Thanh tra
số 09/08/2011.
- Lữ Ngọc Bình- Chánh thanh tra tỉnh Quảng Ngãi : “ bàn về tổ chức và
biên chế thanh tra cấp huyện”, tạp chí Thanh tra số 24/11/2011
- Nguyễn Huy Hoàng - Phó hiệu trưởng Trường cán bộ thanh tra : “ những
quan điểm chủ đạo định hướng đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra hiện nay”,
tạp chí Thanh tra số 14/05/2014.
- Nguyễn Thị Hồng Thúy - Giảng viên Trường cán bộ thanh tra : thực hiện
kết luận, kiến nghị sau thanh tra- thực trạng và giải pháp, tạp chí Thanh tra số
25/06/2015.
Các bài viết đã phân tích thực trạng hoạt động của ngành Thanh tra trong
thời gian qua, đồng thời nêu lên những bất cập, vướng mắc về quy định pháp
luật thanh tra hiện hành khi áp dụng vào thực tế, từ đó các tác giả để xuất hướng
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu ở tầm vĩ mô, mang tính tổng thể,
việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của thanh tra huyện chưa được quan tâm
nhiều, nhất là khi ban hành Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố
cáo 2011, Luật Tiếp công dân 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015.
Việc nghiên cứu đề “Tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra huyện Nga
Sơn, tỉnh Thanh Hóa” sẽ có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn tổ chức
và hoạt động thanh tra cấp huyện, góp phần tìm ra giải pháp, định hướng nâng
cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Thanh tra cấp huyện nói chung và Thanh tra
ở địa phương Nga Sơn nói riêng.


6

3. Mục đích nghiên cứu.
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về
tổ chức, hoạt động của Thanh tra cấp huyện, đặc biệt là Thanh tra huyện Nga
Sơn nhằm đánh giá những điểm đã làm được và những điểm chưa làm được
trong tổ chức và hoạt động thanh tra ở địa phương hiện nay. Trên cơ sở đó đề
xuất các định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tổ chức và hoạt
động của Thanh tra huyện với vai trò là cơ quan tham mưu giúp việc cho Uỷ ban
nhân dân cấp huyện trong công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo
và phòng chống tham nhũng trong thời gian tới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức, hoạt động
Thanh tra cấp huyện.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động thanh tra
cấp huyện từ thực tiễn ở địa phương huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong thời
gian qua, chỉ ra những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân
của những bất cập, hạn chế để có giải pháp hoàn thiện.
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của
thanh tra, đặc biệt là Thanh tra huyện Nga Sơn trong thời gian tới.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề cơ bản về tổ chức và
hoạt động của cơ quan Thanh tra huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong việc thực hiện thẩm quyền
của Thanh tra huyện từ khi thực hiện Luật thanh tra 2010 đến nay.
6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Việc nghiên cứu đề tài luận văn dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước về nhà nước và pháp luật, về quản lý nhà nước, về Thanh tra
Nhà nước và về tổ chức và hoạt động của Thanh tra cấp huyện.


7

- Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, so
sánh, đối chiếu. Đồng thời, phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực
tiễn để hoàn chỉnh Luận văn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
Về lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ
bản về tổ chức và hoạt động của Thanh tra cấp huyện.
Về thực tiễn, luận văn góp phần đánh giá, tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt
động thanh tra cấp huyện ở địa phương huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ khi
Luật Thanh tra có hiệu lực (01/07/2011) đến nay, phát hiện những khó khăn, hạn
chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động trong lĩnh vực thanh tra,
luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động
thanh tra ở địa phương trong thời gian tới.
8. Bố cục luận văn
Luận văn được kết cấu thành 03 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra
cấp huyện.
Chương 2: Thực tiễn tổ chức và hoạt động của cơ quan Thanh tra huyện
Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động
của cơ quan Thanh tra huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.


8

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN
THANH TRA HUYỆN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của cơ quan Thanh tra huyện.
1.1.1 Khái niệm về cơ quan Thanh tra huyện.
Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Đó là tổ
chức mang tính quyền lực nhà nước, được thành lập và có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật, nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ và chức năng Nhà
nước bằng những hình thức và phương pháp đặc thù. Nhìn tổng quát bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành ba phân hệ: cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. Cơ quan thực hiện chức năng hành
pháp được gọi là cơ quan hành chính nhà nước, là một loại cơ quan trong bộ máy
nhà nước được thành lập theo Hiến pháp và pháp luật để thực hiện quyền lực nhà
nước, có chức năng là quản lý hành chính nhà nước ở mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Cơ quan hành chính nhà nước còn được gọi là cơ quan chấp hành của cơ
quan quyền lực nhà nước. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm
các cơ quan hành chính trung ương và các cơ quan hành chính địa phương. Các
cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương chịu trách nhiệm quản lý thống nhất
các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong phạm vi cả nước gồm Chính phủ, các
Bộ, Cơ quan ngang bộ; cơ quan hành chính ở địa phương gồm UBND các cấp,
các sở, phòng, ban trực thuộc UBND các cấp hoạt động quản lý trong phạm vi
lãnh thổ địa phương.
Cơ quan Thanh tra là loại cơ quan hành chính đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động QLNN. Hoạt động của cơ quan Thanh tra nhằm kiểm soát hữu hiệu
việc thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp. Từ yêu cầu phải có
hoạt động thanh tra dẫn đến hình thành các tổ chức thanh tra là một nhu cầu tất
yếu của quá trình QLNN. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng
Hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 64/SL ngày 23/11/1945 thiết lập
Ban thanh tra đặc biệt, đây là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành hệ
thống tổ chức thanh tra. Trải qua các thời kỳ lịch sử cùng với sự chuyển đổi cơ


9

chế quản lý, hoạt động thanh tra cũng được thay đổi theo, Pháp lệnh thanh tra
1990; Luật Thanh tra năm 2004; đặc biệt là Luật Thanh tra năm 2010 ra đời thay
thế Luật Thanh tra năm 2004. Qua các thời kỳ lịch sử thì hệ thống cơ quan
Thanh tra vẫn luôn được khẳng định là một bộ phận của bộ máy hành chính nhà
nước, có nhiệm vụ giúp cơ quan QLNN quản lý công tác thanh tra và thực hiện
quyền thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, xem xét giải quyết các
KNTC, PCTN trong phạm vi thẩm quyền QLNN của thủ trưởng cùng cấp.
Tổ chức các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra bao gồm các cơ quan
Thanh tra nhà nước và cơ quan thực hiện chức năng chuyên ngành. Trong hệ
thống các cơ quan Thanh tra nhà nước gồm Thanh tra Chính phủ, Thanh tra
Tỉnh; Thanh tra Bộ, cơ quan ngang bộ ( gọi tắt là thanh tra Bộ ); Thanh tra Sở;
Thanh tra quận, huyện, thị xã ( gọi tắt là thanh tra huyện ). Thanh tra huyện là cơ
quan trực thuộc UBND cấp huyện, thực hiện việc xem xét, đánh giá, xử lý hoặc
đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý đối với việc thực hiện chính sách
pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý
trực tiếp của UBND huyện.
Từ những phân tích trên ta có thể có khái niệm về cơ quan Thanh tra huyện
như sau : Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp QLNN về công tác thanh
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của
pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của cơ quan Thanh tra huyện.
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra các đặc điểm của cơ quan Thanh tra
huyện như sau :
Thứ nhất, Thanh tra huyện là cơ quan Thanh tra hành chính. Thanh tra hành
chính được hiểu là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối
với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách pháp
luật, nhiệm vụ, quyền hạn. Với đặc điểm là cơ quan Thanh tra hành chính, Thanh
tra cấp huyện có chức năng, nhiệm vụ là xem xét, đánh giá các đối tượng thuộc


10

quyền quản lý trực tiếp của UBND cấp huyện. Đối tượng thanh tra của Thanh tra
cấp huyện là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc sự quản lý trực tiếp của UBND
huyện bao gồm: các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện ( gọi chung là các
phòng, ban ), UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân thuộc sự quản lý trực tiếp
của UBND huyện.
Với tư cách là cơ quan Thanh tra thực hiện hoạt động thanh tra hành chính.
Thanh tra huyện giúp UBND huyện xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật
của các đối tượng thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình nhằm ngăn ngừa, phát
hiện các sai phạm của họ, đồng thời phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết trong
cơ chế chính sách với mục đích cao nhất là nâng cao hiệu quả quản lý của
UBND huyện và làm trong sạch bộ máy chính quyền địa phương, tạo dựng niềm
tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, là yếu tố quyết định thành công của
một chính quyền.
Thứ hai, cơ quan Thanh tra huyện là cơ quan Thanh tra cấp dưới cùng trong
hệ thống cơ quan Thanh tra hành chính.
Theo Luật thanh tra 2010, hệ thống các cơ quan có chức năng thanh tra bao
gồm các cơ quan Thanh tra nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng
thanh tra chuyên ngành. Trong các cơ quan Thanh tra nhà nước thì Thanh tra cấp
huyện cùng với Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Tỉnh là các cơ quan thanh tra
chỉ thực hiện hoạt động thanh tra hành chính. Thanh tra Sở, Thanh tra Bộ vừa
thực hiện thanh tra hành chính, vừa thực hiện thanh tra chuyên ngành.
Như đã phân tích ở trên thanh tra hành chính được hiểu là hoạt động thanh
tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực
thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn. Với đặc
điểm là cơ quan thanh tra hành chính, Thanh tra huyện có chức năng, nhiệm vụ
xem xét đánh giá các đối tượng thuộc quản lý trực tiếp của UBND huyện trong
việc chấp hành pháp luật nhằm ngăn ngừa, phát hiện sai phạm của họ.
Thanh tra huyện trong hệ thống các cơ quan thanh tra hành chính là cơ
quan cấp thấp nhất, dưới Thanh tra huyện không còn “ hệ thống chân rết ” hay
cán bộ cơ sở phụ trách địa bàn, Thanh tra huyện là cấp dưới trực tiếp của Thanh


11

tra Tỉnh cho nên Thanh tra huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn,
nghiệp vụ trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống
tham nhũng của Thanh tra Tỉnh. Thanh tra huyện hàng tháng, hàng quý, năm
chịu trách nhiệm báo cáo công tác với Thanh tra Tỉnh và các báo cáo chuyên đề
theo yêu cầu của Thanh tra Tỉnh, thực hiện việc chỉ đạo, tập huấn nghiệp vụ,
chuyên môn của Thanh tra Tỉnh. Bên cạnh đó Thanh tra huyện chịu sự chỉ đạo
chung về đường lối tổ chức, hoạt động của Thanh tra Chính phủ.
Thứ ba, Thanh tra huyện được tổ chức theo nguyên tắc “song trùng trực
thuộc”. Khái niệm nguyên tắc này là “ Việc chịu sự quản lý đồng thời của hai cơ
quan cấp trên trực tiếp; một theo sự quản lý của ngành dọc, và một theo sự quản
lý của lãnh thổ theo chiều ngang. Nguyên tắc (hoặc chế độ) song trùng trực
thuộc được xác lập và duy trì ở những lĩnh vực quản lý đòi hỏi kết hợp lợi ích
của ngành chuyên môn và lợi ích của địa phương. Song trùng trực thuộc tỏ ra
không có lợi ở những lĩnh vực đòi hỏi có sự thống nhất cao, tuyệt đối như trong
lĩnh vực đấu tranh bảo vệ pháp chế thống nhất của quốc gia ". 1
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010 thì Thanh tra huyện là cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp
QLNN về công tác thanh tra; giải quyết KNTC và PCTN; tiến hành thanh tra,
giải quyết KNTC và PCTN theo quy định của pháp luật. Trong quá trình tổ chức
bộ máy và hoạt động Thanh tra huyện chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch
UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo về công tác, nghiệp vụ của Thanh tra
cấp Tỉnh. Như vậy, Thanh tra huyện là cơ quan được tổ chức theo nguyên tắc “
song trùng trực thuộc” tức là về mặt tổ chức, bộ máy, con người, ngân sách, cơ
sở vật chất để làm việc sẽ do UBND huyện đảm bảo và chỉ đạo. Đồng thời
Thanh tra huyện là cơ quan cấp dưới của Thanh tra Tỉnh, chịu sự chỉ đạo, hướng
dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Thanh tra Tỉnh.

1

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học- Phần luật hành chính và tố tụng hành chính, NXB Công an nhân dân

,Hà Nội 1999, Tr. 433.


12

Chính vì được tổ chức như nêu trên nên đội ngũ công chức, Thanh tra viên
của Thanh tra huyện cũng có những đặc thù nhất định như quy định Chánh
Thanh tra huyện do Chủ tịch UBND huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
sau khi đã thống nhất với Chánh Thanh tra Tỉnh.
1.2. Tổ chức cơ quan Thanh tra huyện.
1.2.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển cơ quan Thanh tra
huyện qua các thời kỳ.
Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã dành thắng lợi, lập ra nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà. Ngay trong những ngày đầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ
tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã nhận được khá nhiều ý kiến từ các tầng lớp
nhân dân phản ánh bằng thư từ, đơn khiếu kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp bày tỏ
nguyện vọng cần sớm chấm dứt các hiện tượng, việc làm sai trái của một số
nhân viên trong bộ máy chính quyền các cấp, nhất là ở các địa phương. Từ thực
tế đó ngày 04/10/1945 lần đầu tiên cuộc họp Hội đồng Chính phủ đã đưa ra vấn
đề thành lập tổ chức Thanh tra. Đến ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, cụ Bùi Bằng Đoàn giữ
chức Trưởng Ban thanh tra đặc biệt, là tổ chức tiền thân của Thanh tra Chính
phủ sau này và ngày 23 tháng 11 thành ngày truyền thống của ngành Thanh tra
Việt Nam.
Đây là cơ quan có nhiệm vụ giám sát tất cả các công việc và nhân dân viên
của UBND và các cơ quan của Chính phủ. Ban Thanh tra đặc biệt có quyền hạn
rất lớn, được toàn quyền nhận giải quyết các đơn khiếu nại của nhân dân: kiểm
tra, xem xét các tài liệu, giấy tờ của UBND hoặc các cơ quan Chính phủ khi thấy
cần thiết cho công việc giám sát của mình.
Đến tháng 12/1949, tại phiên họp toàn thể, Hội đồng Chính phủ ra quyết
nghị giải thể Ban Thanh tra Đặc biệt và thành lập Ban Thanh tra Chính phủ đồng
thời cử các thành viên vào Ban Thanh tra Chính phủ. Ngày 18/12/1949, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138 B-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ, cụ
Hồ Tùng Mậu được cử làm Tổng Thanh tra.


13

Sau đó trước yêu cầu thực tiễn của việc QLNN và thực hiện chủ trương của
Đảng, ngày 28/03/1956, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc
lệnh số 261/SL thành lập Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ, đồng chí
Nguyễn Lương Bằng được cử làm Tổng Thanh tra, đồng chí Nguyễn Côn và
Trần Tử Bình được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra. Tiếp đó Nghị định số
1194/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 26/12/1956 về việc thành lập
cơ quan Thanh tra ở các liên khu, khu, thành phố và tỉnh với nhiệm vụ cụ thể
thanh tra việc chấp hành đường lối, chính sách, mệnh lệnh của Chính phủ, việc
thực hiện kế hoạch của Nhà nước và Uỷ ban hành chính các cấp, nhanh chóng
xem xét, giải quyết KNTC của nhân dân. Nghị định 1194/TTg của Thủ tướng
Chính phủ ra đời, các tổ chức thanh tra ở nước ta đã hình thành như một hệ
thống, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra đã có sự tăng cường hơn một
bước. Ngoài việc tiến hành thanh tra về công vụ, công chức, thanh tra đã hướng
mạnh vào thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của các cơ
quan, tổ chức đơn vị.
Khi Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ bị giải thể, chỉ có các Ban Thanh tra
của bộ, ngành đang còn hoạt động, mối quan hệ giữa các Ban Thanh tra gần như
không có, không có chỉ đạo chung thống nhất của ngành Thanh tra, một số chính
sách của Đảng và Nhà nước bị vi phạm nghiêm trọng, công tác quản lý kinh tế
lỏng lẻo. Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã nhận định phải chấn chỉnh tổ
chức hệ thống thanh tra. Ngày 11/8/1969 Quốc hội ra Nghị Quyết số 780/NQTVQH thành lập Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ. Các cán bộ lãnh đạo của Ủy
ban Thanh tra của Chính phủ lần lượt được bổ nhiệm. Đồng chí Nguyễn Thanh
Bình được cử giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban, đồng chí Trần Mạnh Quỳ và đồng
chí Nguyễn Thừa Kế được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của
Chính phủ. Từ đó, vị trí của cơ quan Thanh tra ngày một hoàn thiện, Nghị quyết
nêu rõ: Thanh tra là một khâu quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý của bộ
máy nhà nước. Tuy nhiên trong giai đoạn này, vấn đề thanh tra tại các địa
phương vẫn do Uỷ ban hành chính của địa phương đó đảm nhiệm nên hoạt động
thanh tra còn lỏng lẻo, chưa có tổ chức thống.


14

Ở các tỉnh, thành phố công tác thanh tra do Uỷ ban hành chính các cấp đảm
nhiệm. Sau hội nghị thanh tra toàn miền Bắc tháng 10/1970 của Uỷ ban Thanh
tra của Chính phủ, ở các địa phương và các ngành, tổ chức thanh tra bắt đầu
được xây dựng. Uỷ ban Thanh tra đã được thành lập ở tất cả các tỉnh, thành phố;
nhiều tỉnh đã thành lập Ban Thanh tra ở những ty quan trọng, một vài Tỉnh đã
lập và một số Tỉnh đang đề nghị thành lập Ban Thanh tra, xét khiếu tố cấp
huyện.
Tháng 3/1977, Hội nghị công tác thanh tra toàn quốc được tổ chức tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Do có sự thống nhất chỉ đạo của Uỷ ban thanh tra của
Chính phủ, đến cuối năm 1977 thì trên 40 tỉnh, thành phố, đặc khu của cả nước
và hầu hết các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều thành lập xong cơ
quan thanh tra. Như vậy từ thời điểm này tổ chức thanh tra trở thành hệ thống
trên phạm vi cả nước và hệ thống đó từng bước được quản lý, chỉ đạo thống nhất
từ Trung ương đến cơ sở.
Về hệ thống tổ chức thanh tra, Nghị quyết số 26/HĐBT ngày 15/2/1984 đã
nêu rõ: “Hệ thống thanh tra các cấp gồm: Uỷ ban thanh tra nhà nước Trung
ương, Uỷ ban thanh tra nhà nước cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương
đương; Ban thanh tra nhân dân tập trung thống nhất từ Trung ương đến cơ sở”.
Nghị quyết nhấn mạnh Uỷ ban Thanh tra nhà nước các cấp không phải chỉ là
một cơ quan chuyên môn ở địa phương mà còn là “một cấp của hệ thống thanh
tra và một bộ phận của cơ quan lãnh đạo chính quyền cùng cấp”.
Từ những năm 1990, khi Pháp Lệnh thanh tra ra đời và có hiệu lực, cơ cấu,
tổ chức và hoạt động của Thanh tra huyện ngày càng được làm rõ. Thanh tra
huyện được khẳng định là cơ quan của UBND cùng cấp, có chức năng QLNN về
công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QLNN của UBND
cùng cấp; có nhiệm vụ, quyền hạn chỉ đạo, hướng dẫn công tác, tổ chức nghiệp
vụ thanh tra đối với các UBND xã và các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý
trực tiếp của UBND huyện. Về cơ cấu tổ chức bộ máy, Thanh tra huyện gồm :
Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên.


15

Ngày 15/6/2004, Quốc hội thông qua Luật Thanh tra năm 2004. Sự ra đời
của Luật Thanh tra 2004 thay thế cho Pháp lệnh Thanh tra 1990 khẳng định tầm
quan trọng của công tác thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập rộng. Về cơ bản theo Luật Thanh
tra 2004, vị trí của Thanh tra huyện vẫn được kế thừa từ Pháp lệnh Thanh tra
năm 1990. Theo đó tổ chức và biên chế của thanh tra huyện : “ Thanh tra huyện
có Chánh Thanh tra và không quá 03 Phó Chánh Thanh tra; Biên chế hành
chính của Thanh tra huyện do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng
biên chế hành chính của huyện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao ”.
Luật Thanh tra 2010 đã được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010 đánh
dấu một bước tiến quan trọng trong hoạt động xây dựng pháp luật về thanh tra, là
cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh tra. Luật Thanh tra 2010 khắc
phục những hạn chế, bất cập đang đặt ra trong công tác thanh tra theo quy định
của Luật Thanh tra 2004. Về cơ bản, Thanh tra huyện vẫn được quy định là cơ
quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp huyện. Thanh tra huyện có trách nhiệm
giúp UBND cấp huyện QLNN về công tác thanh tra, giải quyết KNTC và PCTN;
tiến hành thanh tra, giải quyết KNTC, PCTN theo quy định của pháp luật. Hơn
nữa, Luật Thanh tra 2010 còn phân định rõ ràng giữa nhiệm vụ, quyền hạn cho
Chánh Thanh tra huyện chủ động trong việc chỉ đạo thực hiện công tác thanh tra
của mình.
1.2.2. Cơ cấu, tổ chức Thanh tra huyện theo Luật Thanh tra 2010..
Các văn bản Luật Thanh tra 2010, nghị định 86/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành Luật Thanh tra 2010, nghị đinh số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã , thành phố thuộc tỉnh không
nêu về biên chế Thanh tra huyện nhưng theo quy định tại khoản 2, điều 8 thông
tư liên tịch 03/2014/TTLT-TTCP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ,
Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh : “ biên chế công chức của
Thanh tra huyện được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm
vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế công chức trong cơ quan, tổ


16

chức hành chính của huyện được cấp có thẩm quyền giao”. Căn cứ vào chức
năng, nhiệm vụ, danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức được cấp có
thẩm quyền phê duyệt hằng năm, cơ quan Thanh tra cấp huyện xây dựng kế
hoạch biên chế công chức theo quy định của pháp luật bảo đảm nhiệm vụ được
giao.
Như vậy có thể thấy cơ cấu của Thanh tra huyện phụ thuộc vào UBND
huyện. Thanh tra Tỉnh không có trách nhiệm trong quyết định số lượng biên chế
cho Thanh tra huyện vì sự trao đổi, đề nghị của Thanh tra Tỉnh đối với các địa
phương không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với UBND huyện về việc
phân bổ biên chế vì không có văn bản nào ràng buộc vấn đề này.
Theo quy định hiện này Thanh tra huyện gồm: Chánh Thanh tra, Phó
Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác.
* Ban lãnh đạo Thanh tra huyện.
a, Chánh Thanh tra: Chánh Thanh tra huyện là người đứng đầu cơ quan
Thanh tra huyện, chịu trách nhiệm trước UBND và chủ tịch UBND huyện và
trước pháp luật về hoạt động của Thanh tra huyện.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Chánh Thanh tra huyện do Chủ tịch UBND
huyện quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ do UBND Tỉnh ban
hành sau khi đã thống nhất với Chánh Thanh tra Tỉnh.
Về việc miễn nhiệm, cách chức cũng do Chủ tịch UBND huyện quyết định
theo quy định của pháp luật sau khi đã thống nhất với Chánh Thanh tra Tỉnh.
Về tiêu chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ của Chánh Thanh tra huyện do
UBND Tỉnh ban hành.
*Về nhiệm vụ quyền hạn của Chánh Thanh tra huyện :
Chánh Thanh tra huyện có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra công tác
thanh tra trong phạm vi QLNN của UBND huyện; lãnh đạo Thanh tra huyện
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Thanh tra 2010 và quy
định khác có liên quan.
Chánh Thanh tra huyện có các quyền hạn sau :


17

Một là quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp
luật và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND cấp huyện về quyết định của
mình;
Hai là kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban
hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ
quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra;
Ba là kiến nghị Chủ tịch UBND huyện giải quyết vấn đề về công tác thanh
tra; trường hợp kiến nghị đó không được chấp nhận thì báo cáo Chánh Thanh tra
tỉnh;
Bốn là kiến nghị Chủ tịch UBND huyện xem xét trách nhiệm, xử lý người
thuộc thẩm quyền quản lý của Chủ tịch UBND huyện có hành vi vi phạm pháp
luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về
thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức khác xem xét trách nhiệm,
xử lý người thuộc thẩm quyền quản lý cửa cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm
pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý
về thanh tra;
Năm là báo cáo Chủ tịch UBND huyện, Chánh Thanh tra Tỉnh về công tác
thanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình;
Sáu là thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc
UBND huyện, Chủ tịch UBND cấp xã trong thực hiện pháp luật về thanh tra;
Bảy là trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan
tham gia hoạt động thanh tra.
b, Phó Chánh Thanh tra huyện :
Phó Chánh Thanh tra huyện là người giúp Chánh Thanh tra và chịu trách
nhiệm trước Chánh Thanh tra huyện và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân
công. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Phó Chánh Thanh tra do Chủ tịch UBND
huyện quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ do UBND Tỉnh ban
hành theo đề nghị của Chánh Thanh tra huyện.


18

Việc miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh Thanh tra huyện do Chủ tịch
UBND huyện quyết định theo quy định của pháp luật và đề nghị của Chánh
Thanh tra huyện.
Nhiệm vụ của Phó Chánh Thanh tra huyện do Chánh Thanh tra huyện phân
công.
* Thanh tra viên, công chức khác.
a, Thanh tra viên: Thanh tra viên là công chức, sỹ quan Quân đội nhân dân,
sỹ quan Công an nhân dân được bổ nhiệm và ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm
vụ thanh tra và các nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan
thanh tra.
*Các tiêu chuẩn để chở thành thanh tra viên là :
Một là trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết,
trung thực, công minh, khách quan;
Hai là tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp
luật, đối với thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về
chuyên ngành ấy;
Ba là có văn bằng hoặc chứng chỉ về nghiệp vụ thanh tra;
Bốn là có ít nhất 2 năm công tác thanh tra, trừ trường hợp là cán bộ, công
chức viên chức, sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹ quan Công an nhân dân công tác
trong đơn vị, cơ quan, tổ chức khác từ 5 năm trở lên chuyển sang cơ quan Thanh
tra nhà nước.
Tủy theo chức trách được giao, thanh tra được phân thành 3 ngạch gồm :
Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra viên cao cấp. Từ đó các yêu cầu
về trình độ, thâm niên công tác của từng ngạch cũng khác nhau. Cụ thể ngạch
Thanh tra viên yêu cầu trình độ phải là tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với
chuyên ngành, lĩnh vực công tác, có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp
vụ Thanh tra viên, có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà
nước ngạch chuyên viên, có văn bằng hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở


19

lên, sử dụng thành thạo tin học văn phòng hoặc có chứng chỉ tin học văn phòng,
có ít nhất 2 năm công tác trong ngành. Đối với ngạch Thanh tra viên chính ngoài
yêu cầu cơ bản như đã nêu ở trên còn phải có thời gian công tác trong ngạch
Thanh tra viên và tương đương tối thiểu 9 năm. Đối với Thanh tra viên cao cấp
ngoài yêu cầu của Thanh tra viên chính thì ứng viên còn phải có trình độ cao cấp
lý luận chính trị, có văn bằng hoặc chứng chỉ tiếng anh trình độ C trở lên, có thời
gian công tác trong ngạch Thanh tra viên chính tối thiểu 6 năm.
*Về bổ nhiệm Thanh tra viên thì theo quy định pháp luật công chức được
xem xét bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra trong các trường hợp sau :
Một là công chức giữ các ngạch chuyên viên và tương đương, chuyên viên
chính và tương đương, chuyên viên cao cấp và tương đương đang công tác trong
ngành Thanh tra nhà nước có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyển sang các ngạch
thanh tra tương ứng;
Hai là công chức trúng tuyển kỳ thi ngạch Thanh tra viên lên Thanh tra
viên chính hoặc kỳ thi ngạch Thanh tra viên chính lên Thanh tra viên cao cấp.
*Miễn nhiệm thanh tra viên trong các trường hợp sau :
Một là do điều động, luân chuyển sang cơ quan, tổ chức khác không phải là
cơ quan Thanh tra ;
Hai là khi chuyển đổi vị trí việc làm và theo quy định của luật cán bộ, công
chức phải chuyển sang ngạch công chức, viên chức để phù hợp với vị trí việc
làm ;
Ba là tự nguyện xin thôi không làm việc trong cơ quan Thanh tra nhà nước
và được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thôi việc ;
Bốn là có quyết định thôi việc hoặc kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc
theo quy định của pháp luật ;
Năm là bị tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc tước quân hàm sỹ quan
quân đội nhân dân ;
Sáu là bị Tòa kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật ;
Bảy là vì lý do khác theo quy định của pháp luật.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×