Tải bản đầy đủ

Thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại tòa án nhân dân thành phố hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐỀ TÀI

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐỀ TÀI

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành :Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

:60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Văn Cừ

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
này.
Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Thu Hà


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật dân sự



HN&GĐ

: Hôn nhân và gia đình

NĐ-CP

: Nghị định - Chính phủ

Nghị định 126/2014/NĐ-CP

: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ban
hành ngày 31/12/2014 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014

TAND

: Tòa án nhân dân

Thông tư liên tịch 01/2016/
TTLT - TANDTC - VKSNDTC
- BTP

: Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT
ban hành ngày 06/01/2016 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng
dẫn thi hành một số quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ..................................... 7
1.1. Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng .................................. 7
1.1.1. Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng.................................... 7
1.1.2. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng ................................ 9
1.1.3. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng .............................. 15
1.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ........................................ 17
1.2.1. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn ....................... 17
1.2.2. Hậu quả pháp lý về tài sản của việc chia tài sản của vợ chồng khi
ly hôn..................................................................................................... 23
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 25
Chương 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................... 26
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội của thành phố Hà Nội ................ 26
2.2. Những kết quả đã đạt được và một số hạn chế, tồn tại ...................... 27
2.2.1. Một số kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ......... 29
2.2.2. Những hạn chế trong giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn.................................................................................... 29
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế ................................................ 30


2.2.4. Tham khảo một số vụ án điển hình để thấy được việc áp dụng các
quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ................................................. 31
2.3. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết
tranh chấp ...................................................................................................... 45
2.4. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc, bất cập ................... 59
2.4.1. Nguyên nhân khách quan ............................................................ 59
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan................................................................ 60
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 61
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN ................................................................................ 62
3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chia tài sản của vợ chồng khi ly
hôn................................................................................................................... 62
3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về
chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội ................................................................................................................... 65
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hôn nhân là kết quả cuối cùng của tình yêu mà hầu như ai cũng mong
muốn đạt được. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu
sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan đã không giữ được ý
nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu thì mọi người lựa chọn cách ly hôn
để có một cuộc sống hạnh phúc hơn.
Khi ly hôn có nhiều vấn đề phức tạp như gia đình, con cái, xã hội và
đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gia tăng nhanh chóng.
Hơn nữa, những tranh chấp này thường là những tranh chấp phức tạp và kéo
dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia
đình và sự ổn định của xã hội. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên một phần
do tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng. Mặt
khác, tình trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng
cũng cho thấy những bất cập, góc khuất của pháp luật về chia tài sản chung
của vợ chồng. Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc gây khó
khăn thậm chí lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các đương sự
cũng như của tòa án khi giải quyết các vấn đề liên quan đến chia tài sản chung
của vợ chồng. Do đó, nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc.
Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, với những lý do trên, tôi quyết định
chọn đề tài "Thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản của vợ chồng khi ly
hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội" làm Luận văn thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu về
các tranh chấp trong hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) luôn được quan tâm,


2

đặc biệt vấn đề về tài sản của vợ, chồng. Các công trình nghiên cứu khoa học
nói chung về chế độ tài sản, chia tài sản của vợ chồng cũng luôn thu hút được
sự quan tâm, nghiên cứu.
Nhóm giáo trình và sách chuyên khảo:
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật HN&GĐ Việt
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Cừ – Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Biện (2002), Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt
Nam, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh.
- Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Khoa luật, Đại học Cần
Thơ.
Nhóm các luận văn, luận án:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật
HN&GĐ Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
- Lã Thị Tuyền (2014), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.
- Chu Minh Khôi (2015), Các trường hợp chia tài sản chung của vợ
chồng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa
thuận theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật
Hà Nội.
- Nguyễn Thanh Hà (2016), Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài
sản chung của vợ chồng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội.
- Lò Thị Thu Hoa (2016), Áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội.
- Lê Thị Dung (2016), Chế độ hôn sản trong Luật HN&GĐ năm 2014,
Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.


3

Nhóm các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên bá, tạp chí chuyên
ngành pháp luật:
- Thu Hương – Duy Kiên (2013), Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ – Thực tiễn giải quyết, tạp
chí TAND, Số 5/2013.
- Nguyễn Văn Cừ (2015), Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam, Tạp chí luật học số 4/2015.
- Nguyễn Văn Cừ (2014), Một số nội dung cơ bản về chế độ tài sản của
vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Được kế thừa và phát triển trong dự thảo
luật HN&GĐ (sửa đổi) (Kỳ 1), Tạp chí TAND, tháng 4/2014 (số 8).
- Nguyễn Văn Cừ (2014), Một số nội dung cơ bản về chế độ tài sản của
vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Được kế thừa và phát triển trong dự thảo
luật HN&GĐ (sửa đổi) (Kỳ 2), Tạp chí TAND, tháng 5/2014 (số 9).
- Nguyễn Hoàng Long (2015), Bàn về công sức trong vụ án HN&GĐ,
tạp chí TAND, tháng 5/2015.
Các công trình nghiên cứu trên đã được nghiên cứu, đề cập đến nhiều
khía cạnh của vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng hoặc chỉ đề cập đến một
vấn đề nhỏ của chia tài sản chung của vợ chồng, chưa đi sâu vào nghiên cứu
việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh chấp về chia
tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong một khoảng thời gian và tại địa
điểm cụ thể hoặc nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải
quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong một
khoảng thời gian và tại một địa điểm khác. Để thấy được những thuận lợi, khó
khăn khi áp dụng các căn cứ pháp luật này trên thực tế giải quyết cụ thể các
tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, từ đó có những kiến
nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn đời
sống và công tác xét xử. Vì vậy, dựa trên cơ sở tình hình nghiên cứu, Luận
văn sẽ kế thừa một số luận điểm nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về giải


4

quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật
HN&GĐ Việt Nam tại tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung phân tích
việc áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 vào thực tiễn giải
quyết các tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội thông qua việc xét xử các vụ án.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chia tài
sản của vợ chồng khi ly hôn, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp
luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những khó khăn, bất cập, hạn chế
trong quá trình áp dụng pháp luật về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, trên
cơ sở đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và
thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng
khi ly hôn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp có tính chất khả
thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản của vợ chồng
khi ly hôn đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển
đa dạng, phong phú.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tài sản của
vợ chồng.
Thứ hai, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài
sản của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ ba, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản của vợ
chồng khi ly hôn qua hoạt động xét xử của ngành Tòa án nói chung và Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng giải quyết các tranh chấp về chia tài sản
của vợ chồng khi ly hôn. Qua đó, đánh giá về những kết quả và khó khăn,


5

vướng mắc, bất cập của việc áp dụng pháp luật về chia tài sản của vợ chồng
khi ly hôn.
Thứ tư, trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng pháp luật về
giải quyết tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, luận văn kiến
nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản của
vợ chồng khi ly hôn dưới góc độ pháp luật và áp dụng pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu bằng sự kết hợp của nhiều phương pháp
như: phân tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử,… trên cơ sở
phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa Mác – Lênin
nhằm xem xét, đánh giá vấn đề một cách toàn diện.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Hoàn thành luận văn này, tôi hy vọng rằng những kiến thức khoa học
trong luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta; đặc biệt là đối với
chuyên ngành Luật HN&GĐ.
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt
là các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định về HN&GĐ; biết được cơ sở pháp
lý tạo lập các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng; các trường hợp
và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn,… Từ đó, góp phần
thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền
vững.
Những kiến nghị khoa học trong luận văn được sử dụng trong việc pháp
điển hóa Luật HN&GĐ của Nhà nước ta; bởi lẽ việc sửa đổi, bổ sung những
quy định của Luật HN&GĐ là rất cần thiết, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và
thống nhất trong quá trình thực hiện và áp dụng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương:


6

Chương 1: Lý luận cơ bản về chế độ tài sản của vợ chồng.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài
sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số kiến nghị về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.


7

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI
SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng
Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn bằng pháp luật điều chỉnh các
quan hệ HN&GĐ, xây dựng mô hình với thiết chế xã hội. Gia đình là tế bào
của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Gia đình có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Để cho gia đình
tồn tại và phát triển thì ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình
đẳng, tiến bộ thì tạo lập tài sản là điều kiện cơ sở vật chất - cơ sở kinh tế để
nuôi sống gia đình. Do đó, chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm
luật quan tâm xây dựng như là một chế định cơ bản, quan trọng của pháp luật
về HN&GĐ.
Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng thuộc phạm trù tài sản riêng
của cá nhân. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu của mình. Chỉ sau khi kết hôn và trong thời kỳ hôn
nhân, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng được hình thành, vấn đề tài sản
giữa vợ chồng mới bị ràng buộc.
Các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng không chỉ là căn cứ pháp
lý để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của mình mà còn là cơ
sở để giải quyết các tranh chấp về tài sản phát sinh giữa vợ, chồng, giữa vợ
chồng với người thứ ba. Với tầm quan trọng đó, ở Việt Nam, chế độ tài sản
của vợ chồng đã sớm được ghi nhận trong pháp luật HN&GĐ nhưng lại chưa
được định nghĩa trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Theo tôi có thể đưa ra
định nghĩa về chế độ tài sản của vợ chồng như sau: Chế độ tài sản của vợ
chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của


8

vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp
và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.
Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tùy
thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục.
Riêng đối với việc xác lập tài sản của vợ chồng, pháp luật hôn nhân gia đình
nói chung quy định hai cách thức tương ứng với hai chế độ tài sản của vợ
chồng: chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và chế độ tài sản của vợ
chồng theo pháp luật.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là chế độ tài sản xác lập
theo thỏa thuận của vợ chồng được thể hiện bằng văn bản, do vợ chồng cùng
nhau thỏa thuận từ trước khi kết hôn về chế độ tài sản của vợ chồng được áp
dụng trong thời kỳ hôn nhân. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận chỉ
phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn và thông thường có hiệu
lực đến thời điểm hôn nhân chấm dứt. Trong trường hợp vợ chồng sửa đổi, bổ
sung, thậm chí lựa chọn thay đổi toàn bộ nội dung chế độ tài sản theo thỏa
thuận thì chế độ tài sản đã xác lập có thể chấm dứt hiệu lực theo thỏa thuận
của các bên ngay khi hôn nhân đang tồn tại.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật là chế độ tài sản của vợ
chồng mà trong đó việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản
chung, tài sản riêng của vợ, chồng; cách thức quản lý, sử dụng, định đoạt tài
sản của vợ chồng; phân chia tài sản đều phải tuân theo những quy định của
pháp luật đã được các nhà làm luật dự liệu trước. Chế độ tài sản của vợ chồng
theo pháp luật thường được ghi nhận trong pháp luật về HN&GĐ.
Ở Việt Nam, nếu như chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật tồn tại
từ thời phong kiến (trong Bộ Luật Hồng Đức) cho đến nay, thì chế độ tài sản
theo thỏa thuận của vợ chồng chỉ được ghi nhận trong một số văn bản theo
từng thời kỳ: Bộ Dân luật Bắc kì năm 1931; Bộ Dân luật Trung kì năm 1936


9

(phỏng theo Bộ Dân luật Pháp năm 1804); Luật Gia đình ngày 02/01/1959
dưới chế độ Ngô Đình Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ
Nguyễn Khánh; Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn
Thiệu. Trong hệ thống pháp luật HN&GĐ năm 2014 chế độ tài sản của vợ
chồng theo thỏa thuận mới được thừa nhận song song với chế độ tài sản của
vợ chồng theo pháp luật.
Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự. Vì
vậy nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế
định tài sản nói chung. Theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 "tài sản
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản".
1.1.2. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Trên cơ sở kế thừa các quy định của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm
2000 có sửa đổi, Luật HN&GĐ năm 2014 đã dự liệu về tài sản chung của vợ
chồng rõ ràng, cụ thể hơn.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tại Điều 33 và quy định chi tiết tại
Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2014 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 thì căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng được xác lập
từ các nguồn sau đây:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân:
“Thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được
tính từ ngày hai bên nam nữ kết hôn, việc kết hôn được tiến hành theo đúng
thủ tục quy định của pháp luật, đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định
và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Thời kỳ hôn nhân chấm
dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Theo quy định của pháp luật, thời kỳ hôn
nhân chấm dứt khi vợ hoặc chồng chết (bản án, quyết định của Tòa án tuyên
bố vợ hoặc chồng chết có hiệu lực pháp luật); khi có bản án, quyết định ly
hôn có hiệu lực pháp luật.


10

Theo đó, những tài sản (bao gồm cả động sản và bất động sản) do vợ
chồng tạo ra trong thời kỳ tồn tại hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ
chồng. Tài sản này có thể do hai vợ chồng cùng chung sức tạo ra hoặc do mỗi
bên vợ, chồng là người trực tiếp tạo lập nên.
- Tài sản mà vợ, chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung;
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng được hoặc có thể được những người
khác tặng cho chung hoặc được hưởng thừa kế chung một khối tài sản, những
tài sản này thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản được coi là vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung
khi trong hợp đồng tặng cho hay di chúc, người tặng cho hay người để lại di
sản thừa kế tuyên bố tặng cho chung hay cho thừa kế chung mà không phân
biệt tỷ lệ phần tài sản được tặng cho, được thừa kế của mỗi bên vợ chồng
được hưởng. Nếu trong hợp đồng tặng cho hoặc di chúc có nêu rõ tỷ lệ phần
tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được hưởng thì về nguyên tắc những tài sản đó
được xác định là tài sản riêng, nếu như vợ, chồng không có thỏa thuận nhập
vào tài sản chung.
Trường hợp vợ chồng cùng thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp
luật về thừa kế thì tài sản được thừa kế theo hàng thừa kế đó thuộc tài sản
riêng của vợ chồng, trừ khi vợ chồng cùng tự nguyện nhập và thỏa thuận đó là
tài sản chung thì mới được xem là tài sản chung của vợ chồng.
- Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; tài sản mà không có
căn cứ chứng minh là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Pháp luật dự liệu và xác định một loại tài sản nữa thuộc tài sản chung
của vợ chồng là những tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận nhập vào khối
tài sản chung.
Trong thực tế, vợ chồng sau khi kết hôn, gắn bó với nhau, ai cũng
muốn xây dựng cuộc sống gia đình êm ấm, vợ chồng không phân biệt tài sản
của ai mà chỉ mong muốn và tự nguyện đem hết tài sản mình có để cùng nhau


11

xây dựng tổ ấm, chăm lo cho con cái. Những tài sản được coi là tài sản riêng
của vợ, chồng được cả hai tự nguyện nhập vào khối tài sản chung. Điều đó thể
hiện sự tin tưởng lẫn nhau.
Việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung đôi khi là sự mặc nhiên
mà không có sự thỏa thuận nào bằng văn bản hoặc có thỏa thuận nhưng cũng
chỉ là thỏa thuận miệng mà không có văn bản ghi nhận lại sự thỏa thuận này.
Đến khi có tranh chấp xảy ra,vợ chồng khó chứng minh được tài sản là tài sản
riêng hay tài sản chung.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 khi xác định tài sản chung của vợ
chồng đã căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của các loại tài sản thuộc
khối tài sản chung của vợ chồng. Việc quy định căn cứ xác định tài sản chung
của vợ chồng tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xác định tài sản
chung của vợ chồng khi có tranh chấp về tài sản chung giữa vợ và chồng trên
thực tế.
Đồng thời, đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (Khoản 2
Điều 213 BLDS năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014). Như vậy, về nguyên tắc vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình
đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản cũng như
trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất. Một bên vợ hoặc chồng không thể tự ý định đoạt tài sản
chung nếu không có sự thỏa thuận của bên kia.
1.1.2.1. Tài sản chung của vợ chồng được xác định khi có văn bản thỏa thuận
Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, lần đầu tiên
trong lịch sử pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định nội dung cơ bản về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa
thuận; bao gồm các vấn đề về tài sản của vợ chồng, trong đó xác định tài sản


12

nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng (điểm a khoản
1 Điều 48).
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2014 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định:
Điều 15. Xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo
thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một
trong các nội dung sau đây:
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản
riêng của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất
cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ
hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do
vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều
thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
2. Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định
tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu vi
phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và
gia đình.
Điều này cho thấy nhà làm luật đã dự liệu trước trong trường hợp vợ
chồng chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc xác định tài sản
của vợ chồng có thể theo một trong các hướng sau:
Thứ nhất, xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; những tài sản
được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng. Việc xác định căn


13

cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng hoàn toàn do hai bên vợ,
chồng tự thỏa thuận, pháp luật không đưa ra bất kỳ quy định nào trong trường
hợp này. Vì khi xác định được phạm vi các loại tài sản, quyền sở hữu của mỗi
bên thì vợ, chồng sẽ thỏa thuận và thống nhất được với nhau các quyền cũng
như nghĩa vụ đối với từng loại tài sản. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận
tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra trong
thời kỳ hôn nhân; tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn
hoặc tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân (không kể là động
sản hay bất động sản) là tài sản riêng của vợ, chồng.
Thứ hai, giữa vợ, chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả
tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân
đều thuộc tài sản chung.
Thứ ba, giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do
vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở
hữu riêng của người có được tài sản đó. Thỏa thuận như vậy sẽ tạo nên chế độ
tài sản riêng biệt.
Ngoài ra, tài sản của vợ chồng có thể được xác định theo các thỏa thuận
khác của vợ chồng. Theo đó, vợ chồng có thể hoàn toàn tự do thỏa thuận về
tài sản của mình, đưa ra các căn cứ làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở
hữu tài sản phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của vợ, chồng nhưng
không trái pháp luật, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và
không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khác.
1.1.2.2. Tài sản chung của vợ chồng được xác định bằng chế độ tài sản của
vợ chồng theo luật định
Một trong những yếu tố quan trọng để cuộc sống vợ chồng được duy trì
là việc tạo lập tài sản để nuôi sống gia đình. Việc xác định tài sản chung của
vợ chồng được quy định tương đối đầy đủ, cụ thể, căn cứ để xác định tài sản
chung của vợ chồng dựa trên thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của tài sản.


14

Luật HN&GĐ quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra,
thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ các tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ
hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật
này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài
sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế
riêng,được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài
sản riêng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà
vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó
được coi là tài sản chung.
Khoản 1 Điều 33 đã liệt kê các căn cứ xác định tài sản chung của vợ
chồng. Có thể hiểu là vợ chồng tùy theo ngành nghề, chuyên môn, trình độ đã
trực tiếp tạo ra tài sản hoặc dùng tiền bạc, tài sản của mình để tạo ra tài sản
khác thuộc sở hữu của vợ chồng bảo đảm nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hàng
ngày của gia đình.
Ngoài ra, Luật HN&GĐ còn quy định, tài sản chung của vợ chồng bao
gồm cả các khoản thu nhập khác phát sinh trong thời kỳ tồn tại quan hệ hôn
nhân như: tiền lương, tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ
các loại tài sản riêng khác của vợ chồng theo quy định của pháp luật; Tài sản
mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu khác theo quy định của Bộ luật dân
sự; Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến việc xác định
đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng, Điều 33 Luật HN&GĐ


15

năm 2014 cũng bổ sung, ghi nhận hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
trong thời kỳ hôn nhân cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Khi một
bên vợ hoặc chồng khai là tài sản đó là tài sản riêng còn bên kia khai là tài sản
chung, song trên thực tế vợ chồng đã quản lý, sử dụng chung tài sản này. Nếu
bên kia khai là tài sản riêng lại không đưa ra được chứng cứ chứng minh là tài
sản đó là tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Đây là quy định mới, thể hiện tính hợp tình, hợp lý và tiến bộ so với các quy
định của Luật HN&GĐ năm 2000, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xác lập
tài sản chung của vợ chồng cũng như mục tiêu bảo vệ, duy trì và phát triển lợi
ích của gia đình, các thành viên trong gia đình và của xã hội.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có
được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Đất đai là một loại tài sản
đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý. Quyền sử dụng đất là
hình thức sở hữu phải đăng ký và trong trường hợp đã có vợ, chồng thì giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên cả hai vợ chồng. Do đó, quyền sử
dụng đất mà cả hai vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được Nhà nước giao
đều thuộc tài sản chung của vợ chồng.
Việc xác định tài sản chung vợ chồng còn được xác định đối với những
tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung: Việc xác lập
loại tài sản này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hoặc do pháp luật quy
định về thừa kế. Khi xác lập hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại tài
sản chung cho vợ chồng, chủ sở hữu không có sự phân biệt tỷ lệ phần trăm
cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng thì tài sản được xác định là tài sản chung
của vợ chồng khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung hoặc vợ
chồng có thỏa thuận đó là tài sản chung.
1.1.3. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng
Điều 43 Luật HN&GĐ quy định về tài sản riêng của vợ, chồng:


16

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có
trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong
thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định
tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu
của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở
hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là
tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều
33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Tiếp thu, kế thừa các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, Luật
HN&GĐ năm 2014 tiếp tục ghi nhận và dự liệu về chế độ tài sản riêng của
vợ, chồng một cách đầy đủ và cụ thể hơn, đặc biệt là phần căn cứ xác lập tài
sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng được xác lập dựa vào thời điểm tài sản đó
phát sinh trước khi khi kết hôn; sự định đoạt của chủ sở hữu tài sản đã chuyển
dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng và sự kiện chia tài sản chung của
vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo đó, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:
- Tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có từ trước khi kết hôn;
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong
thời kỳ hôn nhân;
- Đồ dùng, tư trang cá nhân của vợ, chồng;
- Tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân;
Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng là một cơ chế pháp
lý bảo đảm quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng; bảo vệ lợi ích về tài sản mà
mỗi cá nhân vợ, chồng được hưởng và được pháp luật bảo hộ.


17

Tuy nhiên, đối với tài sản riêng, vợ, chồng có quyền nhập hoặc không
nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Quy định này có tính
chất tùy nghi cho phép vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản
riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng.
1.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
1.2.1. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, Tòa án dựa trên những căn
cứ pháp lý để xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ, chồng. Đối với
tài sản chung được phân chia theo quy định của pháp luật. Việc phân chia
được thực hiện theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ và hướng dẫn chi tiết
tại Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
Luật HN&GĐ năm 2014 có điểm mới so với Luật HN&GĐ năm 2000
là “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc
chế độ tài sản theo thỏa thuận” (Khoản 1 Điều 28).
Trước hết, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài
sản chung, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: Trong trường hợp vợ chồng
lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc phân chia tài sản
do vợ, chồng thỏa thuận; nếu vợ, chồng không thỏa thuận được thì theo yêu
cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết việc phân chia tài
sản theo quy định của pháp luật.
1.2.1.1. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, việc
phân chia tài sản được Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tại khoản 1 Điều 59:
“…Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải
quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận
không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và
5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.”


18

Căn cứ vào đó, việc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản của
vợ chồng theo thỏa thuận cũng thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt tài
sản của vợ chồng. Vợ chồng hoàn toàn có thể thỏa thuận phân chia tài sản
theo những nguyên tắc riêng được hai bên thống nhất. Chỉ khi vợ chồng
không thỏa thuận đầy đủ hoặc có thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó không rõ
ràng thì mới áp dụng tương ứng các nguyên tắc phân chia tài sản của chế độ
tài sản luật định được quy định trong Luật HN&GĐ.
Vì vậy, nếu “Trường hợp vợ chồng có văn bản thỏa thuận về chế độ tài
sản của vợ chồng và văn bản này không bị tòa án tuyên bố là vô hiệu toàn bộ
thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng
khi ly hôn” (điểm b khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP).
Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải trường hợp nào vợ chồng đều có
thể cùng nhau thỏa thuận việc chia tài sản chung của họ theo đúng ý nguyện
của mình, nhất là khi hôn nhân có nhiều mâu thuẫn thì rất khó có thể ngồi nói
chuyện với nhau để bàn bạc, thỏa thuận việc phân chia tài sản chung. Do đó,
pháp luật cũng quy định vợ chồng có thể yêu cầu tòa án giải quyết.
1.2.1.2. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định
- Trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn:
Là sự thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn nhưng đây là trường hợp
vợ chồng thỏa thuận khi lựa chọn để chế độ tài sản theo luật định. Luật
HN&GĐ năm 2014 quy định “trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng
theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận”.
Như vậy, pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng,
cho phép vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
và sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với
đạo đức xã hội. Ví dụ như sự thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng nhằm trốn
tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba sẽ bị coi là vi phạm quy định của


19

pháp luật và không được thừa nhận. Việc tự thỏa thuận chia tài sản của vợ
chồng khi ly hôn phải đảm bảo nguyên tắc vợ, chồng hoàn toàn tự nguyện,
không bên nào được áp đặt, đe dọa, cưỡng ép, ngăn cản bên nào… Ngoài ra
Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định việc tự thỏa thuận chia tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn còn phải đảm bảo các nguyên tắc theo Điều 59:
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến
các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và
phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình
được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh
doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu
nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu
không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần
tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải
thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó,
trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định
của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với
tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh
toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×