Tải bản đầy đủ

Thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh đông bắc việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

PHẠM MINH ĐỨC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC TỈNH ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------


PHẠM MINH ĐỨC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC TỈNH ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Dƣơng Thị Thanh Mai

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận văn “Thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo của đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt
Nam” là công trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn thành. Các tài liệu
tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong Luận văn này đều nêu rõ xuất xứ
tác giả và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước luật pháp về lời cam đoan trên!
Hà nội, ngày tháng năm 2017
Học viên

Phạm Minh Đức


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC
TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM ...................................................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam7
1.2. Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng
dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc ........................................................... 12
1.3. Chủ thể và nội dung thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng
dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc ........................................................... 15


1.4. Vai trò của thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc
thiểu số của các tỉnh Đông Bắc ........................................................................ 23
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc. ................................... 26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC TỈNH ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY................................................................................. 37
2.1. Những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc ........................... 37
2.2. Những hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc ........................... 55
2.3. Nguyên nhân của thực trạng ..................................................................... 59
2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay................... 62
2.4.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ........................... 62


2.4.2. Tích cực tuyên truyền, giáo dục pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay ............ 64
2.4.3. Đảm bảo nguồn tài chính phục vụ cho việc thực hiện pháp luật về xóa
đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam
hiện nay ...................................................................................................... 67
2.4.4. Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm
trong việc thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu
số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay ........................................... 68
2.4.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề thực hiện pháp luật về
xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt
Nam hiện nay ............................................................................................. 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật dân chủ và
nhân đạo. Thực hiện đầy đủ chính xác hệ thống quy phạm pháp luật đòi hỏi
tất yếu khách quan đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các tổ
chức chính trị xã hội và với mỗi công dân. Đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa
và tổ chức chính trị xã hội, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật là thực hiện
trách nhiệm của nhân dân ủy thác, giao phó. Đối với mỗi công dân, thực hiện
pháp luật vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi. Nó là quyền lợi bởi vì thực hiện
đúng pháp luật là đảm ảo có tự do, tự do trong khuôn khổ pháp luật. Trong
Nhà nước pháp quyền Việt Nam, việc đưa pháp luật và cuộc sống nó chỉ có
hiệu quả khi pháp luật được thực hiện trong thực tế, thể hiện thông qua hoạt
động các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân. háp luật phải trở
thành phương thức quản lý xã hội là cơ sở cho tổ chức đời sống xã hội. Do
vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều văn ản pháp luật mà quan
trọng hơn là phải thực hiện pháp luật, làm cho những yêu cầu của pháp luật
trở thành hiện thực. Thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác pháp luật là một yêu
cầu tất yếu khách quan của quản lý Nhà nước bằng pháp luật.
Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Nhà nước đã có ước
chuyển biến rõ rệt, thu được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế
- xã hội và bảo vệ môi trường, đời sống của đồng bào các dân tộc không
ngừng được cải thiện về cả vật chất lẫn tinh thần. Mặc dù đạt được những tiến
bộ quan trọng, nhưng đến nay miền núi Nước ta vẫn là khu vực kinh tế lạc
hậu, chậm phát triển so với cả nước, khoảng cách chênh lệch phát triển giữa
miền núi và miền xuôi có xu hướng ngày càng tăng. Tính ền vững của quá
trình phát triển miền núi chưa được bảo đảm bởi còn nhiều hạn chế, yếu kém.
Hiện nay, miền núi đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, mà


2

trước hết là tình trạng đói nghèo. Đông Bắc là khu vực có gần 30 dân tộc
thiểu số sinh sống lâu đời, với nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp và
địa hình chủ yếu là đồi núi, tình trạng đói nghèo diễn ra cả trong đời sống
kinh tế - xã hội cũng như đời sống pháp luật của đồng bào các dân tộc thiểu
số. Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã hội
quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại
tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu
nhập trung bình và thấp, trong đó ao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không
nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống
trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn
trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người. Mức độ chênh lệch về đói
nghèo cùng với đó là sự chênh lệch về nhận thức và năng lực thực hiện pháp
luật nói chung, thực hiện quyền, nghĩa vụ của người dân nói riêng giữa các
vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội là nguyên nhân tác động đến kết quả xóa đói giảm nghèo, gây
ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của nhân dân vùng núi đặc biệt
là vùng dân tộc thiểu số. Một trong những nguyên nhân cơ ản dẫn tới thực
trạng, là do việc thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả chưa
cao. Với mong muốn t m kiếm giải pháp nâng cao, hiệu quả thực hiện pháp
luật về xóa đói giảm nghèo, ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc
Việt Nam, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam” để làm luận
văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để giải quyết đói nghèo hiện nay, không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia mà
nó đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, ởi lẽ đói nghèo không chỉ đơn
thuần là vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, mà nó còn là vấn đề nhân đạo, nhân


3

văn sâu sắc. Các tổ chức, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn
thuộc các cơ quan, đơn vị ở nhiều cấp, ngành và địa phương khác nhau đã có
nhiều nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo ở các góc độ khác nhau. Trong
những năm gần đây đã có nhiều đề tài, công tr nh nghiên cứu về vấn đề xóa
đói giảm nghèo và thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo như:
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài nghèo đói, tiêu
biểu như Hati Z.A. asha và T. alanivel với “Chính sách tăng trưởng vì người
dân tộc thiểu số - kinh nghiệm châu Á”.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về
vấn đề này, như:
Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ: Lê Thanh B nh “Thực hiện pháp
luật ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay – thực trạng và các
phương hướng giải pháp”(2000); Kim Hồng Thanh “ Thực hiện pháp luật về
trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách trong tố
tụng dân sự ở Vĩnh Phúc” (2013); Đinh Công Sĩ “Phổ biến giáo dục pháp luật
cho thanh niên DTTS vùng Tây Bắc thực trạng và giải pháp” (2006); Cao Thị
Ngọc Yến “Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh
Nghệ An hiện nay” (2014). Hà Quế Lâm (2002) “ óa đói giảm ngh o ở vùng
dân tộc thiểu số hiện nay - thực trạng và giải pháp” (NXB Chính trị Quốc gia
Hà Nội) và TS. Bùi Minh Đạo (2005) “Thực trạng đói ngh o và một số giải
pháp xóa đói giảm ngh o đối với các dân tộc thiếu số ở Tây Nguyên” (NXB
Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh). Đây là các công tr nh nghiên cứu phân
tích khá chi tiết hiện trạng đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng
thời tác giả đề cập đến những giải pháp giảm nghèo cho vùng DTTS.
Nghiên cứu “Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Tài chính vi mô và sự tiếp
cận tín dụng của người dân tộc thiểu số ở nông thôn” (2009 ) là kết quả hợp
tác giữa Trung tâm Phát triển và Hội nhập và Tổ chức phi chính phủ quốc tế


4

trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo, với sự cộng tác của mạng lưới tài chính vi
mô M7 của ActionAidVietnam, báo cáo nghiên cứu này là cơ sở cho việc xem
xét các chính sách tài chính vi mô và giúp cho việc thúc đẩy các hỗ trợ, hợp tác
và củng cố các tổ chức và các hoạt động tài chính vi mô giành cho người dân
tộc thiểu số ở Việt Nam.
Có thể khẳng định, các nghiên cứu về thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo của đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam
là rất phong phú. Tuy nhiên đến nay vấn đề về thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt
Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện từ
góc độ lý luận nhà nước và pháp luật.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Vấn đề thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo là một vấn đề có nội
dung rộng lớn, thể hiện tất cả các mặt của đời sống xã hội, với nhiều đối
tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là: Việc thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam về mặt l
luận và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Không gian nghiên cứu là một số tỉnh Đông Bắc
Việt Nam như Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn... Về thời gian, luận văn tập
trung nghiên cứu về vấn đề thực hiện pháp luật ở địa bàn dân tộc thiểu số của
các tỉnh Đông Bắc Việt Nam từ năm 2010 cho đến nay.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của luận văn là tìm ra những phương hướng và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc


5

thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam. Để thực hiện được mục đích đó,
nhiệm vụ của luận văn là:
1/ hân tích cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam.
2/ Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng
dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam những thành tựu và nguyên
nhân.
3/ Những phương hướng và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả thực
thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các
tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng Cộng
Sản Việt Nam, cụ thể ao gồm:
- hương pháp lịch sử: Được sử dụng để xem xét các quy định pháp luật
về XĐGN của đồng bào ở vùng DTTS của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam cũng
như vai trò của thực hiện pháp luật về XĐGN của đồng bào ở vùng DTTS.
- hương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp để
phân tích những kết quả của các công tr nh nghiên cứu về thực hiện pháp luật
về xóa đói giảm nghèo của đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số và đưa ra những
nhận xét, đánh giá những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về thực
hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo của đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số
trên thực tế.


6

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đây là công tr nh nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ
thống về thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
của các tỉnh Đông Bắc.
- Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật
trong một lĩnh vực cụ thể đó là xóa đói giảm nghèo.
- Luận văn đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc, chỉ ra được ưu
điểm, hạn chế của hoạt động này và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật pháp luật về xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số
vùng Đông Bắc.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học
tập, luật học.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh
Đông Bắc Việt Nam hiện nay.


7

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC
TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về xóa đói giảm nghèo
ở Việt Nam
* Khái niệm pháp luật về xóa đói giảm nghèo
Nhằm điều chỉnh các quan hệ trong quá trình thực hiện pháp luật theo
mục tiêu đặt ra, Nhà nước ban hành rất nhiều quy phạm pháp luật. Do các
quan hệ xã hội nảy sinh trong lĩnh vực thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo có quan hệ chặt chẽ với nhau nên các quy phạm pháp luật này không
tách rời nhau mà có mối quan hệ nội tại, mật thiết với nhau tạo thành một hệ
thống thống nhất. Đây không phải là một ngành luật mà chỉ là một lĩnh vực
pháp luật nằm trong ngành luật Nhà nước. Chính vì vậy có thể hiểu pháp luật
về xóa đói giảm nghèo là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình hoạt động
xóa đói giảm nghèo nhằm hỗ trợ nâng cao mức sống cho người ngh o đói.
Pháp luật về xóa đói giảm nghèo được thể hiện trong nhiều văn ản quy
phạm pháp luật như: Hiến pháp 2013, các luật chuyên ngành như Luật Đất
đai, Luật Hôn nhân gia đ nh, Luật Tài chính, Luật Trợ giúp pháp lý… và các
Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư… hướng dẫn thi hành các luật
trên.
* Đặc điểm pháp luật về xóa đói giảm nghèo
Pháp luật về xóa đói giảm nghèo xác định về các chủ thể thực hiện
pháp luật về xóa đói giảm nghèo. Đó là tất cả các tổ chức, các nhân mà theo
chức năng nhiệm vụ hay trách nhiện xã hội tham gia vào thực hiện pháp luật


8

về xóa đói giảm nghèo. Nội dung pháp luật về xóa đói giảm nghèo bao gồm
các quy định về đối tượng được coi là đói nghèo, chủ thể tham gia, quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia và các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp
luật về xóa đói giảm nghèo. háp luật về xóa đói giảm nghèo ao gồm các
quy định về các vấn đề sau:
* Các quy định về đối tượng đói ngh o: Theo quy định của pháp luật,
đối tượng nghèo là những đối tượng thiếu thốn thường xuyên các điều kiện
vật chất và phi vật chất để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hay
nói cách khác là nhóm đối tượng thiếu cơ hội để có thể sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định các đối tượng này bao gồm: Người dân tộc
thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em là người thuộc hộ
nghèo được xác định theo chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định
trong từng giai đoạn. Hiện nay áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015
theo Chỉ thị số 1752/CT – TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ,
mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định là những hộ có thu nhập bình
quân từ 400.000 đồng/người/tháng. Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hộ nghèo theo từng năm để họ được hưởng
các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Khả năng xóa đói giảm nghèo với nhóm
người dân tộc thiểu số khó khăn hơn nhiều so với nhóm dân cư thuộc dân tộc
Kinh và những nhóm người nghèo sống ở vùng đồng bằng. Mục đích của việc
xóa đói giảm nghèo là giúp cho những người có thu nhập thấp có việc làm và
tham gia vào các hoạt động sản xuất đẻ có thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu
và duy tr được sự độc lập về tài chính; giúp các đối tượng thuộc diện nghèo
đói trở nên

nh đẳng và có thể hòa nhập với cộng đồng và xã hội; giúp đỡ trẻ

em không có khả năng chăm sóc có thể được đáp ứng điều kiện tối thiểu về
vật chất và chất lượng cuộc sống; giúp người tàn tật có khả năng sống độc lập
hơn và tham gia một cách tích cực trong các hoạt động kinh tế cũng như hoạt


9

động cộng đồng; giúp các đối tượng tiếp cận được các quy định của pháp luật
về xóa đói giảm nghèo.
*Các quy định về chủ thể tham gia xóa đói giảm nghèo: Bao gồm các
cơ quan nhà nước và ộ, ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người đói
nghèo. Vai trò của Nhà nước, Bộ ngành liên quan đảm bảo điều hành chỉ
đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện tốt việc thực
hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo đã đề ra. Trên cơ sở các mục tiêu xóa
đói giảm nghèo và điều kiện cụ thể của từng vùng, địa phương chủ động
sáng tạo huy động nguồn lực và các giải pháp phù hợp. Bộ Lao động Thương inh và Xã hội là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ trong việc phối
hợp kiểm tra các hoạt động của Bộ ngành, các địa phương về lĩnh vực quản
l , điều hành. Với nội dung các quy định pháp luật về xóa đói giảm nghèo
đã được duyệt, các Bộ, ngành theo chức năng của mình có trách nhiệm điều
hành.
Người đói nghèo vừa là đối tượng vừa là chủ thể tham gia trực tiếp vào
thực hiện pháp luật về xóa đói giả nghèo, họ thực hiện các quy định pháp luật
về xóa đói giảm nghèo như: pháp luật về đất đai, hỗ trợ nhà ở, y tế, giáo dục...
nhằm nâng cao mức sống cho bản thân học và đây cũng là cách để kiểm
nghiệm tính đúng đắn của pháp luật về xóa đói giảm nghèo.
Đối với các tổ chức chính trị xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện
các quy định pháp luật về xóa đói giảm nghèo đặc biệt là hỗ trợ người thuộc
diện đói nghèo về vật chất, tinh thần nâng cao chất lượng cuộc sống.
*Các quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia của các chủ
thể:
- Theo quy định của pháp luật th : Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội là cơ quan chủ trì quản lý Chương trình xóa đói giảm nghèo, thường trực


10

giúp Chính phủ tổ chức, quản lý, điều hành phối hợp hoạt động với các Bộ,
ngành, địa phương và tổng hợp tình hình thực hiện chương trình; nghiên cứu
xây dựng chính sách an sinh xã hội, trợ giúp đối tượng nghèo về nhà ở; chủ
trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc và
Miền núi, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ, ngành có liên
quan và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý, tổ
chức thực hiện.
- Sở Lao động - Thương inh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì và phối
hợp với các sở, an ngành liên quan làm tham mưu, đề xuất cho UBND tỉnh
xây dựng kế hoạch hàng năm, tổ chức triển khai, theo dõi, giám sát và định kỳ
áo cáo sơ, tổng kết việc thực hiện chương tr nh xóa đói giảm nghèo; phối
hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Sở Thuỷ sản, Ngân hàng Nhà nước tỉnh, Ban Dân tộc tỉnh, Sở Xây
dựng; Sở Y tế: Chỉ đạo, thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế; Sở Giáo dục và
Đào tạo chỉ đạo, thực hiện chính sách về giáo dục cho học sinh nghèo, Sở Nội
vụ quản lý tổ chức thực hiện.
- Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm huy động nguồn lực và tổ chức
thực hiện các chỉ tiêu của chương tr nh xóa đói giảm nghèo theo sự chỉ đạo
của tỉnh và hướng dẫn chuyên môn của các sở, ngành. Phân công phân cấp rõ
trách nhiệm của từng cấp và các ban ngành cùng cấp, trong việc tổ chức thực
hiện chương tr nh xóa đói giảm nghèo theo nguyên tắc tăng cường phân cấp
cho cơ sở và đề cao tinh thần trách nhiệm. Xác định rõ mục tiêu phấn đấu
giao chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo cho từng ấp, khu phố và từng tổ nhân dân tự
quản tổ chức thực hiện. Uỷ ban Nhân dân các cấp tổ chức hội nghị sơ, tổng
kết chương tr nh xóa đói giảm nghèo cấp mình và xây dựng kế hoạch hàng
năm về xóa đói giảm nghèo.


11

- Người nghèo đói: Họ có quyền được nhận thức đầy đủ nội dung của
pháp luật về xóa đói nghèo; nắm bắt đầy đủ hiểu biết về quyền, nghĩa vụ để
chủ động thực hiện, không vi phạm, nắm vững những yêu cầu của các chủ thể
có thẩm quyền thực hiện, biết được giới hạn hành vi được làm, không được
làm, biết sử dụng pháp luật về xóa đói giảm nghèo tham gia vào các quan hệ
xã hội; có ý thức tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về xóa đói giảm
nghèo, nỗ lực học tập nâng cao tr nh độ nhận thức và khả năng làm chủ để có
thể tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tích cực tham gia vào công
cuộc xóa đói giảm nghèo. Trách nhiệm của họ là trực tiếp thực hiện các quy
định của pháp luật về xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao mức sống cho chính
bản thân họ.
- Tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Ban chỉ đạo Chương tr nh xóa đói
giảm nghèo tỉnh tham mưu, đề xuất cho ủy an nhân dân tỉnh xây dựng kế
hoạch để kết hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể thực
hiện chương tr nh; với các giải pháp tập trung, xác định trọng tâm, trọng điểm
và đồng bộ theo lộ trình, tiến độ mang lại hiệu quả cao, không dàn trải. Đồng
thời có hướng dẫn cặp nhật hồ sơ theo dõi việc thực hiện chương tr nh một
cách đầy đủ. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
tăng cường phối hợp với chính quyền, ban ngành các cấp trong việc tổ chức
tuyên truyền, vận động, giáo dục và thực hiện chương tr nh xóa đói giảm nghèo
tại địa phương.
* uy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về xóa đói
giảm nghèo.
Theo quy định của pháp luật, các iện pháp ảo đảm thực hiện pháp
luật về xóa đói giảm nghèo ao gồm:


12

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến
mọi cấp, mọi ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi và
chuyển iến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy

chí chủ động, vươn lên

của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực
hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giả; phát
động phong trào thi đua “cả nước chung tay v người nghèo”; tôn vinh doanh
nghiệp, tập thể cá nhân có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả
trong công tác giảm nghèo ền vững.
Thứ hai, đảm ảo thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động để triển
khai thực hiện Chương tr nh xóa đói giảm nghèo, ảo đảm huy động đầy đủ,
kịp thời theo đúng cơ cấu đã được quy định; tăng cường huy động vốn từ
ngân sách địa phương và các nguồn huy động đóng góp hợp pháp của doanh
nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; vốn
đối ứng, tham gia đóng góp của người dân, đối tượng thụ hưởng.
Thứ ba, đảm ảo mở rộng hợp tác quốc tế trong quá tr nh xây dựng và
thực hiện Chương tr nh xóa đói giảm nghèo cần tăng cường hợp tác với các tổ
chức quốc tế, cả đa phương, song phương và các tổ chức phi chính phủ để
chia sẻ thông tin và kinh nghiệm, đồng thời tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật
và nguồn lực để thực hiện thành công mục tiêu của Chương tr nh.
Thứ tư, đảm ảo lồng ghép việc thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm
nghèo nói chung và các chính sách giảm nghèo đặc thù với các dự án thuộc
Chương tr nh mục tiêu Quốc gia giảm nghèo ền vững ở các huyện nghèo, xã
nghèo, thôn, ản đặc iệt khó khăn.
1.2. Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo ở vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc
* Khái niệm thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo


13

Pháp luật được thực hiện trong thực tế sẽ làm cho xã hội ổn định, trật tự
và có điều kiện phát triển, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức và được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được an toàn. Để pháp luật về
xóa đói giảm nghèo được đi vào thực tế cuộc sống và phát huy được vai trò
của m nh trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy tr trật tự và tạo điều
kiện cho xã hội phát triển th không thể ỏ qua giai đoạn quan trọng là thực
hiện pháp luật.
Pháp luật được thể hiện trong thực tế sẽ làm cho xã hội ổn định, trật tự
và có điều kiện phát triển, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức và được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được an toàn.
Thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo là quá trình hoạt động có
mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật đối
với người dân tộc thiểu số làm cho pháp luật về xóa đói giảm nghèo đi vào
cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể. Đó là những việc
làm, hoạt động, phương thức hoạt động của chủ thể nhằm thực hiện yêu cầu
đặt ra trong quy phạm pháp luật đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
gắn với người dân tộc thiểu số và có liên quan đến xóa đói, giảm nghèo. Thực
hiện pháp luật xóa đói giảm nghèo được thể hiện trên hai phương diện:
Thứ nhất, là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về xóa đói giảm
nghèo đối với người dân tộc thiểu số để đưa các quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực này đi vào cuộc sống vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp
pháp của các chủ thể nhằm đạt được mục tiêu của điều chỉnh pháp luật về xóa
đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số.
Thứ hai, là quá trình thực hiện pháp luật nói chung đối với người dân tộc
thiểu số. Do điều kiện khách quan và chủ quan nên Nhà nước và xã hội cần có
những giải pháp đặc thù để đưa pháp luật đến với người dân tộc thiểu số, giúp


14

họ chủ động sử dụng pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ hoặc ảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp khi ị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại; nhờ vậy từng
ước hạn chế và đi đến xóa ỏ được t nh trạng đói nghèo của người dân tộc
thiểu số.
Như vậy có thể hiểu thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo là tổng
thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa hệ thống
pháp luật đối với người đói nghèo nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền
vững, xóa đói, giảm nghèo trong thực tế.
Thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo được tiến hành thông qua
nhiều h nh thức khác nhau. Cụ thể là ốn h nh thức: tuân thủ pháp luật, chấp
hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
- Tuân thủ pháp luật về xóa đói giảm nghèo là h nh thức thực hiện pháp
luật trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt
động mà pháp luật về xóa đói giảm nghèo cấm. Các quy phạm cấm đoán
trong pháp luật về xóa đói giảm nghèo được thực hiện ở h nh thức này.
- Chấp hành pháp luật về xóa đói giảm nghèo là h nh thức thực hiện
pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lí của m nh
ằng hành động tích cực. Các quy phạm ắt uộc trong pháp luật về xóa đói
giảm nghèo được thực hiện theo h nh thức này.
- Sử dụng pháp luật về xóa đói giảm nghèo là h nh thức thực hiện pháp
luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lí của m nh
(những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể tiến hành). Các quy phạm pháp
luật quy định về quyền và tự do pháp lí của các tổ chức, cá nhân được thực
hiện ở h nh thức này. Đương nhiên, v quyền và tự do pháp lí là những hành
vi mà pháp luật về xóa đói giảm nghèo cho phép chủ thể thực hiện nên chủ
thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền, tự do đó tùy
theo chí của m nh, chứ không ắt uộc phải thực hiện.


15

- Áp dụng pháp luật về xóa đói giảm nghèo là h nh thức thực hiện pháp
luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách
có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định
của pháp luật về xóa đói giảm nghèo hoặc tự m nh căn cứ vào các quy định
của pháp luật về xóa đói giảm nghèo để tạo ra các quyết định làm phát sinh,
thay đổi, đ nh chỉ hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể. Ở h nh thức này
các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật về xóa đói giảm
nghèo luôn có sự can thiệp của cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm
quyền. Trong một số trường hợp đặc iệt, theo quy định của pháp luật, một số
tổ chức xã hội cũng có thể được thực hiện hoạt động này.
Giữa các h nh thức thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo luôn có
sự gắn ó chặt chẽ, không iệt lập với nhau. Các chủ thể thông thường phải
cùng đồng thời thực hiện các quy định pháp luật về xóa đói giảm nghèo dưới
nhiều h nh thức khác nhau, ởi không thực hiện quy định pháp luật này sẽ
không thể thực hiện được các quy định pháp luật khác.
1.3. Chủ thể và nội dung thực hiện pháp luật về xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Đông Bắc
*Các cơ quan nhà nước ở Trung ương
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan nhà
nước có trách nhiệm chính trong việc ban hành pháp luật và tổ chức thực
hiện pháp luật đối với vấn đề về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là thiết lập
các cơ chế bảo đảm, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và phát huy vai trò
của công dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là chủ
thể có vai trò quan trọng trong việc xây dựng giám sát, phản biện các chủ
trương, chính sách trong quá tr nh xây dựng và thực hiện, tham gia tổ chức
thực hiện pháp luật.


16

Để tạo cơ chế cho Chính phủ và chính quyền các cấp chỉ đạo thực hiện
chương tr nh xóa đói giảm nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã an hành Quyết
định 531-TTg ngày 8/8/1996, Quyết định số 80-TTg ngày 9/4/1999 thành lập
Ban chủ nhiệm chương tr nh mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo. Ban này
ở cấp trung ương do hó Thủ tướng làm chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm thường
trực là Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương inh và Xã hội, một Phó chủ nhiệm
chương tr nh khác là Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn. Các
thành viên khác gồm lãnh đạo các bộ ngành liên quan như Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế… Ngoài ra có sự
tham gia của đại diện Đoàn Chủ tịch Uỷ an trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung
ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Hoạt động của Ban chủ nhiệm chương tr nh mục tiêu quốc gia xoá đói,
giảm nghèo theo qui chế ban hành kèm theo Quyết định số 224/TTg ngày
19/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ. Ban chủ nhiệm có văn phòng tại Bộ
Lao động - Thương inh và Xã hội. Như vậy, cơ quan xoá đói, giảm nghèo
trung ương và cơ chế hoạt động của Chương tr nh đã được từng ước hoàn
thiện, hiệu lực của bộ máy và hiệu quả hoạt động đã được phát huy.
* Các cơ quan nhà nước ở địa phương:
- Sở Lao động - Thương inh và Xã hội là cơ quan Thường trực Ban chỉ
đạo chương tr nh xóa đói giảm nghèo tỉnh, có trách nhiệm chủ trì và phối hợp
với các sở, an ngành liên quan làm tham mưu, đề xuất cho ủy an nhân dân
tỉnh xây dựng kế hoạch hàng năm, tổ chức triển khai, theo dõi, giám sát và
định kỳ áo cáo sơ, tổng kết việc thực hiện chương tr nh. Hướng dẫn thực
hiện một số dự án thuộc ngành cho người nghèo; tổ chức sơ kết, đánh giá
nhân rộng các mô h nh xóa đói giảm nghèo có hiệu quả; đào tạo cán bộ làm


17

công tác xóa đói giảm nghèo; dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người
nghèo.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Cân đối nguồn lực hàng năm cho chương
tr nh xóa đói giảm nghèo (cả trung ương và địa phương); chủ trì, phối hợp với
các sở, an ngành liên quan tham mưu, đề xuất cho ủy an nhân dân tỉnh có
cơ chế, chính sách phù hợp đảm bảo thực hiện có hiệu quả chương tr nh. Chủ
trì thực hiện lồng ghép các chương tr nh, dự án trên địa bàn với chương tr nh
xóa đói giảm nghèo.
- Sở Tài chính: Theo dõi bố trí kinh phí, cấp phát, hướng dẫn và giám sát
chi tiêu tài chính; phối hợp với các sở, an ngành liên quan tham mưu đề xuất ủy
ban nhân dân tỉnh có cơ chế, chính sách phù hợp thực hiện chương tr nh xóa đói
giảm nghèo.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chỉ đạo hướng dẫn thực hiện
một số chính sách, dự án thuộc ngành quản l (hướng dẫn cách làm ăn, đất
sản xuất, khuyến nông, di dân); phối hợp với các sở, ban ngành chỉ đạo đầu tư
các công tr nh cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với
xã nghèo; xây dựng các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nghèo và
xã nghèo phát triển vùng nguyên liệu.
- Sở Thuỷ sản: Phối hợp với các sở, ngành chỉ đạo hướng dẫn xây dựng
các công trình phục vụ phát triển thuỷ sản; chỉ đạo xây dựng các mô h nh xóa
đói giảm nghèo ở các xã nghèo ven biển và hải đảo.
- Ngân hàng Nhà nước tỉnh: Chỉ đạo chi nhánh ngân hàng chính sách xã
hội cung cấp tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách.
- Ban Dân tộc tỉnh: Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ nhà
ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo người dân tộc thiểu số và phối hợp với các sở,


18

ban ngành thực hiện chính sách có liên quan. Chủ trì, phối hợp với các sở, ban
ngành liên quan thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã thuộc chương tr nh 135.
- Sở Xây dựng: Phối hợp với Ban dân tộc chỉ đạo hướng dẫn thực hiện
chính sách hỗ trợ về nhà ở, nước sinh hoạt.
- Sở Y tế: Chỉ đạo, thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế.
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo, thực hiện chính sách về giáo dục
cho học sinh nghèo.
- Sở Nội vụ: Chỉ đạo việc bố trí cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo ở
các cấp.
- Các cơ quan thông tin tuyên truyền: Có trách nhiệm tuyên truyền nâng
cao nhận thức về tầm quan trọng,

nghĩa của chương tr nh xóa đói giảm

nghèo; tuyên truyền các mô hình, các cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả về
xóa đói giảm nghèo; tuyên truyền về kết quả hoạt động của chương tr nh xóa
đói giảm nghèo, thông qua đó nâng cao trách nhiệm về xóa đói giảm nghèo cho
toàn xã hội.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội tăng
cường phối hợp với chính quyền, ban ngành các cấp trong việc tổ chức tuyên
truyền, vận động, giáo dục và thực hiện chương tr nh xóa đói giảm nghèo tại địa
phương.
- Trách nhiệm của địa phương: Huy động nguồn lực và tổ chức thực
hiện các chỉ tiêu của Chương tr nh theo sự chỉ đạo của tỉnh và hướng dẫn
chuyên môn của các sở, ngành. Phân công phân cấp rõ trách nhiệm của từng
cấp và các ban ngành cùng cấp, trong việc tổ chức thực hiện chương tr nh xóa
đói giảm nghèo theo nguyên tắc tăng cường phân cấp cho cơ sở và đề cao tinh
thần trách nhiệm.


19

Chương tr nh xóa đói giảm nghèo cần tiếp tục quán triệt quan điểm chủ
trương và các giải pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo từ tỉnh đến cơ sở, từ
trong nội bộ nhân dân. Trên cơ sở đó, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,
sự chỉ đạo điều hành của chính quyền và sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức đoàn thể các cấp phải xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là
nhiệm vụ trước mắt, trong đó vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng có tính
chất quyết định.
Uỷ ban Nhân dân các cấp tổ chức hội nghị sơ, tổng kết chương tr nh xóa
đói giảm nghèo cấp mình và xây dựng kế hoạch hàng năm về xóa đói giảm
nghèo. Xác định rõ mục tiêu phấn đấu và giải pháp cho từng vùng là các thôn,
bản tổ chức thực hiện.
Ban chỉ đạo Chương tr nh xóa đói giảm nghèo tỉnh tham mưu, đề xuất
cho ủy an nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch để kết hợp chặt chẽ với Mặt trận
Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể thực hiện chương tr nh; với các giải pháp tập
trung, xác định trọng tâm, trọng điểm và đồng bộ theo lộ trình, tiến độ mang
lại hiệu quả cao, không dàn trải. Đồng thời có hướng dẫn cặp nhật hồ sơ theo
dõi việc thực hiện chương tr nh một cách đầy đủ.
*Người thuộc diện đói ngh o
Người thuộc diện đói nghèo họ được xác định là chủ thể chính, có vai trò
đặc biệt quan trọng trong thực hiện pháp luật xóa đói giảm nghèo. Nếu họ
nhận thức đầy đủ nội dung tinh thần của pháp luật nói chung và đối tượng
nghèo nói riêng; nắm bắt đầy dủ hiểu biết về quyền, nghĩa vụ để chủ động
thực hiện, không vi phạm, nắm vững những trình tự thủ tục yêu cầu của các
chủ thể có thẩm quyền thực hiện, biết được giới hạn hành vi được làm, không
được làm, biết sử dụng pháp luật tham gia vào các quan hệ xã hội; có ý thức
tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nỗ lực học tập nâng cao phẩm


20

chất và khả năng làm chủ để có thể tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã
hội, tích cực tham gia vào công cuộc xóa đói giảm nghèo th việc thực hiện
pháp luật về xóa đói giảm nghèo sẽ có hiệu quả cao hơn.
Người thuộc diện nghèo đói được xác định thông qua chuẩn nghèo, dựa
trên tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao
động – Thương inh và Xã hội. Có thể thấy rằng, dù tiếp cận dưới các góc độ
khác nhau nhưng đặc điểm chủ yếu của người thuộc diện đói nghèo ở vùng
dân tộc thiểu số có những đặc điểm cơ ản:
Thứ nhất, người thuộc diện nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số là đối
tượng có thu nhập thấp và cuộc sống luôn thiếu thốn. Thu nhập của họ không
đáp ứng được nhu cầu tố thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc...
Thứ hai, người thuộc diện nghèo đói phải sống trong môi trường không
đảm bảo. Do không có điều kiện tiếp xúc với các dịch vụ chất lượng nên họ là
đối tượng trực tiếp đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi sự biến đổi khí hận và mặt
trái của nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, người thuộc diện đói nghèo thường mang tâm lý tự ti, dè dặt là
đối tượng dễ bị tổn thương. Luôn sống trong tâm trạng gạt ra bên ngoài lề,
không thuộc về xã hội. Họ nghĩ m nh thấp kém trong thang bậc xã hội, cảm
thấy chẳng có quyền hay tiếng nói trong xã hội mà họ đang sống. Do quá vất
vả với cuộc sống mưu sinh, người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số không có cái
nhìn dài hạn mà luôn chọn thái độ sống vì cái hiện tại cái trước mắt là cái ăn,
cái mặc hàng ngày...
* Các tổ chức Đoàn thể, xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc thực
hiện pháp luật về xoá đói, giảm nghèo
Thông qua các tổ chức để vận động làm chuyển biến nhận thức, hành
động đến từng hội viên và nhân dân; huy động nguồn lực, chuyển giao khoa
học công nghệ; hướng dẫn cách làm ăn cho người dân tộc thiểu số, bảo lãnh
trong việc vay vốn, trao đổi kinh nghiệm làm ăn… Đây là một yếu tố quan


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×