Tải bản đầy đủ

Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính lý luận và thực tiễn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ THU TRANG

ĐỀ TÀI
THẨM QUYỀN BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ THU TRANG

ĐỀ TÀI
THẨM QUYỀN BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số: 60380102
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Bích

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Thẩm quyền ban hành quyết định hành
chính – Lý luận và thực tiễn” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN

Tác giả luận văn

HƢỚNG DẪN

TS. Nguyễn Ngọc Bích

Hoàng Thị Thu Trang


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy,
cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, các thầy giáo cô giáo Khoa Sau Đại
học, Khoa Hành chính – Nhà nước, các thầy cô giáo trong bộ môn Luật Hành
chính đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng
như trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sĩ.


Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - Ts. Nguyễn Ngọc
Bích - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân,
nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo của các
thầy cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn học viên để luận văn được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHVBQPPL
QĐHC
QĐHCQP

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Quyết định hành chính
Quyết định hành chính quy phạm

QPPL

Quy phạm pháp luật

UBND

Ủy ban nhân dân

XLVPHC

Xử lý vi phạm hành chính


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN BAN
HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH ....................................................... 9
1.1. Khái quát về quyết định hành chính ...................................................... 9
1.1.1. Khái niệm quyết định hành chính ................................................... 9
1.1.2. Đặc điểm quyết định hành chính .................................................. 13
1.1.3. Vai trò của quyết định hành chính ................................................ 16
1.2. Khái quát về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính ............. 19
1.2.1. Khái niệm thẩm quyền .................................................................. 19
1.2.2. Khái niệm thẩm quyền ban hành quyết định hành chính.............. 22
1.3. Cơ sở xác định thẩm quyền ban hành quyết định hành chính .......... 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 33
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THẨM QUYỀN BAN HÀNH QUYẾT

ĐỊNH HÀNH CHÍNH…………………………………………………...34
2.1. Khái quát các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết
định hành chính ............................................................................................. 34
2.2. Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính theo quy định pháp
luật hiện hành. ............................................................................................... 37
2.2.1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính 38
2.2.2. Các cá nhân có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính ...... 42
2.3. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền ban hành quyết định hành chính ..... 48
2.3.1. Thực trạng thực hiện thẩm quyền ban hành quyết định hành chính ...... 48
2.3.2.1. Các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính chưa hoàn thiện. ................................................................... 59
2.3.2.2 Chế độ trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền chưa được
quy định rõ ràng ...................................................................................... 60
2.3.2.3 Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa được quan tâm đúng mực ......... 61
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 63


CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
ĐÚNG THẨM QUYỀN ................................................................................ 64
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành
quyết định hành chính .................................................................................. 64
3.2. Quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý khi ban hành quyết định hành
chính không đúng thẩm quyền. ................................................................... 65
3.3. Tăng cƣờng công tác kiểm tra giám sát, quản lý nhà nƣớc về hoạt
động ban hành quyết định hành chính đúng thẩm quyền. ....................... 68
3.4. Nâng cao chất lƣợng, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nói chung;
cán bộ, công chức làm công tác liên quan đến việc ban hành quyết định
hành chính nói riêng. .................................................................................... 70
3.5. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng và
nhân dân trong hoạt động ban hành quyết định hành chính ................... 72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các quyết định hành chính đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý
hành chính Nhà nước. Là hình thức chứa đựng các mệnh lệnh điều hành,
quyết định hành chính (hay còn gọi là quyết định hành chính nhà nước) trực
tiếp phản ánh ý chí của Nhà nước, là phương tiện quan trọng được các chủ thể
quản lý sử dụng để tác động tới các tổ chức, cá nhân khi họ tham gia vào quản
lý trong các lĩnh vực xã hội khác nhau. Các quyết định hành chính xác định rõ
quyền và nghĩa vụ cho các đối tượng có liên quan trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước và thông qua các quyết định các cơ quan Nhà nước thực
hiện thẩm quyền của mình trong việc điểu chỉnh, quản lý xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của QĐHC, thời gian qua, cac cơ quan
nhà nước từ trung ương đến địa phương đã rất chú trọng công tác xây dựng và
ban hành QĐHC. Các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính đã tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình ban hành
quyết định hành chính, trong đó có các quy định về thẩm quyền và bảo đảm
chất lượng các QĐHC ở mức cao. Vì vậy các QĐHC đã góp phần ổn định
trật tự quản lí xã hội, đồng thời qua đó cũng tạo được niềm tin của nhân dân
vào pháp luật và đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Từ trước đến nay trong hệ thống pháp luật nước ta chưa có một văn bản
pháp luật quy định tập trung về hoạt động ban hành quyết định hành chính nói
chung và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính nói riêng. Hoạt động
ban hành quyết định hành chính dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật tuân
theo quy định trong các văn bản như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 2004; Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2015. Do thẩm quyền quản lý hành chính liên quan đến tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội nên thẩm quyền ban hành quyết định hành chính (cả
dưới hình thức là văn bản quy phạm pháp luật hay là văn bản áp dụng quy


2

phạm pháp luật) cũng được xác định trên cơ sở các luật tổ chức như: Luật Tổ
chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (nay là
Luật Tổ chức chính quyền địa phương), Luật XLVPHC, Luật Khiếu nại, Luật
Cán bộ, công chức; Luật Bảo vệ môi trường, Luật Quản lý thuế…và các văn
bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
từ trung ương đến địa phương ban hành.
Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính thường được tiếp cận
dưới hai phương diện là thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung. Theo
đó, chỉ có những chủ thể do pháp luật quy định mới có quyền ban hành quyết
định hành chính và mỗi chủ thể chỉ sử dụng một hoặc một số hình thức văn
bản nhất định.
Ban hành quyết định hành chính đúng thẩm quyền là một yêu cầu bắt
buộc vì bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan khác nhau, trong đó có sự
phân công phối hợp hoạt động giữa các cơ quan. Để bộ máy nhà nước hoạt
động hài hòa, hiệu quả thì quyền lực nhà nước phải được tổ chức, thực hiện
sao cho không chồng chéo, lạm quyền, lộng quyền, ngăn ngừa việc lẩn tránh
thẩm quyền hoặc không sử dụng hết quyền lực nhà nước, nhất là trong hoạt
động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đều phải tuân thủ đúng giới hạn
thẩm quyền do pháp luật quy định.
Giai đoạn vừa qua cải cách hành chính đã tác động tích cực đến công tác
ban hành quyết định hành chính nhưng vẫn còn nhiều quyết định hành chính
chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hoặc có vi phạm pháp luật, trong đó có vi
phạm về thẩm quyền
Trong tình hình Quốc Hội đã ban hành Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2015 và Dự thảo Luật Ban hành quyết định hành chính đang
thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà làm luật, nghiên cứu luật cũng như
toàn thể nhân dân trong và ngoài nước đã cho thấy vấn đề về trình tự, thủ tục
ban hành cũng như trách nhiệm của các chủ thể, cơ quan có thẩm quyền ban
hành quyết định hành chính rất được quan tâm và cần phải được nghiên cứu
sâu về quyết định hành chính và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính.


3

Đây là một đòi hỏi mang tính khách quan, tất yếu trong công cuộc cải cách
nền hành chính nhà nước nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quản lý nhà
nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính là một vấn đề cụ thể trong
nội dung lớn là hoạt động ban hành quyết định hành chính. Nên khi nghiên
cứu về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính cần đặt trong mối quan hệ
với các công trình nghiên cứu về quyết định hành chính nói chung hay các
nghiên cứu về thẩm quyền quản lý hành chính và các vấn đề có liên quan
khác. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan tới thực tiễn
quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính đã
được công bố ở các mức độ và phạm vi khác nhau, điển hình như :
- Bài viết “ Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ quyết định : thực tiễn và đổi mới’’
của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt1. Bài viết đã có những phân tích và tác giả
cũng đã đưa ra những ý kiến của bản thân về vấn đề đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ
quyết định nói chung là những phương tiện pháp lý đặc trưng mà những nhà
làm luật sử dụng phổ biến khi quy định thẩm quyền của các cơ quan nhà
nước. Chính vì vậy, tác giả cũng đã đưa ra khái niệm, ý nghĩa, các mối liên hệ
và vấn đề đổi mới, hoàn thiện các quy định nói trên có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cấp bách đối với nhiệm vụ đổi mới pháp luật về thẩm quyền của các cơ
quan nhà nước. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến vấn đề thẩm quyền
đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ quyết định pháp luật nói chung, chưa đi sâu vào thẩm
quyền để ban hành quyết định hành chính.
Bài viết «Quyết định hành chính nhà nước – Một số vấn đề lý luận»
của giáo sư Phạm Hồng Thái2. Bài viết đã phân tích các quan điểm khoa học
của các nhà khoa học trong và ngoài nước, từ những thuật ngữ «Quyết định
hành chính nhà nước » theo Liên Xô, cho đến quan niệm của Cộng hòa Pháp
1

Nguyễn Cửu Việt (1989), Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ quyết định: thực tiễn và đổi mới, Nhà nước và pháp luật,
số 3, tr 27-32
2
Phạm Hồng Thái (2013), Quyết định hành chính nhà nước – Một số vấn đề lý luận, Tạp chí Khoa học, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Luật học, tập 29, số 2, tr. 35-43.


4

về QĐHC và theo góc nhìn quyền lực hành chính nhà nước của GS. TSKH
người Nga – Đ.N. Bakhrắc và đưa ra quan điểm mới về QĐHC nhà nước, các
đặc điểm và hiệu quả của quyết định hành chính nhà nước. Nhưng tác giả mới
chỉ dừng lại ở việc đưa ra những tính chất đặc trưng của quyết định hành
chính nhà nước và hiệu quả của quyết định hành chính nhà nước là dựa vào
chất lượng, công dụng của quyết định. Tác giả nhấn mạnh điều quan trọng và
có ý nghĩa đối với đời sống nhà nước và xã hội là sau khi quyết định hành
chính nhà nước được ban hành thì đời sống và xã hội được thay đổi như thế
nào? trật tự an toàn xã hội, các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức được đảm bảo như thế nào… nhưng bài viết chưa đề cập đến thẩm
quyền để ban hành QĐHC. Do vậy đây là một bài viết có giá trị tham khảo
cho đề tài của luận văn.
- Bài viết “Căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính”
của tiến sĩ Nguyễn Văn Quang3; tác giả bài bài viết đã tiến hành phân tích các
nội dung liên quan đến căn cứ đánh giá tính hợp pháp của QĐHC trong thực
tiễn pháp luật Việt Nam. Trong đó có hợp pháp về nội dung, hợp pháp về thủ
tục. Tác giả cũng chỉ rõ một QĐHC phải được ban hành bởi người có thẩm
quyền thực hiện công việc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình
nhưng không được vượt quá giới hạn cụ thể mà pháp luật đã trao quyền cho
họ… Có thể thấy, tiến sĩ Nguyễn Văn Quang đã đưa ra những ý kiến nhất
định về vấn đề ban hành QĐHC, nhưng bài viết vẫn chỉ dừng lại ở việc nêu
những căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của QĐHC, nghĩa là rất khái quát,
chứ chưa đi sâu vào thẩm quyền để ban hành QĐHC. Do vậy, những nội
dung, thông tin của bài viết là thông tin được tham khảo cho đề tài luận văn.
Sách chuyên khảo “Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành
chính” của tiến sĩ Bùi Thị Đào4. Cuốn sách gồm có 6 chương nghiên cứu và
đề xuất một số giải pháp đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý của QĐHC trong giai
đoạn hiện nay. Đây là công trình giới thiệu, luận giải một cách hệ thống, khoa
3

Nguyên Văn Quang (2013), Căn cứ đánh giá tính hợp pháp của Quyết định hành chính, Tạp chí Luật học,
số 11, tr 26-34
4
Bùi Thị Đào, Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chinh, NXb. Chính trị Quốc gia, 2015


5

học các nội dung về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC. Tính hợp pháp
và tính hợp lý của quyết định hành chính phụ thuộc vào nhiều hoạt động khác
nhau bao gồm cả các hoạt động được thực hiện trong quá trình xây dựng
quyết định như: xác định nhu cầu ban hành quyết định, lấy ý kiến cá nhân, tổ
chức có liên quan, thẩm định dự thảo quyết định; và những hoạt động được
thực hiện sau khi ban hành quyết định như: giám sát, kiểm tra, xử lý quyết
định, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định hành chính. Để đảm
bảo tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, tất cả các hoạt
động nói trên đều phải được pháp luật quy định và được quan tâm một cách
thích đáng trên thực tế. Một số nội dung của cuốn sách có giá trị tham khảo
cho đề tài của luận văn.
Ngoài các sách và các bài viết nêu trên, một số cuốn sách của các nhà
khoa học và tập thể các tác giả đang được sử dụng để giảng dạy tại một số cơ
sở đào tạo như : Giáo trình Luật Hành chính của Trường Đại học Luật Hà
Nội, Giáo trình Luật Hành chính của Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội,
Giáo trình Luật Hành chính của Trường Trung cấp Luật Buôn Mê Thuột… và
nhiều bài viết khác dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau : Bài viết “Vấn
đề bảo đảm ban hành văn bản đúng thẩm quyền trong Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật”5 của tiến sĩ Bùi Thị Đào ; „„Bàn về tính hợp pháp của
quyết định hành chính ” của thạc sĩ Lê Thị Ngọc Mai6, “Bàn về khái niệm
quyết định hành chính” của Vũ Ngọc Dung và Châu Vĩ 7… Tuy nhiên, các
công trình nghiên cứu cũng như các bài viết khoa học vẫn chưa đi sâu vào tìm
hiểu về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính mà mới chỉ giới thiệu về
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung hoặc bàn về tính
hợp pháp của quyết định hành chính hay về thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính của cấp trung ương chứ chưa nói đến thẩm quyền ban hành của
cấp chính quyền địa phương.
5

https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-doanh-nghiep/van-de-bao-dam-ban-hanh-van-ban-dung-thamquyen-trong-luat-ban-hanh-van-ban-quy-pham-phap-luat.aspx
6
Lê Thị Ngọc Mai (2014), Bàn về tính hợp pháp của quyết định hành chính, Dân chủ và Pháp luật, số 268, tr
13-17
7
http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=216


6

Do đó, có thể nhận thấy hiện nay việc nghiên cứu về vấn đề liên quan
đến ban hành quyết định hành chính là chưa nhiều, đặc biệt là về thẩm quyền
ban hành quyết định hành chính. Do đó, việc nghiên cứu về thẩm quyền ban
hành quyết định hành chính cũng như các yêu cầu đặt ra và các giải pháp để
đảm bảo rằng quyết định hành chính ban hành đúng thẩm quyền theo quy
định của pháp luật hiện hành là rất cần thiết và cần được thực hiện sớm.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Quyết định hành chính được sử dụng hết sức phổ biến trong hoạt động
của bộ máy nhà nước với nội dung, hình thức, tính chất khác nhau nhưng để
nội dung nghiên cứu vừa tập trung, vừa bao quát được những đặc trưng cơ
bản của quyết định hành chính, đồng thời có giá trị thiết thực đối với những
hoạt động cần thiết, quan trọng trong quản lý nhà nước, luận văn chỉ nghiên
cứu về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính quy phạm và quyết định
hành chính cá biệt được thể hiện dưới dạng văn bản do các chủ thể trong hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam ban hành.
Mục đích của luận văn là phân tích một số vấn đề lí luận về thẩm quyền
ban hành quyết định hành chính, phân tích về thực trạng ban hành quyết định
hành chính đúng thẩm quyền và tác giả có đưa ra một số giải pháp để nhằm
hoàn thiện về mặt pháp luật cũng như thực tiễn để ban hành quyết định hành
chính đúng thẩm quyền.
Để đạt được mục đích đó, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích, so sánh các quan điểm khác nhau, những vấn
đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận văn
- Đánh giá thực trạng về việc ban hành quyết định hành chính đúng
thẩm quyền từ các quy định của pháp luật cho đến thực tiễn thực hiện.
- Đề xuất các nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
và đảm bảo ban hành quyết định hành chính đúng thẩm quyền ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.


7

4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là góp phần làm rõ cơ sở lý luận về
thẩm quyền ban hành QĐHC; các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban
hành quyết định hành chính, đánh giá các quy định của pháp luật và thực tiễn
thực hiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành QĐHC, qua đó
cũng đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và
bảo đảm QĐHC được ban hành đúng thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn trả lời cho 3 câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:
1. Khái niệm thẩm quyền ban hành quyết định hành chính?
2. Pháp luật quy định như thế nào về thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính?
3. Có những giải pháp nào để đảm bảo QĐHC được ban hành đúng
thẩm quyền?
6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận của Chủ nghĩa Mac - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà
nước và pháp luật, những kiến thức lí luận có tính phổ biến trong khoa học
pháp lý ở trong nước.
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng
trong quá trình thực hiện luận văn bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh.
7. Ý nghĩa khoa khọc và thực tiễn của luận văn
Luận văn có những đóng góp về mặt khoa học như sau:
- Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề thuộc cơ sở lý luận về quyết
định hành chính, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính như khái niệm,
đặc điểm, nội dung.
- Khái quát các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết


8

định hành chính, làm rõ chủ thể có thẩm quyền, văn bản luật quy định từ đó
luận văn nêu một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính.
Những kết quả như trên của luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, của các cá nhân, tổ chức được
nhà nước trao quyền ban hành quyết định hành chính. Luận văn có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở
giáo dục, đại học ngành luật và cho tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Luận văn đã tiến hành phân tích, tìm hiều để làm rõ khái niệm thẩm
quyền và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, từ đó xác định đúng
thẩm quyền của các chủ thể theo quy định của pháp luật
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính
Chương 2: Thực trạng về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính
Chương 3: Giải pháp ban hành quyết định hành chính đúng thẩm quyền.


9

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN BAN HÀNH
QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
1.1. Khái quát về quyết định hành chính
1.1.1. Khái niệm quyết định hành chính
QĐHC là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội,
trong khoa học pháp lý và đặc biệt là trong hoạt động quản lý nhà nước. Là
một nội dung cơ bản của Luật hành chính hiện đại trên thế giới, việc ban hành
các quyết định hành chính thể hiện rõ tính chất quyền uy - phục tùng giữa chủ
thể quản lý (được hiểu là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà
nước trao quyền quản lý hành chính) tác động lên đối tượng quản lý (được
hiểu là cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quản lý
hành chính nhà nước) nhằm đạt được mục đích của hành vi xử sự.
Tuy nhiên, khái niệm QĐHC chưa được hiểu thống nhất. Trong các văn
bản quy phạm pháp luật, trong các sách báo pháp lý thuật ngữ QĐHC được sử
dụng phổ biến nhưng quyết định hành chính do ai ban hành, có nội dung như
thế nào, ban hành nhằm mục đích gì … thì có nhiều cách tiếp cận và cách
hiểu khác nhau. Chính vì vậy, việc làm rõ khái niệm QĐHC cũng như giới
hạn nội hàm của khái niệm này là điều rất cần thiết cho việc xây dựng pháp
luật và thực tiễn hoạt động quản lí hành chính Nhà nước.
Theo khoản 1, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 có quy định
“QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được
giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong
hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số
đối tượng cụ thể”8
Luật Khiếu nại 2011 định nghĩa “QĐHC là văn bản do cơ quan hành
chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
8

Quốc hội (2016), Luật Tố tụng hành chính, Hà Nội.


10

nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối
tượng cụ thể”
Theo hai Luật này quyết định hành chính chỉ là các quyết định được
ban hành để giải quyết một hoặc một số công việc cụ thể phát sinh trong quản
lý hành chính nhà nước, hay nói cách khác đây là các quyết định áp dụng quy
phạm pháp luật. Nếu theo Luật Khiếu nại thì quyết định hành chính chỉ do cơ
quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính ban hành.
Còn theo Luật Tố tụng hành chính thì quyết định hành chính ngoài do cơ quan
hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính ban hành thì còn
do cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước và
người trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Ngoài ra, trong Luật Khiếu nại,
Luật Tố tụng hành chính còn đề cập đến quyết định k luật là quyết định do
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị áp dụng một trong những hình thức
k luật với công chức thuộc quyền quản lý. Quyết định k luật về tính chất
phải được hiểu là một quyết định hành chính vì nó nhằm giải quyết một hoạt
động quản lý trong nội bộ nhà nước hay trong hệ thống chính trị.
Theo Từ điển giải thích từ ngữ luật học thì QĐHC có thể được hiểu
như sau: Là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân
nhà nước được Nhà nước trao quyền, thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành
pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc
thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân
công phụ trách9. Định nghĩa này không đề cập đến tính chất và nội dung của
quyết định hành chính (quy phạm hay áp dụng quy phạm) và phạm vi chủ thể
ban hành quyết định hành chính cũng được xác định là tất cả các cơ quan, tổ
chức, cá nhân “thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính”.
Một định nghĩa về cơ bản giống với định nghĩa trong Từ điển là của
tiến sĩ Bùi Thị Đào: QĐHC là quyết định do các cơ quan, người có thẩm
9

Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích từ ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội


11

quyền, các cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền ban hành theo hình
thức, thủ tục pháp luật quy định, thể hiện ý chí của chủ thể quản lý dưới dạng
các quy phạm pháp luật hay các mệnh lệnh cá biệt giải quyết các công việc cụ
thể phát sinh trong quản lý hành chính, nhằm thực hiện chức năng quản lý
hành chính nhà nước10
Trên cơ sở định nghĩa từ “quyết định” là “định ra, đề ra và dứt khoát
phải làm”11 thì QĐHC có thể được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ viết tức
là bằng hình thức văn bản hoặc thể hiện bằng các hình thức khác như lời nói,
dấu hiệu, kí hiệu với điều kiện cần và đủ của một quyết định là tính bắt buộc
và tính quyền lực nhà nước. QĐHC thể hiện bằng văn bản được sử dụng trong
những trường hợp cần thiết phải thể hiện rõ nét tính quyền lực nhà nước, làm
cơ sở pháp lý để xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong
quan hệ quản lí hành chính, đặc biệt là khi cần duy trì hiệu lực của quyết định
trong thời gian dài hoặc việc tổ chức thực hiện QĐHC cần có nhiều điều kiện
đảm bảo, phản ánh tính khuôn mẫu, tính có căn cứ chắc chắn, tạo nên sự ổn
định của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, QĐHC bằng
hình thức văn bản đòi hỏi phải được ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ,
phải có cơ chế kiểm soát tính đúng đắn và tính có cơ sở của QĐHC. Ở khía
cạnh nhất định, hình thức QĐHC bằng văn bản khó đáp ứng tính nhanh nhạy,
linh hoạt của hoạt động hành chính. Ngược lại, QĐHC có hình thức là các
mệnh lệnh bắt buộc thể hiện bằng ngôn ngữ nói, kí hiệu, dấu hiệu lại được
thực hiện thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, đáp ứng
tính kịp thời, linh hoạt, nhanh chóng của hoạt động hành chính, thể hiện sự
sống động, linh hoạt của hoạt động quản lý. Do vậy, dù QĐHC được thể hiện
dưới dạng văn bản hay dưới dạng ngôn ngữ nói, kí hiệu… thì đều là một dạng
của quyết định pháp luật, thể hiện ý chí quyền lực của Nhà nước, được ban
hành theo một trình tự, thủ tục luật định để nhằm thực hiện chức năng quản lý
hành chính Nhà nước.
10

Bùi Thị Đào ( 2008), Tính hơp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà
Nội, tr .21
11
Nguyễn Như Ý (chủ biên,1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.630


12

Trong dự thảo Luật Ban hành QĐHC có ghi “QĐHC là văn bản áp
dụng pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền được quy định tại khoản 1
Điều 2 Luật này ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm
giải quyết vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước làm
phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, nghĩa vụ, lợi ích của một, một
số đối tượng xác định hoặc nhằm giải quyết một vấn đề liên quan đến lợi ích
cộng đồng, được nhà nước bảo đảm thực hiện”.
Khái niệm QĐHC trong Dự thảo không chỉ thu h p để điều chỉnh một
loại QĐHC duy nhất là QĐHC cá biệt tồn tại dưới hình thức văn bản, mà còn
giới hạn là chỉ do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành được nêu trong
khoản 2 Điều 2 Dự thảo. Theo đó, các cơ quan ban hành QĐHC bao gồm: Bộ
trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, trực thuộc cơ quan ngang Bộ; Ủy ban
nhân dân các cấp; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; thủ trưởng các cơ quan
chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, thủ trưởng cơ
quan, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước.
Như vậy, quy định đã “loại” các QĐHC của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và các cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các
cơ quan, tổ chức đó ban hành. Việc đưa ra khái niệm về QĐHC h p như
trong Dự thảo không chỉ khác với quan điểm và cách hiểu trong khoa học
pháp lý mà còn mâu thuẫn với khái niệm QĐHC trong các văn bản quy
phạm pháp luật khác như Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Khiếu
nại năm 2011…
Do chưa có quy định thống nhất về QĐHC nên vẫn còn có khác biệt
lớn về khái niệm QĐHC được quy định trong các văn bản pháp luật với
QĐHC trong các nghiên cứu khoa học luật hành chính. Các văn bản hiện
hành có quy định về QĐHC như Luật Khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính chỉ
đề cập đên một loại quyết định cụ thể (là QĐHC bị khiếu nại hoặc khiếu kiện)
do vậy không thể khái quát về QĐHC. Trong khoa học Luật hành chính thì
QĐHC thường để chỉ một khái niệm chứ không dừng lại ở việc chỉ tên một


13

loại quyết định trong cơ quan hành chính. Tuy vậy, dù được phát biểu như thế
nào thì khái niệm QĐHC đều được hiểu thống nhất đó là QĐHC thể hiệ ý chí
của chủ thể quản lý hành chính, được ban hành trong hoạt động quản lý hành
chính nhà nước và nhằm phục vụ mục đích quản lý hành chính nhà nước.
Trong quản lý hành chính nhà nước, thông tin quản lý từ chủ thể quản
lý có thể truyền đạt tới đối tượng quản lý thông qua hình thức văn bản hoặc có
thể thông qua lời nói, hành vi nhất định. Nhưng hình thức văn bản cho phép
truyền thông tin chính xác, đầy đủ, toàn v n, mặt khác các thông tin trong
hình thức văn bản có thể lưu giữ lâu dài để phục vụ cho hoạt động quản lý
không chỉ ở thời điểm văn bản đó được ban hành mà nhiều lần sau đó. Nên
quyết định hành chính trong phạm vi luận văn này được hiểu là quyết định
dưới hình thức văn bản.
Vậy, có thể định nghĩa QĐHC là văn bản do các cơ quan, người có
thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước ban hành theo một hình thức, thủ
tục pháp luật quy định, có nội dung là ý chí của chủ thể quản lý dưới dạng
các quy phạm pháp luật hay các mệnh lệnh cá biệt để giải quyết các công việc
phát sinh trong quản lí hành chính nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm quyết định hành chính
Quyết định hành chính có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, QĐHC là hình thức thể hiện quyền lực nhà nước trong quản
lý hành chính hay có thể hiểu QĐHC có tính quyền lực nhà nước. Tính quyền
lực nhà nước trước hết có thể thấy ngay ở tên gọi của quyết định. Mặc dù có
nhiều tên gọi khác nhau để phù hợp với thẩm quyền của chủ thể ban hành và
tính chất công việc cần giải quyết nhưng tên gọi của các quyết định hành
chính thể hiện rõ tính đơn phương từ chủ thể quản lý như quyết định, chỉ thị,
nghị định, nghị quyết, thông tư
Tính quyền lực đơn phương của quyết định thể hiện rõ ở nội dung và
mục đích của quyết định. Các quyết định được ban hành vốn để thực thi
quyền hành pháp trên cơ sở luật và để thi hành luật. Ngoài ra QĐHC luôn thể
hiện tính mệnh lệnh rất cao. Chính vì vậy, quyền lực nhà nước còn thể hiện ở


14

tính đảm bảo thi hành của quyết định. Về nguyên tắc mọi quyết định pháp luật
nói chung đều được thi hành, kể cả những quyết định có sự phản kháng từ
phía đối tượng bị quản lý. Có nghĩa là quyết định sẽ được Nhà nước đảm bảo
thi hành bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần thiết.
Thứ hai, QĐHC do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm
quyền ban hành. Theo quy định của pháp luật, chủ thể ban hành QĐHC rất
rộng, không chỉ bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước mà các cơ quan
nhà nước, như cơ quan quyền lực, Chủ tịch nước,Tòa án nhân dân, Viện Kiểm
sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch
nước … và các cá nhân có thẩm quyền cũng có thể ban hành QĐHC. Các chủ
thể có thẩm quyền ban hành QĐHC rất rộng và thâm quyền của mỗi chủ thể
được pháp luật quy định khác nhau nhưng đều có một dấu hiệu chung là chủ
thể đó ban hành quyết định để thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính và
nhằm hoàn thành nhiemj vụ quản lý hành chính mà pháp luật đã quy định.
Thông qua thẩm quyền ban hành QĐHC có thể đánh giá được thẩm quyền
của một cơ quan hoặc cá nhân trong quản lý hành chính.
Trong các chủ thể có thẩm quyền quản lý hành chính thì các cơ quan
hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước là nhóm chủ thể quan trọng và chủ yếu nhất. QĐHC của cơ quan hành
chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính phản ánh yêu cầu và
thực tiễn quản lý sinh động và toàn diện nhất.
Thẩm quyền ban hành QĐHC được pháp luật quy định không chỉ về
hình thức (tên gọi, loại văn bản) mà cả nội dung của quyết định. Do vậy để
xác định thẩm quyền ban hành QĐHC phải dựa vào các vắn bản quy phạm
pháp luật quy định chung về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản pháp luật
như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.. cho đến các văn bản quy
phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Khiếu nại, Luật An toàn thực phẩm,
Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản quy
phạm pháp luật khác
Thứ ba, QĐHC được ban hành để thể hiện ý chí của chủ thể quản lý


15

trước một tình huống quản lý hoặc một nhiệm vụ mà chủ thể đó phải thực
hiện. Nếu đó là tình huống cụ thể với các cá nhân, tổ chức xác định thì cần
ban hành quyết định cá biệt còn nếu đó là vấn đề có tính phổ biến, lặp đi lặp
lại trong quản lý thì cần ban hành văn bản có tính quy phạm hoặc sửa đổi, bổ
sung các quy định hiện hành nhưng không còn phù hợp. Quản lý hành chính
vừa là căn cứ vừa là mục đích ban hành quyết định hành chính, nói cách khác
ban hành quyết định hành chính xuất phát từ yêu cầu của quản lý hành chính
và nhằm phục vụ hoạt động quản lý hành chính.
Thứ tư, nội dung của QĐHC là những chủ trương, đường lối, nhiệm vụ
lớn có tính chất định hướng; hoặc các quyết định, các mệnh lệnh quản lý hành
chính cụ thể. Do được ban hành trên cơ sở và để phục vụ quản lý hành chính
nhà nước nên nội dung của quyết định hành chính thể hiện ý chí của chủ thể
quản lý trước các nhiệm vụ mà quản lý hành chính phải hoàn thành.
Quản lý hành chính là hoạt động được tiến hành chủ động, có kế hoạch
trước vì thế một trong những nội dung của quyết định hành chính là các chủ
trương, các đường lối, các kế hoạch hay nhiệm vụ quản lý hành chính lớn cho
cả nước, cho một ngành, lĩnh vực chuyên môn hoặc một địa phương. Quyết
định hành chính có thể vạch ra nhiệm vụ, kế hoạch quản lý từng năm, 5 năm
hoặc 10, 20 năm.
Mặc dù, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật không phải
là chức năng của quản lý hành chính nhưng các quyết định hành chính quy
phạm đã góp phần bổ khuyết cho hoạt động lập pháp của Quốc hội và đáp
ứng được nhu cầu quản lý bằng pháp luật. Các quyết định mà nội dung là các
mệnh lệnh hay các quyết định quản lý cụ thể chiếm số lượng nhiều nhất trong
số các quyết định hành chính và được ban hành hàng ngày bởi các chủ thể
quản lý ở trung ương, ở địa phương, bởi các cơ quan quản lý chuyên ngành
hay cơ quan quản lý theo lãnh thổ. Các quyết định hành chính này trực tiếp
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể để
giải quyết các vụ việc quản lý cụ thể. Bất kể là quyết định có nội dung là chủ
trương, đường lối hay các quy phạm pháp luật hoặc các quyết định, mệnh


16

lệnh quản lý cụ thể thì nội dung của QĐHC hết sức phong phú, xuất phát từ
nhu cầu quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực, các mặt của đời sống
xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..
1.1.3. Vai trò của quyết định hành chính
Vai trò của quyết định hành chính thể hiện ở những góc độ sau:
Thứ nhất, QĐHC đưa ra chủ trương lớn trong lĩnh vực quản lý hành
chính. Cơ quan lập pháp chỉ có thể ban hành các quyết định tập trung vào việc
điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định. Do đó không có điều kiện ban hành
đầy đủ mọi quyết định điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống. Mặt khác, cơ quan lập pháp không thể giải quyết tốt vấn đề
chuyên môn đồng thời thực tế xã hội cần bởi thực tế luôn biến động không
ngừng do vậy cần có sự nhanh nhạy của Nhà nước để tạo môi trường pháp lý
thích hợp cho các quan hệ xã hội phát triển hay hạn chế những biểu hiện tiêu
cực trong cuộc sống. Điều này khó tìm thấy ở các hoạt động lập pháp nhưng lại
dễ tìm thấy ở các hoạt động quản lý hành chính.
Ví dụ: Nghị quyết 30c/NQ-CP ban hành chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 để sau khi Nghị quyết này được
ban hành là tiền đề một loạt những QĐHC được thực hiện như Quyết định số
442/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ;
Quyết định số 1294/QĐ-BNV ngày 03/12/2012 phê duyệt Đề án xác định Chỉ
số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Các quyết định hành chính này mang
tính định hướng cao, là cơ sở để dựa vào đó thực hiện các hoạt động quản lý
hành chính nhà nước và nó có phạm vi điều chỉnh rộng lớn.
Trong thực tiễn, rõ ràng cũng có những quy định lập pháp chỉ điều
chỉnh ở mức độ chung chung, trong khi đó hành pháp thì cần cụ thể linh hoạt
để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh hoạt động lập
pháp bao giờ cũng tồn tại hoạt động lập quy để đảm bảo các nhu cầu về ổn
định, sự mềm dẻo, sự linh hoạt trong các quan hệ xã hội.
Thứ hai, QĐHC hướng dẫn thi hành luật, cụ thể hóa,chi tiết hóa luật,


17

thể chế , đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng. QĐHC được sử dụng
để cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của pháp luật (Luật, Pháp lệnh, Nghị
quyết của cơ quan quyền lực nhà nước; quyết định của cơ quan nhà nước cấp
trên) đặc biệt là để cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực
hành chính, là phương tiện đảm bảo, bảo vệ các quyền con người, quyền công
dân được ghi nhận trong Hiến pháp bằng con đường hành chính. Trong thực
tiễn, ta thấy nhiều Luật, Pháp lệnh và các văn bản QPPL khác mới chỉ dừng
lại ở việc quy định các vấn đề còn khá chung chung, không thể thực hiện
được ngay mà đòi hỏi phải chi tiết hóa, cụ thể hóa. Mặt khác, về mặt khách
quan, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cao nhất thường điều chỉnh những
quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất sau Hiến pháp đối với những
quan hệ xã hội nhất định. Các văn bản đó dù có cụ thể đến đâu cũng không
thể điều chỉnh một cách chi tiết và đầy đủ tất cả các quan hệ xã hội. Do đó,
đòi hỏi phải ban hành QĐHC để quy định chi tiết việc thi hành.
Các văn bản này nhằm mục đích tạo ra một hành lang pháp lý để các
chủ thể pháp luật hành chính thực hiện được các quyền cũng như nghĩa vụ
của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Có thể lấy ví dụ như ,
khoản 4, Điều 82 Luật Cán bộ, công chức quy định “Cán bộ, công chức bị kỷ
luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo,
quản lý”12. Như vậy, nếu cá nhân là cán bộ, công chức bị k luật với hình
thức là cách chức thì sẽ không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý nữa,
sẽ bị tước đi một phần quyền và nghĩa vụ của mình.
Vai trò của QĐHC nhằm hướng đến việc cho các chủ thể pháp luật
hành chính thực hiện được những quyền và nghĩa vụ của đời sống xã hội, nhờ
có quyết định này mà pháp luật được thực thi. Nó trực tiếp làm phát sịnh thay
đổi, chấm dứt quan hệ hành chính cụ thể. QĐHC được ban hành nhằm mục
đích hướng đến việc các chủ thể pháp luật hành chính thực hiện được các
quyền cũng như nghĩa vụ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy,
12

Quốc hội (2008), Luật Cán bộ, công chức, Hà Nội


18

quyết định sẽ trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ
pháp luật hành chính cụ thể. Tạo nền tảng, cơ sở của sự điều chỉnh pháp luật
đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Đó chính là cơ sở cho việc ban hành các QĐHC để giải quyết
những việc cụ thể phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước như
điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, k luật, tuyển dụng cán bộ,
công chức….
Thứ ba, QĐHC đặt ra những quy tắc xử sự để điều chỉnh các mối quan
hệ phát sinh trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước. Có nhiều QĐHC
góp phần thúc đẩy các cơ quan hành chính tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ
máy, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu suất làm việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao, tiết kiệm kinh phí, tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật,
từng bước hiện đại hóa công nghệ quản lý, giúp các tổ chức chủ động sáng
tạo trong thực hiện nhiệm vụ… Ví dụ như Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy
định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập,
Thứ tư, QĐHC có vai trò trong việc tổ chức và điều hành hoạt động của
bộ máy hành chính. Bộ máy hành chính là một bộ phận cấu thành của bộ máy
Nhà nước, nhưng cũng có tính độc lập tương đối về tổ chức và hoạt động.
Điều này được thể hiện thông qua một số QĐHC quy định về cơ cấu, tổ chức
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Ngoài ra, QĐHC là cơ sở pháp lý để xác định địa vị pháp lý của các
CQHCNN (Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp..). Đồng thời là cơ sở pháp lý thực
hiện các nhiệm vụ, chức năng hành chính nhà nước đảm bảo pháp chế và k
luật hành chính, tạo ra hành lang pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động
điều hành cụ thể của các CQHCNN và các đơn vị, tổ chức trực thuộc. Chẳng
hạn, các Nghị định của Chính phủ quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn
của Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND, các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành mà
Luật hay Pháp lệnh chưa quy định, chưa điều chỉnh. Các văn bản pháp quy


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×