Tải bản đầy đủ

Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật lào và việt nam dưới góc độ so sánh

BỘGIÁO
GIÁODỤC
DỤCVÀ
VÀĐÀO
ĐÀOTẠO
TẠO
BỘ
BỘ
GIÁO
DỤC

ĐÀO
TẠO

BỘTƢ
TƢPHÁP
PHÁP
BỘ
BỘ

PHÁP


TRƢỜNGĐẠI
ĐẠIHỌC
HỌCLUẬT
LUẬTHÀ
HÀNỘI
NỘI
TRƢỜNG
TRƢỜNG
ĐẠI
HỌC
LUẬT

NỘI

HEUANGSUCKSOMVONG
SOMVONG
HEUANGSUCK

QUYỀNTỰ
TỰDO
DOHỢP
HỢPĐỒNG
ĐỒNGTRONG
TRONGLĨNH
LĨNHVỰC
VỰCTHƢƠNG
THƢƠNG
QUYỀN
QUYỀN
TỰ
DO
HỢP
ĐỒNG
TRONG
LĨNH
VỰC
THƢƠNG
MẠITHEO
THEOPHÁP


PHÁPLUẬT
LUẬTLÀO
LÀOVÀ
VÀVIỆT
VIỆTNAM
NAMDƢỚI
DƢỚI
MẠI
MẠI
THEO
PHÁP
LUẬT
LÀO

VIỆT
NAM
DƢỚI
GÓCĐỘ
ĐỘSO
SOSÁNH
SÁNH
GÓC
GÓC
ĐỘ
SO
SÁNH

LUẬNVĂN
VĂNTHẠC
THẠCSĨ
SĨLUẬT
LUẬTHỌC
HỌC
LUẬN
Chuyên
Chuyên ngành
ngành

:: Luật
Luật Kinh
Kinh tế
tế


Mã số
số

:: 60380107
60380107

Ngƣời
Ngƣời hƣớng
hƣớng dẫn
dẫn khoa
khoa học:
học: TS.
TS. VŨ
VŨ ĐẶNG
ĐẶNG HẢI
HẢI YẾN
YẾN



NỘI
2017
HÀNỘI
NỘI---2017
2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HEUANGSUCK SOMVONG

QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG
MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƢỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Heuangsuck SOMVONG


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHDCND

: Cộng hòa dân chủ nhân dân

CHXHCN

: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

TDHĐ

: Tự do hợp đồng

TDKD

: Tự do kinh doanh

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG
TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI .................................................................... 5

1.1. Hợp đồng thƣơng mại và quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực
thƣơng mại ................................................................................................... 5
1.1.1. Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại.............................................. 5
1.1.2. Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ......................... 7
1.1.3. Nội dung quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại .......... 9
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong lĩnh
vực thƣơng mại .......................................................................................... 16
1.3. Các yếu tố chi phối quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng
mại .............................................................................................................. 18
1.3.1. Sự chi phối của chế độ sở hữu đối với tài sản và tư liệu sản xuất
đến quyền tự do hợp đồng ....................................................................... 18
1.3.2. Sự chi phối của cơ chế quản lý kinh tế đến quyền tự do hợp
đồng ........................................................................................................ 20
1.3.3. Sự chi phối của hội nhập quốc tế đến quyền tự do hợp đồng ....... 22
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .................................................................................... 23

Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG
LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƢỚI GÓC
ĐỘ SO SÁNH .................................................................................................... 25

2.1. Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng mại theo quy định
pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam dƣới góc độ so sánh .......... 25
2.1.1. Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và
Việt Nam về quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng ................. 25
2.1.2. Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và
Việt Nam về quyền thỏa thuận nội dung của hợp đồng .......................... 35


2.1.3. Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và
Việt Nam về quyền lựa chọn hình thức hợp đồng .................................. 39
2.1.4. Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật Lào và
Việt Nam về quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng ......................................................................................................... 44
2.2. Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh quyền tự do hợp đồng theo
quy định của pháp luật Lào và Việt Nam ............................................... 50
2.2.1. Một số thành tựu, bất cập và hạn chế về quyền tự do hợp đồng
theo quy định của pháp luật Lào ............................................................. 50
2.2.2. Một số thành tựu, bất cập và hạn chế về quyền tự do hợp đồng
theo quy định của pháp luật Việt Nam.................................................... 55
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .................................................................................... 63

Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LÀO VÀ
VIỆT NAM VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI 65

3.1. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự
do hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng mại ................................................. 65
3.1.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự do hợp đồng
trong lĩnh vực thương mại ....................................................................... 65
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về quyền tự do hợp đồng trong
lĩnh vực thương mại ................................................................................ 68
3.2. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng mại ................................. 76
3.2.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do hợp
đồng trong lĩnh vực thương mại .............................................................. 76
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do hợp đồng
trong lĩnh vực thương mại ....................................................................... 78
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 .................................................................................... 86

KẾT LUẬN ....................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 90


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống các văn bản về hợp đồng của nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào về cơ bản đã được xây dựng và
hoàn thiện theo hướng ngày càng bảo đảm quyền tự do hợp đồng (TDHĐ) góp
phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng
còn bộc lộ những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ quyền TDHĐ. Trong khi đó,
nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập mọi mặt kinh tế - xã hội, cùng với sự
phát triển các giao dịch với quy mô ngày càng mở rộng và tính chất phức tạp, đa
dạng đã và đang đòi hỏi sự mở rộng, thông thoáng hơn nữa về quyền TDHĐ.
Dưới sức ép mạnh mẽ của tự do thương mại và toàn cầu hóa, pháp luật về
hợp đồng của Lào tuy đang được hoàn thiện nhưng vẫn còn sự ảnh hưởng của cơ
chế cũ. Những quy định còn can thiệp sâu và quyền tự do khế ước vừa không bảo
vệ được trật tự công đôi khi còn làm cho doanh nghiệp rơi vào thế yếu và người
tiêu dùng bị thiệt thòi trước các hành vi kinh doanh thiếu bình đẳng, lợi dụng vị
thế thị trường gây thiệt hại cho đối tác. Việc bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng
của bên có vị thế yếu trước các hành vi lạm dụng quyền TDHĐ của bên có thế
mạnh trong quan hệ hợp đồng chưa được pháp luật điều chỉnh một cách cụ thể.
Chình vì vậy, nghiên cứu để tìm giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng
về quyền TDHĐ là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Xuất phát từ những nhận thức đó, là một lưu học sinh người Lào đang học
tập, nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu pháp luật hợp
đồng nói chung, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng của Việt Nam,
sẽ góp phần tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào. Chính vì thế, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật
Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền TDHĐ là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
thuộc các lĩnh vực khác nhau. Trong đó, ở Việt Nam, những năm qua đã có một
số công trình, bài nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề này như: sách “Chế


2

định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh
(2007), NXB Tư pháp, Hà Nội; “Pháp luật về hợp đồng” của Tiến Sĩ Nguyễn
Mạnh Bách năm 1995; “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam” của
PGS.TS Dương Đăng Huệ năm 2002; “Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay
không tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh năm 2005; “Điều kiện thương mại
chung và nguyên tắc tự do khế ước” của PGS.TS Nguyễn Như Phát năm 2003;
“Quyền tự do giao kết hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, luận
án Tiễn sĩ luật học năm 2006 của Phạm Hoàng Giang; “Điều chỉnh thông tin bất
cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam” của PGS.TS
Phạm Duy Nghĩa năm 2003; “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi pháp
luật Việt Nam về hợp đồng năm 2004 và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nhìn
từ quyền tự do hợp đồng” của Tiến sĩ Nguyễn Am Hiểu năm 2004; Luận án Tiến
sĩ “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của Lê
Thị Bích Thọ năm 2002; “Những điểm mới cơ bản về hợp đồng trong BLDS
năm 2005” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đăng trên tạp chí Kiểm sát số
01/2006; “Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong BLDS năm
2005”, luận văn Thạc sỹ luật học năm 2006 của Trần Hải Hưng; “Pháp luật
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”,
Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Vũ Hoàng (2008) .
Tuy nhiên, do nội dung nghiên cứu của các công trình đặt ra khác nhau
nên các tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh cụ thể của chế định
hợp đồng và chưa nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về nội quyền TDHĐ
trên khía cạnh so sánh pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Tuy vậy, các công trình nói trên là những tài liệu rất quý giá cho tác giả tham
khảo, phục vụ việc nghiên cứu của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung
về TDHĐ; những quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ
trong lĩnh vực thương mại trong mối tương quan so sánh; những bài học kinh
nghiệm rút ra từ việc so sánh pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ
trong lĩnh vực thương mại cũng như những kiến nghị hoàn thiện pháp luật


3

nước CHDCND Lào và pháp luật nước CHXHCN Việt Nam về quyền TDHĐ
trong lĩnh vực thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của quyền
tự do giao kết hợp đồng dân sự, quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về
quyền TDHĐ bao gồm những nội dung liên quan đến tự do giao kết hợp
đồng như: Khái niệm; điều kiện; các khía cạnh cũng như những trường hợp
ngoại lệ của quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự, trên cơ sở đó đưa ra
những kiến nghị và hoàn thiện chế định về tự do giao kết hợp đồng ở Lào.
4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn này nhằm để có cái nhìn tổng quan
và cụ thể hơn về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Lào
trên cơ sở nghiên cứu so sánh pháp luật của Việt Nam, nhận diện những mặt
tiến bộ và phù hợp của pháp luật Lào để tiếp tục duy trì và phát huy, đồng
thời kiến nghị, đề xuất các điểm mới tiến bộ theo pháp luật Việt Nam và vận
dụng một cách phù hợp trong điều kiện pháp luật Lào hiện nay.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu của luận văn các câu hỏi nghiên cứu của luận
văn được xác định như sau:
- Quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại là gì?
- Quy định của pháp luật Lào về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương
mại có gì giống với quy định của pháp luật Việt Nam?
- Quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh
vực thương mại khác nhau ở những điểm nào?
- Tại sao chế định quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại giữa pháp
luật hai nước có sự giống và khác nhau đó?
- Từ việc so sánh điểm giống và khác nhau trong các quy định về quyền
TDHĐ, có thể rút ra những thành tựu và hạn chế nào trong các quy định của
pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại?
- Việc hoàn thiện pháp luật Lào và Việt Nam về quyền TDHĐ trong
lĩnh vực thương mại phải dựa trên những phương hướng nào?


4

6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng macxit và quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước nước CHDCND Lào; quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN
Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN), quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã s dụng các phương pháp cụ
thể như: Phân tích; chứng minh; so sánh, diễn giải, quy nạp; tổng hợp,
phương pháp lịch s ; thống kê v.v

Trong đó, nhấn mạnh đến việc s dụng

phương so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định
của pháp luật hiện hành hai nước về quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, phát triển những
vấn đề lý luận về quyền TDHĐ nói chung, quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương
mại nói riêng cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học, cơ sở thực
tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại ở
nước CHDCND Lào, cũng như ở nước CHXHCN Việt Nam.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn được s dụng làm tài
liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học về quyền TDHĐ nói chung, quyền
TDHĐ trong lĩnh vực thương mại nói riêng ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo
có liên quan ở nước CHDCND Lào, cũng như nước CHXHCN Việt Nam.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bố
cục của luận văn được chia làm 3 chương sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do hợp đồng trong
lĩnh vực thương mại.
- Chương 2: Thực trạng quy định về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh
vực thương mại theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào và
Việt Nam về quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại.


5

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP
ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI
1.1. Hợp đồng thƣơng mại và quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực
thƣơng mại
1.1.1. Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Lĩnh vực thương mại có những đặc thù, nên trong hệ thống pháp luật
của nhiều nước có sự phân biệt giữa hành vi thương mại với các hành vi dân
sự khác, nhất là ở những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Vì
thế, các nước đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
thương mại, như: Bộ luật Thương mại của Pháp năm 1807, Bộ luật Thương
mại của Đức năm 1887, Bộ luật Thương mại Nhật Bản năm 1899

Các nước

theo hệ thống pháp luật án lệ có truyền thống không phân biệt rõ ràng hành vi
thương mại và dân sự. Nhưng về sau, do nhu cầu điều chỉnh các quan hệ
thương mại phát triển, truyền thống này cũng bị phá vỡ. Năm 1958 Hoa Kỳ
ban hành Bộ luật Thương mại thống nhất; Vương quốc Anh ban hành Luật
Bán hàng năm 1979,

1

Sự ra đời của luật thương mại để điều chỉnh các hành vi thương mại và
xác định quy chế của thương nhân. Để lưu thông hàng hóa nhanh chóng, các quy
định của luật thương mại các nước đã quy định thương nhân có quyền TDHĐ để
giao kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng, giải quyết tranh chấp một cách nhanh
chóng, đơn giản nhất. Ngoài ra, các hành vi thương mại là các hành vi có mục
đích kinh doanh kiếm lời, có chứa đựng yếu tố rủi ro, cho nên thường xuyên có
xu hướng gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, quyền lợi của bên thứ ba2. Do đó,
pháp luật thương mại cũng cần có những quy định để bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng và các đối tượng khách hàng khác, bảo đảm trật tự công cộng.
Theo pháp luật của các nước, có nhiều cách trình bày khái niệm về
hành vi thương mại:
1

Phạm Hoàng Giang (2007), Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.10
2
Tlđđ, tr.10.


6

Bộ luật Thương mại của Pháp năm 1807 không đưa ra định nghĩa thế
nào là hành vi thương mại, mà từ Điều 623 trở đi, Bộ luật đã liệt kê những
hành vi được coi là hành vi thương mại gồm ba nhóm: (i) Nhóm các hành vi
thương mại bản chất; (ii) Nhóm các hành vi thương mại hình thức; (iii) Nhóm
các hành vi thương mại phụ thuộc. Ngoài ra, nó còn bao gồm các hoạt động
khác nếu các hoạt động này được thực hiện bởi các thương nhân nhằm mục
đích phục vụ cho nhu cầu kinh doanh thương mại của thương nhân.
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu, hành vi thương mại được pháp luật điều
chỉnh có nội hàm hẹp hơn khái niệm kinh doanh và khái niệm thương mại mà
pháp luật các nước trên thế giới đề cập. Theo Luật Thương mại năm 1997,
hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại.
Theo quy định của Điều 45 Luật Thương mại năm 1997 chỉ điều chỉnh 14
hành vi thương mại gồm: Mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi
giới thương mại, ủy thác, đại lý mua bán hàng hóa, gia công trong thương
mại, đấu giá, đấu thầu, dịch vụ giao thầu, giám định hàng hóa, khuyến mại,
quảng cáo thương mại, trưng bầy, giới thiệu hàng hóa, hội trợ, triển lãm
thương mại. Ngoài việc bị giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với một số hành vi
thương mại, phạm vi áp dụng Luật Thương mại năm 1997 còn bị giới hạn bởi
nội hàm của khái niệm hàng hóa. Hàng hóa theo Luật Thương mại năm 1997
chỉ bao gồm: Máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu
dùng, các động sản được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh
dưới hình thức cho thuê, mua, bán (khoản 5 Điều 3). Các tài sản khác theo Bộ
luật Dân sự năm 1995 không được coi là hàng hóa, như quyền s dụng đất, cổ
phiếu và các giấy tờ có giá khác, các quyền tài sản,

Những hạn chế trên của

Luật Thương mại năm 1997 đã dẫn đến những bất cập của pháp luật thương
mại Việt Nam so với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế3.
Nhằm khắc phục những bất cập trên, Luật Thương mại năm 2005 đã
mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi thương mại theo nghĩa rộng
hơn. Khoản 1 Điều 3 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm

3

Tlđđ,tr.12.


7

mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Ở nước CHDCND Lào, do còn nhiều hạn chế về kỹ thuật lập pháp mà
cho đến nay vẫn chưa ban hành Luật Thương mại cũng như Bộ luật Dân sự
nhằm điều chỉnh các hành vi thương mại. Tuy nhiên, dựa vào quy định về hợp
đồng của Luật Hợp đồng và x lý vi phạm hợp đồng năm 2008: “Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ dân sự nhất định” (Điều 8) và quy
định về bản chất của hợp đồng: “Hợp đồng được quy định trong Luật này là
hợp đồng dân sự và sẽ trở thành hợp đồng thương mại nếu chủ thể tham gia
hợp đồng đó có mục đích kinh doanh” (đoạn 4 Điều 9) có thể đưa ra định
nghĩa chung về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như sau:
Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương
nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương
nhân trong việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hoạt động thương mại. Trong lĩnh vực thương mại, hình thức pháp
lý của hành vi thương mại chính là hợp đồng thương mại.
1.1.2. Quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Mặc dù quy định pháp luật về hợp đồng ra đời rất sớm trong lĩnh vực
luật tư từ thời La Mã cổ đại, nhưng nền tảng lý luận về quyền TDHĐ bắt
nguồn từ thuyết tự do ý chí lại ra đời sau đó. Thuyết tự do ý chí xuất hiện từ
thế kỷ thứ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của trào lưu triết học
ánh sáng. Nội dung của thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng, ý chí tự
chủ của một con người là tối thượng và tự chủ4. Chỉ các hành vi xuất phát từ ý
chí tự chủ của một con người mới có hiệu lực ràng buộc theo cách mà người
đó muốn. Một hợp đồng chỉ được coi là công bằng khi các bên được tự do thể
hiện ý chí của mình. Mỗi bên tham gia hợp đồng nhằm thỏa mãn những lợi
ích riêng của mình (có thể là lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể) trong phạm vi
phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Do đó với bản chất được xác lập trên cơ
sở thỏa thuận, phải được coi là kết quả của sự thống nhất ý chí một cách tự
4

Tlđđ, tr.21.


8

nguyện của các bên, là cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý
giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Theo nguyên tắc tự do ý chí, để bảo
đảm công bằng trong quan hệ hợp đồng, bảo đảm lợi ích của các bên như họ
mong muốn, ý chí của các bên phải được thể hiện một cách độc lập, xuất phát
từ động cơ và lợi ích của họ, do họ tự do quyết định, chứ không phụ thuộc
vào yếu tố bên ngoài, không phụ thuộc vào pháp luật. Ý chí của các bên được
thể hiện thông qua các hành vi pháp lý của họ, nhất là thông qua hợp đồng.
Nguyên tắc tự do ý chí đưa đến một hệ quả pháp lý là hợp đồng khi đã được
các bên ký kết, sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên.
Theo thuyết tự do ý chí dẫn đến quyền TDHĐ, được thể hiện cụ thể ở
những điểm sau:
Thứ nhất, hợp đồng phải là kết quả của sự tự nguyện thỏa thuận, là sự
thể hiện ý chí đích thực của các bên.
Thứ hai, các bên tự do xác định nội dung của hợp đồng, tự do thỏa
thuận các điều khoản của hợp đồng. Các quy định về trật tự công cộng chỉ
được áp dụng trong trường hợp ngoại lệ đặc biệt.
Thứ ba, chỉ cần các bên thỏa thuận với nhau là coi như hợp đồng đã
được ký kết. Việc thể hiện thỏa thuận dưới một hình thức nhất định không
phải là yếu tố quan trọng. Thường là thỏa thuận thể hiện ý chí chung có thể
được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào.
Thứ tư, các bên có quyền tự do quyết định việc giải quyết bất đồng khi
có tranh chấp phát sinh.
Thuyết tự do ý chí còn dẫn đến hiệu lực của hợp đồng. Nguyên tắc tự
do ý chí trong thuyết tự do ý chí dẫn đến hiệu lực bắt buộc của hợp đồng. Khi
hợp đồng được giao kết thì nó có giá trị bắt buộc thực hiện như quy định của
pháp luật đối với các bên. Bởi vì đó là mong muốn của các bên. Các bên phải
chịu trách nhiệm về cam kết của mình. Để bảo đảm công bằng và công lý, các
bên phải tôn trọng và chịu trách nhiệm về tuyên bố ý chí của mình và thực
hiện các nghĩa vụ cam kết, không được đơn phương rút khỏi hợp đồng, không
được bội ước. Việc thay đổi, bổ sung hợp đồng chỉ có thể thực hiện bởi sự
thỏa thuận của các chủ thể mà không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của


9

họ, cũng như không có quyền thay đổi ý chí của họ. Hợp đồng có hiệu lực bắt
buộc ngay với cả đối với cơ quan công quyền, nghĩa là khi xét x , giải thích
hợp đồng, Tòa án phải tôn trọng ý chí của các bên, không được s a đổi, giải
thích nội dung hợp đồng khác với ý chí, nội dung giai kết của các bên5.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội, các quyền tự do
dân chủ của con người được đề cao một cách tuyệt đối, như quyền sở hữu cá
nhân, tự do thương mại, tự do cạnh tranh, TDHĐ,

Những nguyên lý pháp

luật này được ra đời dựa trên cơ sở nền tảng của lý thuyết về tự do ý chí.
Qua các nội dung trên cho thấy, thuyết tự do ý chí là cơ sở lý luận quan
trọng cho sự ra đời của pháp luật hợp đồng hiện đại, qua việc đề cao quyền tự
do ý chí, TDHĐ (tự do khế ước) của các bên.
Vậy phải hiểu thế nào là quyền TDHĐ nói chung và quyền TDHĐ
trong lĩnh vực thương mại nói riêng? Theo cách hiểu thông thường thì:
Quyền TDHĐ: Là quyền của các chủ thể được thể hiện ở các khía cạnh
sau đây: (i) Quyền được tự do bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng, (ii)
Quyền được tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng; (iii) Quyền được tự do
thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng; (iv) Quyền được tự do thỏa thuận thay
đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện; (v) Quyền được tự do thỏa
thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng; (iv) Quyền được tự do
thỏa thuận cơ quan tài phán và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng”.
Với tư cách là một loại hợp đồng cụ thể trong hợp đồng dân sự nên
quyền TDHĐ trong lĩnh vực thương mại cũng được định nghĩa tương tự.
1.1.3. Nội dung quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại
Từ nghiên cứu về pháp luật hợp đồng cho thấy quyền TDHĐ trong lĩnh
vực thương mại thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau, thông qua các nội
dung cơ bản sau: (i) Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng; (ii)
Quyền thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên trong
hợp đồng; (iii) Quyền lựa chọn hình thức hợp đồng và (iv) Quyền tự do quyết
định việc giải quyết tranh chấp hợp đồng.

5

Tlđđ, tr.22.


10

1.1.3.1. Quyền lựa chọn đối tác và đối tượng hợp đồng
Ngày nay, pháp luật hợp đồng quy định quyền TDHĐ với ý nghĩa là
nguyên tắc cơ bản được quy định và bảo đảm thực hiện trong các văn bản
pháp luật quan trọng của mỗi quốc gia như: Bộ luật dân sự (Luật dân sự),
Luật hợp đồng hay Luật thương mại. Theo đó, nguyên tắc tự do lựa chọn đối
tác ký kết hợp đồng là một nguyên tắc vô cùng quan trọng. Theo nguyên tắc
này, các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng hoặc tự do không giao kết hợp
đồng với chủ thể nhất định. Tùy theo mỗi quốc gia, nguyên tắc này có thể
được quy định trong Bộ luật dân sự (Luật dân sự), Luật Hợp đồng hay Luật
Thương mại hoặc các đạo luật về kinh doanh.
Theo nguyên tắc này, tất cả các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật
đều có quyền tự do quyết định việc ký kết hợp đồng mà không một chủ thể
hay một tổ chức, cá nhân nào được ngăn cản hay can thiệp vào quyền này một
cách bất hợp pháp. Nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, các bên có quyền tự quyết định việc đưa ra đề nghị hay không đưa
ra đề nghị giao kết hợp đồng cũng như nội dung của đề nghị giao kết. Khi nhận
được đề nghị, các bên có quyền quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề
nghị. Việc quyết định ký hay không ký hợp đồng là do ý chí của các bên, không
bị ảnh hưởng bởi ý chí hay sự ép buộc của bên kia hay bên thứ ba nào khác.
Hai là, các bên có quyền lựa chọn ký hợp đồng với chủ thể này và từ
chối ký kết hợp đồng với chủ thể khác. Các thương nhân có quyền tự do quyết
định họ sẽ ký kết hợp đồng với ai. Họ có quyền quyết định ai là người họ sẽ
bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình và ai là người họ sẽ muốn mua
hàng hóa hoặc nhận cung ứng dịch vụ cho mình, cũng như họ có quyền thỏa
thuận những điều khoản hợp đồng cụ thể. Trong lĩnh vực thương mại, nguyên
tắc này được coi là nền tảng của một trật tự kinh tế mang tính mở trên thị
trường cạnh tranh.
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những trường hợp ngoại lệ nhất định.
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, trật tự công cộng, quyền tự do lựa
chọn đối tác ký kết hợp đồng phải được thực hiện không trái với quy định của
pháp luật, đạo đức xã hội, trật tự công cộng. Pháp luật các quốc gia thường sẽ


11

quy định các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này bao gồm: (i) Hợp đồng bị
cấm giao kết trong một số lĩnh vực kinh tế, thương mại nhất định có sự điều
chỉnh của Nhà nước hoặc (ii) Đối với từng loại hợp đồng cụ thể, Nhà nước quy
định các bên phải ký kết hợp đồng hoặc không được ký kết hợp đồng.
1.1.3.2. Quyền thỏa thuận nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên
Nội dung của hợp đồng là toàn bộ các vấn đề mà các bên đã thỏa thuận
với nhau. Về mặt hình thức, nội dung của hợp đồng phải được thể hiện dưới
dạng điều khoản. Về mặt pháp lý, nội dung của hợp đồng chính là các quyền
và nghĩa vụ ràng buộc các bên giao kết hợp đồng với nhau. Thông thường, nội
dung hợp đồng được xác định gồm các điều khoản như: Đối tượng hợp đồng,
số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm thực
hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc xác định nội dung hợp
đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những thỏa thuận được thừa
nhận là hợp đồng và những thỏa thuận không được coi là hợp đồng. Về cách
xác định nội dung hợp đồng, có các quan điểm khác nhau.
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ vào tính chất và vai trò của
từng nội dung hợp đồng sẽ phân chia nội dung hợp đồng thành các loại sau:
(i) Nội dung chủ yếu của hợp đồng (điều khoản cơ bản), là nội dung quan
trọng nhất của hợp đồng, mà nếu thiếu những nội dung đó thì hợp đồng coi
như chưa được giao kết. Tùy theo loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể
là đối tượng, giá cả, địa điểm,

nhưng có điều khoản đương nhiên là điều

khoản cơ bản, vì nếu các bên không thỏa thuận về nó thì sẽ không hình thành
hợp đồng. Các điều khoản cơ bản của hợp đồng có thể do pháp luật quy định
hoặc do các bên thỏa thuận với nhau. (ii) Nội dung thường lệ (điều khoản
thông thường) là những nội dung đã được pháp luật quy định, các bên có thể
ghi nhận trong hợp đồng hoặc không cần ghi nhận trong hợp đồng và trường
hợp này coi như các bên mặc nhiên công nhận và phải có nghĩa vụ thực hiện,
chẳng hạn như điều khoản về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. (iii)
Nội dung tùy nghi (điều khoản tùy nghi) là những nội dung do các bên tự thỏa
thuận khi chưa có quy định pháp luật nhưng các bên thỏa thuận không trái với
quy định của pháp luật, nhằm xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên.


12

Đây là quan điểm được thừa nhận trong pháp luật truyền thống của châu Âu
lục địa (pháp luật của Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Trung Quốc,

quy định đối

tượng hợp đồng là một trong các yếu tố cơ bản của hợp đồng).
Về nguyên tắc, khi đàm phán ký hợp đồng, các bên có quyền thể hiện ý
chí của mình trong việc thỏa thuận quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như
nội dung các điều khoản của hợp đồng, mà không bị ép buộc. Nguyên tắc này
cho phép các chủ thể tự do quy định các điều kiện của hợp đồng; các bên có
quyền thỏa thuận bất cứ nội dung gì trong hợp đồng miễn là không trái pháp
luật. Theo pháp luật hợp đồng một số nước, các điều khoản của hợp đồng do
các bên ấn định và thông thường bao gồm các nội dung: Tên các bên, địa chỉ
của họ; đối tượng của hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; giải quyết
tranh chấp;

Đối với các bên đã có mối quan hệ kinh doanh lâu dài, đã từng

ký với nhau nhiều hợp đồng trong kinh doanh, các bên có thể áp dụng hợp
đồng mẫu, tập quán và thói quen thương mại nếu như giữa họ đã từng nhất trí,
áp dụng nhiều lần các điều khoản, tập quán đó trong quan hệ hợp đồng Điều
2.19 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế.
Xuất phát từ lợi ích của mình, các bên đưa ra các đề nghị giao kết hợp
đồng trên cơ sở ý chí đích thực của họ. Nội dung thỏa thuận hợp đồng và hợp
đồng được ký kết thì không ai có quyền thay đổi nội dung hợp đồng, nếu không
có sự đồng ý của các bên tham gia ký kết. Khi đạt được thỏa thuận chung thì
coi như hợp đồng đã được ký kết. Điều 8 Luật hợp đồng năm 1999 của Trung
Quốc quy định: “Một hợp đồng được thiết lập một cách hợp pháp sẽ ràng buộc
các bên về mặt pháp lý. Các bên phải thực hiện nghĩa vụ tương ứng theo quy
định của hợp đồng, không bên nào được thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng một
cách tùy tiện. Một hợp đồng được thiết lập một cách hợp pháp được pháp luật
bảo vệ”. Trong trường hợp một bên không tôn trọng thực hiện các nội dung
hợp đồng, thì bên đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo như các bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật trong trường hợp
các bên không có thỏa thuận về x lý trường hợp vi phạm hợp đồng6.

6

Tlđđ, tr.27.


13

* Quan điểm thứ hai cho rằng, coi hợp đồng là một quá trình điều tiết.
Vì vậy, không thể yêu cầu các bên phải xác định cụ thể nội dung của các thỏa
thuận trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết.
Quan điểm này có ưu điểm là nó bảo đảm tối đa quyền TDHĐ, phù hợp và
đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động thương mại, nhất là đối với các hợp đồng
thương mại dài hạn. Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, nghĩa vụ của các bên
không nhất thiết chỉ giới hạn trong các quy định rõ ràng tại hợp đồng, mà có
thể còn có các ý nghĩa ngầm hiểu. Nguồn của nghĩa vụ ngầm hiểu có thể là
thói quen được thiết lập giữa các bên, tập quán thương mại hoặc có thể xuất
phát từ việc giải thích hợp đồng trên cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực
hoặc tính hợp lý của hợp đồng. Hạn chế của quan điểm này là việc chứng
minh nghĩa vụ hợp đồng và việc bảo vệ quyền lợi của các bên có thể gặp
nhiều khó khăn, trong trường hợp phát sinh tranh chấp do quyền và nghĩa vụ
của các bên không được các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể. Ngày nay, nội
dung này ngày càng được thể hiện trong pháp luật hợp đồng hiện đại, đặc biệt
là đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Ví dụ: theo Công ước
Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, điều khoản về giá cả có thể
không được thể hiện trong hợp đồng, nhưng có thể được xác định theo các
phương pháp quy định tại điều 55 Công ước7.
1.1.3.3. Quyền tự do quyết định hình thức hợp đồng
Hình thức hợp đồng là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội
dung thỏa thuận của các bên. Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình
thức thể hiện thỏa thuận của các bên, bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản.
Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng. Nó là
chứng cứ xác nhận quan hệ hợp đồng đã, đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác
định trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Theo nguyên tắc tự do thỏa
thuận, các bên có quyền xác lập hợp đồng dưới bất cứ hình thức nào, theo
cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các
bên là hợp đồng coi như đã hình thành. Sự thỏa thuận hợp đồng không phải
theo một công thức nào. Người ta có thể lập hợp đồng bằng cách trao đổi văn
7

Tlđđ, tr.25.


14

bản, thư từ truyền thống; bằng điện tín, bằng điện thoại, qua mạng internet và
các phương tiện điện tự khác

Nhìn chung, tất cả các hệ thống pháp luật trên

thế giới đều công nhận nguyên tắc này. Các bên có quyền tự do lựa chọn hình
thức hợp đồng dưới dạng: Bằng lời nói, c chỉ, hành vi hay bằng văn bản.
Trong đó, hình thức văn bản hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được pháp
luật hợp đồng các nước để cập không chỉ là văn bản viết theo quan niệm
truyền thống, mà bao gồm cả thông điệp dữ liệu điện t . Ngày nay, với sự
phát triển của công nghệ thông tin và thời đại công nghệ số, sự phát triển của
thương mại điện t (là việc thực hiện các hoạt động thương mại thông qua các
phương tiện điện t , mạng internet) trên phạm vi toàn cầu đã đặt ra yêu cầu
cần loại bỏ rào cản pháp lý của pháp luật hợp đồng ảnh hưởng đến sự phát
triển của thương mại điện t . Do vậy, pháp luật hợp đồng của các nước đã coi
hình thức thông điệp điện t có giá trị pháp lý tương đương văn bản viết
truyền thống trong giao kết hợp đồng8.
Theo nguyên tắc tự do xác lập hình thức hợp đồng, hiệu lực của hợp
đồng không bị ràng buộc bởi các yêu cầu về hình thức, trừ những trường hợp
ngoại lệ. Nguyên tắc này cũng gián tiếp công nhận sự hình thành, s a đổi
hoặc chấm dứt hợp đồng bằng thỏa thuận giữa các bên. Trong quá trình giao
kết hợp đồng thương mại, nhất là đối với các hợp đồng phức tạp đòi hỏi sự
đàm phán kỹ lưỡng và kéo dài, nếu hai bên chưa thỏa thuận về hình thức cụ
thể của hợp đồng, thì hợp đồng chưa được giao kết. Các hành vi phổ biến loại
này gồm: Các tuyên bố ý chí mà các bên đưa ra trong quá trình giao kết hay
thực hiện hợp đồng hoặc trong trường hợp khác.
Nguyên tắc này rất phù hợp với yêu cầu nhanh chóng, thuận tiện của
các hoạt động thương mại. Nhờ vào các phương tiện truyền thông hiện đại,
nhiều giao dịch được giao kết nhanh chóng bằng các cuộc điện thoại, fax,
giao dịch điện t , internet, văn bản giấy tờ,

Tuy nhiên, một số nước quy

định các trường hợp ngoại lệ. Đối với một số hợp đồng nhất định, pháp luật
quy định điều kiện hình thức hợp đồng được coi là yêu cầu bắt buộc về hiệu

8

Tlđđ, tr.29.


15

lực của hợp đồng. Trong khi đó, ở một số nước khác, các ngoại lệ được đặt ra
chỉ nhằm mục đích để làm bằng chứng về việc giao kết hợp đồng.
1.1.3.4. Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
Theo nguyên tắc hiệu lực bắt buộc thực hiện của hợp đồng, sau khi hợp
đồng được giao kết hợp pháp, các bên có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện
các nghĩa vụ đã cam kết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm
ẩn những vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nhất là đối với các hợp đồng dài hạn.
Đó có thể là hành vi không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đúng hoặc
không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng làm cho lợi ích của các bên có nguy cơ bị
xâm hại, dẫn đến tranh chấp hợp đồng.
Tranh chấp hợp đồng là mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, lợi ích giữa các
bên liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp
đồng. Tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một loại tranh chấp
trong thương mại. Nó có thể được giải quyết thông qua các phương thức như
thương lượng, hòa giải hay tố tụng tư pháp hoặc tố tụng trọng tài.
Do tranh chấp hợp đồng phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng nên
việc giải quyết tranh chấp thuộc quyền tự định đoạt của các bên, dựa trên
nguyên tắc tự do ý chí. Theo nguyên tắc này, các bên trong hợp đồng có
quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh
chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại.
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo
đảm trật tự công cộng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, việc giải quyết tranh
chấp hợp đồng phải chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm công bằng và công lý.
Ngoài ra còn phải bảo đảm các yêu cầu của hoạt động thương mại còn phải bảo
đảm các yêu cầu như nhanh chóng, thuận lợi, không hạn chế, cản trở các hoạt
động thương mại; khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các
bên trong kinh doanh; giữ bí mật kinh doanh và bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Để đảm bảo quyền TDHĐ và lợi ích của các bên trong giải quyết tranh
chấp hợp đồng, pháp luật các nước đều quy định các bên có quyền lựa chọn
giải quyết tranh chấp hợp đồng được thực hiện thông qua một trong các
phương thức giải quyết tranh chấp sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc


16

Tòa án. Từ đó, pháp luật quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp bằng
các phương thức trên để các bên lựa chọn khi giải quyết tranh chấp pháp sinh.
Như vậy, có thể thấy cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh
vực thương mại được pháp luật quy định rất mềm dẻo trên cơ sở tôn trọng
quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận của các bên. Pháp luật không quy định các
bên phải tuân theo một phương thức hay thủ tục giải quyết tranh chấp nào.
Các bên có quyền lựa chọn một trong các phương thức giải quyết tranh chấp
mà họ thấy phù hợp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của mình.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong
lĩnh vực thƣơng mại
Trong nền kinh tế thị trường, với những đặc trưng và quy luật của nó,
các chủ thể ở vào vị thế bình đẳng, có quyền tự do sở hữu, quyền tự do kinh
doanh, TDHĐ. Hợp đồng có bản chất là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, đóng
vai trò quan trọng trong sự vận hành của nền kinh tế, là hình thức pháp lý của
các giao dịch dân sự, thương mại.
Về mặt kinh tế và pháp lý, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò, ý
nghĩa quan trọng sau:
Một là, với tính cách là một công cụ điều chỉnh các quan hệ tài sản, lợi
ích kinh tế, hợp đồng trước hết là căn cứ để các chủ thể thực hiện các giao
dịch dân sự của mình và là cơ sở để giải quyết khi phát sinh tranh chấp giữa
các bên, bảo đảm trật tự trong các giao dịch dân sự, thương mại. Trong đời
sống pháp lý, hợp đồng là công cụ bảo vệ các quyền tài sản của tổ chức, cá
nhân; là một trong những cách thức quan trọng và phổ biến nhất để xác lập và
bảo vệ quyền tài sản. Vì vậy, việc bảo vệ quyền TDHĐ có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội9.
Trong các giao dịch dân sự, hợp đồng được các chủ thể s dụng phổ
biến và thông dụng, thông qua hợp đồng các bên có thể thỏa thuận với nhau
bất kỳ điều gì, với bất cứ điều kiện nào, dưới bất cứ hình thức nào, miễn là

9

Nguyễn Thị Hường (2011), Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ

luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.20.


17

pháp luật không cấm. Vì thế, bảo đảm quyền TDHĐ còn nhằm bảo đảm sự
bình đẳng và lợi ích của các chủ thể, là cơ sở pháp lý cho sự hợp tác.
Hai là, trong mối quan hệ với quyền TDKD, quyền TDHĐ là yếu tố cơ
bản của quyền TDKD. Vì vậy, việc bảo đảm quyền TDHĐ cũng chính là bảo
đảm quyền TDKD được thể hiện trên thực tế. Khi quyền TDKD được bảo
đảm sẽ là điều kiện và động lực cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế.
Ba là, trong các giao dịch dân sự, thương mại thì hợp đồng ngày càng trở
thành phương tiện quản lý rủi ro, thông qua hợp đồng các bên đều tự nguyện
cam kết thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp
đồng, do đó nó tạo cho các chủ thể luôn ý thức được việc phải tuân thủ các điều
khoản đã cam kết đó, nếu không tuân thủ bên vị phạm phải chịu trách nhiệm và
phải bồi thường thiệt hại (nếu có) cho bên bị vi phạm và phải chịu các chế tài
khác mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật. Vì
vậy, đối với các chủ thể, việc bảo vệ quyền TDHĐ có vai trò quan trọng trong
việc bảo đảm quyền tự do sở hữu, TDKD, tự do cạnh tranh,

Trong thực tế,

việc bảo đảm quyền TDHĐ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên chủ thể, chống lại các hành vi lạm dụng quyền TDHĐ
nhằm vi phạm quyền TDHĐ và lợi ích của các chủ thể khác10.
Về mặt xã hội, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò, ý nghĩa quan
trọng trong việc thực thi các quyền cơ bản của con người về dân sự, kinh tế.
Trong xã hội hiện đại, hợp đồng được đến như là một giao dịch không thể
thiếu của mỗi thành viên trong xã hội có tổ chức; s dụng điện thoại, điện
nước, mua nhu yếu phẩm hằng ngày, đi du lịch, giải trí,

hầu hết các hoạt

động của con người đều được thực hiện trong khuôn khổ của mỗi quan hệ khế
ước (hợp đồng). Hợp đồng ngày càng trở thành một hiện tượng hết sức phổ
biến, phong phú, phức tạp trong cuộc sống hằng ngày của mỗi thành viên
trong xã hội. Vì vậy, việc bảo đảm quyền TDHĐ có vai trò quan trọng cho
việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền tự do
cơ bản của con người về dân sự, kinh tế.

10

Tlđđ, tr.20.


18

1.3. Các yếu tố chi phối quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực
thƣơng mại
Như đã trình bày, ngày nay, không có sự thừa nhận quyền TDHĐ một
cách tuyệt đối. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, pháp luật các nước cần phải
tác động vào quan hệ hợp đồng ở mức độ nhất định. Ngay cả trong phạm vi
quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch s nhất định, pháp luật quy định quyền
TDHĐ có những thay đổi. Việc nghiên cứu về quyền TDHĐ trong lĩnh vực
thương mại cho thấy nó bị chi phối bởi các yếu tố như: Chế độ sở hữu; cơ chế
quản lý kinh tế và yêu cầu hội nhập kinh tế.
1.3.1. Sự chi phối của chế độ sở hữu đối với tài sản và tư liệu sản
xuất đến quyền tự do hợp đồng
Quan hệ sở hữu có vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó quyết định tính chất
và nội dung các quan hệ kinh tế khác. Việc xác định quan hệ sở hữu một cách
đúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ kinh tế phát triển
và ngược lại, sẽ làm kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế và kéo theo
đó là sự trì trệ của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Điều này đã được được thực tế
chứng minh rất rõ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Lào và Việt Nam.
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến, tất cả các tư liệu
sản xuất và của cải trong xã hội đều tập trung trong tay giai cấp thống trị là
chủ nô và giai cấp phong kiến. Giai cấp bị trị là nô lệ và nông dân chiếm đa
số, là những người không có địa vị trong xã hội, không có quyền sở hữu tài
sản gì. Vì vậy, quyền TDHĐ đối với họ cũng không có ý nghĩa trên thực tế,
khi mà họ gần như không có tài sản làm đối tượng để giao kết hợp đồng.
- Chủ nghĩa tư bản ra đời, trong giai đoạn đầu, đã đề cao quyền tự do,
dân chủ của con người, nhất là quyền sở hữu cá nhân. Cơ sở pháp lý quan trọng
này đã làm nền tảng cho việc bảo đảm sự tồn tại các quyền tự do về kinh tế
khác như TDKD, TDHĐ,

Với việc bảo vệ mạnh mẽ quyền tự do sở hữu,

quyền TDHĐ cũng được pháp luật tư sản thời kỳ đầu đề cao11.

11

Phạm Hoàng Giang (2007), Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.44.


19

- Đối với các nước phát triển theo con đường XHCN, thời kỳ đầu chỉ có
sự thừa nhận hai hình thức sở hữu chủ yếu là: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Đây được coi là cơ sở của quan hệ sản xuất XHCN, cũng là cơ sở của quan hệ
hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh doanh. Trong hai hình thức sở hữu đó, sở
hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Vai trò này thể hiện ở chỗ:
Tất cả các tư liệu sản xuất quan trọng trong xã hội đều thuộc sở hữu toàn dân
(Điều 18 Hiến pháp Hiến pháp 1980, Điều 17 Hiến pháp 1992 của Việt Nam,
Điều 7 Hiến pháp năm 1991 (s a đổi, bổ sung năm 2003) của Lào). Việc hình
thành, phát triển sở hữu tập thể đều xuất phát từ sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà
nước. Các hình thức sở hữu khác cũng như các thành phần kinh tế khác như:
Kinh tế cá thể, tư bản tư nhân,

không được Nhà nước và pháp luật khuyến

khích phát triển. Pháp luật chỉ cho phép các đơn vị kinh tế tập thể, tổ chức, cá
nhân được quyền sở hữu tài sản nhất định, còn tất cả các tài sản khác trong xã
hội, nhất là những tư liệu sản xuất quan trọng đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà
nước thay mặt toàn dân sở hữu. Chính đặc điểm về chế độ sở hữu này đã làm
triệt tiêu cơ sở tồn tại của quyền TDHĐ. Bởi vì, không có sự đa dạng của hình
thức sở hữu thì không thể có TDHĐ. Việc ký kết các hợp đồng kinh tế chủ yếu
giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau chỉ là hình thức, vì các tài sản trong xã
hội chủ yếu thuộc một chủ sở hữu là Nhà nước. Hơn nữa, các đơn vị kinh doanh
chỉ có quyền quản lý tài sản chứ không có quyền định đoạt tài sản đó nên việc
giao kết hợp đồng giữa các đơn vị kinh doanh đều do Nhà nước định đoạt trên
cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch. Do đó, có thể nói quyền TDHĐ ở giai đoạn này không
được pháp luật thừa nhận và không tồn tại trên thực tế.
Kể từ khi Liên Xô tan rã cùng với sự sụp đổ của cơ chế kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp, một số nước XHCN đã phát triển kinh tế thị trường. Việc đầu
tiên các nước này thực hiện trong phát triển kinh tế là đa dạng hóa chế độ sở
hữu. Hiến pháp và pháp luật các nước đều thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình
thức sở hữu trong nền kinh tế. Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam và Hiến pháp
năm 2003 của Lào đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của các hình thức sở hữu
trong nền kinh tế, đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu
của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu hỗn hợp, sở hữu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×