Tải bản đầy đủ

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc h’mông trên địa bàn tỉnh hà giang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

HÀ THỊ HẠNH HUYỀN

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC H’MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

HÀ THỊ HẠNH HUYỀN


PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC H’MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HÀ THỊ HẠNH HUYỀN


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTTS

: Dân tộc thiểu số

HĐND

: Hội đồng nhân dân

PBGDPL

: Phổ biến, giáo dục pháp luật

QPPL


: Quy phạm pháp luật

TSPL

: Tủ sách pháp luật

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN:

: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC H’MÔNG ............................. 9
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng
bào dân tộc H’Mông...................................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ..................................................................................................... 9
1.1.2. Đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 11
1.1.3. Vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 17
1.2. Các thành tố của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ....................................................................................................... 20
1.2.1. Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 20
1.2.2. Chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 22
1.2.3. Nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 24
1.2.4. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 26


1.3. Hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông .................................................... 28
1.3.1. Hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 28
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đồng bào dân tộc H’Mông ............................................................... 30
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC H’MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ GIANG HIỆN NAY ............................................................................... 34
2.1. Khái quát về đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang và
các điều kiện kinh tế- văn hóa, xã hội có ảnh hưởng đến phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang ........ 34
2.2. Những ưu điểm, kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào
dân tộc H’ mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang .............................................. 40
2.2.1. Về ban hành văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện ...................... 42
2.2.2. Về đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật ................................... 43
2.2.3. Về chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật ....................................... 45
2.2.4. Về nội dung ................................................................................... 49
2.2.5. Về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật ................................... 50
2.3. Những hạn chế, bất cập trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng
bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang ........................................ 64
2.3.1. Về ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện và tổ chức thực hiện ...... 64
2.3.2. Về đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật................................... 64
2.3.3. Về chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật ...................................... 67
2.3.4. Về nội dung ................................................................................... 67
2.3.5. Về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật ................................... 68


Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỔ
BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
H’MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY.................... 70
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng
bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện nay ......................... 70
3.2. Giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện nay ................ 72
3.2.1. Cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống kinh tế cho đồng bào
dân tộc H’Mông ...................................................................................... 72
3.2.2. Nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc H’Mông ......................... 74
3.2.3. Bổ sung nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân
tộc H’Mông ............................................................................................. 75
3.2.4. Cải thiện, nâng cao các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đồng bào dân tộc H’Mông ............................................................... 75
3.2.5. Xây dựng đội ngũ nhân lực thực hiện công tác phổ biến giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông ............................................... 77
3.2.6. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành
trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ................................................................................................... 78
3.2.7. Huy động nguồn kinh phí để thực hiện công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông được hiệu quả ....................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trên con đường xây dựng một nhà nước pháp quyền
xã hội của nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. “Sống và làm việc
theo hiến pháp và pháp luật” là khẩu hiệu, là tư tưởng chỉ đạo của hàng triệu
người dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Nhà nước pháp quyền XHCN lấy pháp luật làm căn cứ điều tiết các
hành vi cá nhân, các quan hệ xã hội, bảo đảm cho xã hội ổn định và phát triển
bền vững. Để có được xã hội pháp quyền như vậy, phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố như xây dựng hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, có hệ thống tổ chức bộ
máy nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở vững chắc, trình độ văn hóa pháp
luật và ý thức của người dân đạt tới sự hiểu biết, tự giác cao, các cơ quan
giám sát thi hành pháp luật nghiêm minh... Trong số những yếu tố trên, yếu tố
nào cũng có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhưng suy cho cùng, hệ thống luật
pháp ấy có đến được với người dân không, nhân dân có hiểu biết và tự giác
thực hiện pháp luật hay không mới là vấn đề quyết định. Nếu luật pháp vẫn
chỉ là luật pháp trên những trang giấy thì cho dù có hoàn chỉnh đến mấy, nếu
người dân cứ tự do sống theo kiểu của mình không cần biết đến luật pháp, thì
không những xã hội không phát triển mà còn rất tồi tệ và bất ổn. Mấu chốt
của vấn đề ở chỗ, pháp luật phải đi vào cuộc sống, nhân dân thấy cần pháp
luật như cần không khí để hít thở vậy. Cho nên, việc tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật cho nhân dân là việc làm không thể thiếu và cũng không
thể làm một, hai lần, làm một thời gian ngắn là xong mà phải rất kiên trì, sáng
tạo, linh hoạt, được toàn xã hội tham gia.
Nhận thức điều đó, trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã có những
chính sách để triển khai, giáo dục pháp luật toàn dân, đặc biệt là đồng bào ở
những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, do rất nhiều


2

những yếu tố khách quan ảnh hưởng mà thực tế tình trạng “sống ngoài pháp
luật” vẫn còn diễn ra ở mọi mặt của đời sống xã hội trong cộng đồng dân cư.
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có nhiều dân tộc ít người sinh
sống. Trong đó, dân tộc H’Mông được coi là thành viên quan trọng của cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở Hà Giang. Dân tộc H’Mông trên Việt nam nói
chung và địa bàn tỉnh Hà Giang nói riêng nằm trong nhóm dân tộc ít người
vùng cao đang gặp một số khó khăn về đời sống kinh tế, văn hoá như: sự đe
doạ của nghèo đói, bệnh tật và các tập tục lạc hậu. Họ thiếu các cơ hội phát triển
văn hoá - giáo dục, thông tin, kỹ thuật, v.v...Chính vì vậy, hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật đến đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang
càng gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ tình hình đó, luận văn thực hiện nghiên cứu đề tài "Phổ
biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh
Hà Giang" với mong muốn góp phần vào quá trình thúc đẩy, nâng cao hiệu
quả của pháp luật trên toàn xã hội. Đồng thời cũng đưa ra được những
phương hướng, giải pháp để cải thiện được trình độ dân trí, nhận thức văn hóa
pháp luật của đồng bào H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, phổ biến, giáo dục pháp luật là vấn đề hết
sức quan trọng. Việc nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật dưới góc độ
khoa học pháp lý được các nhà khoa học Việt Nam rất quan tâm. Cho đến
nay có nhiều công trình nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật của tập
thể, cá nhân đã được công bố.
Tìm hiểu các công trình đã được công bố trong nước và nước ngoài cho
thấy, mặc dù phổ biến, giáo dục pháp luật được đề cập dưới nhiều góc độ,
khía cạnh khác nhau, song về cơ bản bao gổm các nhóm vấn đề sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phổ biến, giáo dục
pháp luật, gồm khái niệm, mục đích, đối tượng, nội dung, hình thức của phổ


3

biến, giáo dục pháp luật. Điều này được minh chứng qua các công trình khoa
học:
Nguyễn Đình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình
hình thành nhân cách, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Lê Văn Hoè (2008), Công tác nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật
trong thời kỳ đổi mới, tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng Quốc hội
(9/2008).
Phạm Mạnh Tiến (2011), Cần có cái nhìn mới về công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Bộ Tư pháp (10/2011).
Nguyễn Minh Đoan (2011), Ý thức pháp luật, Nxb Chính trị quốc giá,
Hà Nội.
Hoàng Thị Kim Quế (2011), Bàn về hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp
luật ở nước ta hiện nay, tạp chí Khoa học pháp lý. Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh (4/2011).
Phan Hồng Nguyên (2012), Thực trạng tổ chức và hoạt động của hội
đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp và giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động, tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp
(10/2012).
Đặng Thị Tuyết Hạnh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp,
(6/2013).
Nhóm 2: Nghiên cứu phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các đối
tượng cụ thể nhằm lý giải những đặc thù và tìm kiếm các giải pháp nâng cao
hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượng. Được thể hiện qua
các công trình sau:
Nguyễn Đình Đặng Lục (2008) Giáo dục pháp luật trong nhà trường,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.


4

Lương Thị Kim Loan (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật trong
ngành xây dựng Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội.
Hoàng Minh Phượng (2013), Hoạt động giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà
Nội, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Bùi Duy Khoa (2013), Giáo dục pháp luật thông qua phiên tòa xét xử
lưu động của Tòa án nhân dân tại thành phố Hải Phòng hiện nay, Luận văn
thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Cao Thị Ngọc Yến (2014), Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào
dân tộc thiểu số ở tỉnh Nghệ An hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội.
Nguyễn Thị Tĩnh (2012), Giáo dục pháp luật trong hoạt động khởi
kiện và thụ lý vụ án, tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng Quốc hội
(20/2012).
Bùi Huyền (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động,
người sử dụng lao động qua mô hình ngày pháp luật, tạp chí Dân chủ và
Pháp luật. Bộ Tư pháp (11/2013).
Trần Thị Sẵn (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
cho phụ nữ nghèo, tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp (9/2013).
Trần Đức Toàn (2014), Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật cho thanh niên giai đoạn hiện nay, tạp chí Quản lý nhà nước. Học viện
Hành chính Quốc gia (10/2014).
Cao Thị Thiên Phúc (2015), Huy động, phối hợp các nguồn lực xã hội
cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường ở TP. Hồ Chí
Minh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (3/2015).
Lê Thị Phương Nga (2015), Giáo dục pháp luật cho trẻ em ở Việt Nam
hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.


5

Nhóm 3: Nghiên cứu phổ biến, giáo dục pháp luật trong mối quan hệ
với các nội dung khác.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Đề cao công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạp chí Kiểm sát.
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (10/2010).
Trần Ngọc Dũng (2010), Hoàn thiện hệ thống giáo dục pháp luật ở
Việt Nam nhằm thi hành hiến chương ASEAN, tạp chí Luật học (1/2010).
Ngọ Văn Nhân (2011), Phát huy vai trò của dư luận xã hội đối với
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, , tạp chí
Luật học (5/2011).
Đỗ Xuân Lân (2011), Về cách thức tiếp cận và một số nội dung của dự
thảo luật phổ biến, giáo dục pháp luật, tạp chí Nghiên cứu lập pháp
(17/2011), Văn phòng Quốc hội.
Nguyễn Thanh Bình (2012), Vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc
Việt Nam trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền
làm chủ, tạp chí Nghiên cứu lập pháp (6/2012), Văn phòng Quốc hội.
Đỗ Xuân Lân (2015), Tăng cường phối hợp giữa ngành Tư pháp và
ngành giáo dục - đào tạo trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, tạp chí
Dân chủ và Pháp luật (3/2015), Bộ Tư pháp.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể, cá nhân,
các bài viết của các tác giả từ trước đến nay về phổ biến, giáo dục pháp luật
đã đóng góp rất nhiều các vấn đề cơ bản cả về vấn đề lý luận và thực tiễn
dưới nhiều góc độ khác nhau về phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, có
thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ và có hệ thống về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông ở tỉnh Hà Giang nói riêng. Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu
có hệ thống vấn đề phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào H’Mông trên


6

địa bàn tỉnh Hà Giang.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1.

Mục đích

Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông ở tỉnh Hà Giang, đề xuất
những giải pháp nhằm tăng cường nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà Giang hiện nay.
3.2.

Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận chung về phổ biến, giáo
dục pháp luật, luận văn phân tích rõ đặc điểm và vai trò phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân thực trạng của
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà
Giang.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường nâng cao
hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
ở Hà Giang hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng, những khó khăn, bất
cập trong quá trình thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng
bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Qua đó, đưa ra những giải
pháp cụ thể để nhằm tăng hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà giang.
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật cho đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2010
cho đến nay. Tức là thời điểm Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật sắp được ban
hành và có hiệu lực.


7

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hổ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về phổ biến, giáo dục pháp luật
nói chung và cho đối tượng là dân tộc thiểu số nói riêng.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng với các phương pháp: lịch sử - cụ thể, phân tích, tổng hợp, kết hợp
với các phương pháp nghiên cứu khác: thống kê, so sánh, thu thập tài liệu...
6. Đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về phổ biến,
giáo dục pháp luật, làm rõ tính đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật cho đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống ở Việt Nam.
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm chỉ đạo tổ chức
hoạt động thực tiễn của các cơ quan Đảng và nhà nước trong việc phổ biến,
giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung ở Hà Giang và
đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà Giang nói riêng. Đồng thời là tài liệu cho
việc hoạch định chính sách đối với đồng bào dân tộc H’Mông.
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và tương đối
toàn diện về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà
Giang, nêu được khái niệm và đặc trưng phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào dân tộc H’Mông. Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học cụ
thể sau: Luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản để tăng cường
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù là đồng bào dân
tộc H’Mông ở Hà Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật


8

cho đồng bào dân tộc H’Mông
- Chương 2: Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện nay
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả phổ
biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông trên địa bàn
tỉnh Hà Giang hiện nay


9

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC H’MÔNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp
luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
1.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông
Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một hoạt động quan trọng
trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.Hoạt động
này có ý nghĩa góp phần nâng cao giá trị của pháp luật trong đời sống. Trong
khoa học pháp lý có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về khái niệm
PBGDPL.
Theo Luật PBGDPL 2012 định nghĩa: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là
hoạt động có định hướng của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước
giữ vai trò nòng cốt nhằm hình thành và nâng cao tri thức pháp luật, tình cảm
pháp lý của công dân phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành”.
Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri
thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông quan hình thức nào đó hoặc làm
cho mọi người biết đến. Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi,
mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật
được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một
công cụ để nhà nước dùng để trị dân. Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn
mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể.
Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối
tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật
trên thực tế. Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội
nghị, các cuộc tập huấn...


10

Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những
tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã
hội. Giáo dục pháp luật là hoạt động truyền giao thông tin pháp luật một cách
có hệ thống, khoa học nhằm tác động lên nhận thức của con người sâu sắc
hơn, có tính chất giáo huấn cụ thể hơn.
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm
song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác
định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là
các phương thức giáo dục cụ thể.
Phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật là hai hoạt động có mối quan
hệ đan xen, kết hợp chặt chẽ với nhau nhưng mục đích chung của cả hai hoạt
động này đều là để nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật
của người dân. Để tổ chức hoạt động này, đòi hỏi các tổ chức chính trị - xã
hội và cơ quan nhà nước phải lên kế hoạch bao gồm: nội dung, hình thức,
phương pháp và phạm vi triển khai rõ ràng. Quan trọng nhất, Nhà nước phải
bảo đảm nguồn lực kinh phí cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật.
Tóm lại, có thể hiểu phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp
luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm niềm tin pháp luật cho
đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật của đối tượng; là hoạt động nhằm nâng cao tính khả thi và thực tế
của pháp luật.
Công tác phổ biến giáo dục pháp luật bao gồm các công đoạn:
·

Định hướng công tác phổ biến,giáo dục pháp luật;

·

Lập chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật;

·

Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật;


11

·

Triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật;

·

Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến giáo dục

pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lí
luận... về phổ biến giáo dục pháp luật.
Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm chính xác, đầy
đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực, kịp thời, thường xuyên, có trọng điểm. Trong
quá trình thực hiện cần chú ý đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ của đối tượng được phổ biến,
giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
Gắn với việc thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống
hằng ngày của người dân.
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hướng tới tất cả các đối tượng
trong xã hội. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc
H’Mông nói riêng là một trong những đối tượng mang nét đặc thù. Nghị định
số 05/2011/ NĐ – CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14/01/2011
quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc
đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”1.
Như vậy, có thể hiểu phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông là sự tác động có định hướng của Đảng, Nhà nước và các cơ quan
chuyên trách lên các đối tượng là người H’Mông nhằm hình thành ở họ tri
thức pháp luật, xây dựng ở họ niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả
năng tham gia các quan hệ xã hội phù hợp với quy định của pháp luật hiện
hành.
1.1.2. Đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông

1

Điều 4 Nghị định số 05/2011/ NĐ – CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14/01/2011


12

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông mang đầy
đủ những đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật chung như sau:
Thứ nhất, Phổ biển, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
là một bộ phận của công tác giáo dục trính trị, tư tưởng.
Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động truyền bá, xây dựng, bảo vệ
và phát triển hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền nhằm tập hợp, huy động và
phát huy vai trò của quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ mà giai cấp đề ra.
V.I. Lê Nin đã nhấn mạnh luật là biện pháp chính trị, là chính trị.
Đường lối cách mạng của Đảng ta - chỗ dựa của công cuộc đổi mới mọi mặt
về chính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất cả các mặt của hoạt động lập pháp,
chỉ đạo nội dung pháp luật. Có thể thấy rằng ý thức pháp luật là một bộ phận
không thể thiếu của ý thức chính trị. Vì vậy, khi thực hiện PBGDPL sẽ tạo
khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng PBGDPL, cụ thể
là đồng bào dân tộc H’Mông những hiểu biết nhất định về chính trị. Ngược
lại, giáo dục chính trị có những sự đan xen nhất định trong nội dung của mình
những tư tưởng pháp lý.
Thứ hai, Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động truyền tải thông tin pháp lý
đảm bảo với nội dung và tinh thần của pháp luật thực định. Pháp luật là những
quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và được Nhà nước thừa nhận, bảo
đảm thực hiện. Bởi lẽ vậy, hoạt động phổ biến phải bảo đảm được truyền tải
trên tinh thần nghiêm túc, chuẩn xác và bảo đảm những nguyên tắc nhất định.
PBGDPL không chỉ là thông tin cho các đối tượng biết về các văn bản QPPL
và các điều luật mà còn phải giải thích để họ hiểu được nội dung của các văn


13

bản QPPL và điều luật đó. Có như vậy, pháp luật trên thưc tế mới được bảo
đảm thực hiện một cách đúng đắn và nghiêm túc.
Trong quá trình hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật có thể thực hiện
hoạt động trao đổi tri thức pháp lý cho đồng bào dân tộc H’Mông. Trước khi
thực hiện PBGDPL cho dân tộc H’Mông, chủ thể thực hiện PBGDPL phải
tìm hiểu rõ thực trạng về ý thức pháp luật của đối tượng này. Có như vậy mới
có thể đưa ra được phương thức phổ biến và giáo dục phù hợp với đối tượng.
Hoạt động PBGDPL phải được diễn ra tự nguyên trên cơ sở hai bên: nghe,
trao đổi, học hỏi và tiếp thu. Điều này có ý nghĩa đối với hoạt động xây dựng
pháp luật. Bởi lẽ, suy cho cùng khi soạn thảo các điều luật, các nhà làm luật
trước tiên đều rất coi trọng tính thực tế. Qua việc phổ biến, giáo dục pháp luật
thì có thể tiếp cận được nhiều ý kiến, quan điểm của các đối tượng khác nhau.
Vì thế, dựa trên những đóng góp ý kiến đó, việc lên ý tưởng và xây dựng các
quy tắc xử sự cũng trở nên dễ dàng và mang tính khả thi hơn. Quan trọng hơn,
từ công tác này, có thể xây dựng và hoạch định những cơ chế, chính sách
chương trình nhằm hỗ trợ phát triển, khai sáng dân trí cho đồng bào dân tộc
H’Mông.
Thứ ba, Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp đồng bào dân tộc H’Mông
có những hiểu biết nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp
luật cho họ.
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong
xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình, ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Nhất
là trong điều kiện xã hội ngày càng diễn biến phức tạp cũng như trình độ dân
trí của đồng bào H’Mông còn thấp thì phạm vi điều chỉnh của pháp luật chưa
thật sự có điều kiện để tiếp cận được với pháp luật. Trên thực tế có những đối
tượng để phục vụ cho công việc của mình: học tập, nghiên cứu, sản xuất kinh


14

doanh…họ đều chủ động tìm hiểu pháp luật. Các đối tượng còn lại, hầu hết
chỉ khi xảy ra một sự kiện trong cuộc sống cần có pháp luật điều chỉnh thì họ
mới tìm đến và sử dụng pháp luật. Còn đối với đồng bào H’Mông, pháp luật
đa phần không hề hiện hữu trong tâm trí cũng như cuộc sống của họ. Vì thế,
hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chính là phương thức truyền tải những
thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với đồng
bào dân tộc H’Mông, giúp cho họ hiểu biết, nắm bắt kịp thời mà không mất
quá nhiều thời gian, công sức cho việc tìm hiểu, tự học tập. Đó còn là phương
thức hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho họ.
Biết đến pháp luật thôi chưa đủ, để áp dụng được đúng và triệt để thì
đồng bào H’Mông còn phải hiểu rõ pháp luật và nắm bắt được cách sử dụng
pháp luật. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ dừng lại ở việc
truyền bá pháp lý cho đồng bào H’Mông biết mà còn thực hiện giải thích,
hướng dẫn cho các đối tượng hiểu đúng, hiểu rõ và cách thức áp dụng các
điều luật. Thêm nữa, pháp luật cũng tồn tại cả hai mặt ưu điểm và hạn chế
nhất định. Pháp luật chưa hoàn toàn phản ánh được tất cả nguyên vọng của
mọi người trong xã hội. Chính vì thế, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
cần mang ý nghĩa sâu sắc hơn, giúp quá trình điều chỉnh pháp luật được thuận
lợi, dễ dàng và gần gũi với nguyện vọng của đông đảo đồng bào H’Mông hơn
nữa.
Có thể thấy ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào H’Mông chỉ có
thể được nâng cao khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân
được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết. Phổ biến, giáo dục
pháp luật không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang có hiệu
lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành
vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ
hành vi hợp pháp, lên án các hành vi phi pháp.


15

Ngoài ra, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông
còn có những đặc thù cơ bản sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào
dân tộc ít người, sống phân tán và định cư chủ yếu ở khu vực núi cao. Điều
kiện đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc H’Mông đa phần khó khăn. Chủ
yếu sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ. Với đặc điểm dân cư sinh sống của đồng
bào dân tộc H’Mông, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ ngân sách cao hơn
so với công dân bình thường. Bởi lẽ, chủ thể tiến hành phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc H’Mông phải đi đến từng làng từng bản vận
động người dân, do đặc điểm sinh sống phân tán khiến cho việc tập trung dân
hết sức khó khăn. Thêm nữa, do du canh du cư nên việc phổ biến có hiệu quả
cũng sẽ trở nên nan giải. Chính vì thế, cần lập kế hoạch xây dựng ngân sách
cho từng chiến dịch phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể nhằm động viên
những chủ thể PBGDPL có tinh thần phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
đồng bào dân tộc H’Mông có điều kiện tiếp nhận kiến thức pháp luật.
Thứ hai, đồng bào dân tộc H’Mông có trình độ dân trí thấp và mang
nặng tín ngưỡng dân tộc sâu sắc. Đồng bào dân tộc H’Mông có tâm lý rất dễ
tin, nhưng niềm tin đó cũng dễ dàng bị thay đổi, hay tự ti, tự ái và bảo thủ bởi
vậy hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào người
H’Mông không chỉ là việc làm cho họ hiểu đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước quy định như thế nào mà quan trọng hơn là việc
đường lối và pháp luật đó có được thực hiện đúng đắn trên thực tiễn hay
không. Và điều rất quan trọng là chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật phải là
người gương mẫu. So với mặt bằng chung, đồng bào người H’Mông còn chịu
nhiều thiệt thòi, ít có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật và sử dụng
phương tiện, công cụ pháp luật để tự bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng
của mình. Điều đó đòi hỏi phải có những hình thức, biện pháp phù hợp và
hiệu quả hơn để hỗ trợ một cách thiết thực cho những đối tượng này có được


16

hiểu biết các quyền và nghĩa vụ của mình, được tạo điều kiện thuận lợi trong
việc sử dụng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp. Đó chính là cách thể
hiện đường lối của Đảng về xóa đói, giảm nghèo trong lĩnh vực pháp luật.
Ngoài ra, đồng bào người H’Mông là dân tộc thiểu số duy nhất ở
nước ta đã đạt đến một trình độ phát triển cao, xây dựng được quốc gia dân
tộc độc lập, tổn tại hàng ngàn năm. Sau hơn 300 năm tồn tại và phát triển
cùng cộng đồng dân tộc Việt Nam, tuyệt đại đa số đồng bào người H’Mông
đều coi dân tộc mình là một bộ phận cấu thành không thể tách rời cộng đồng
quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, ý thức về cội nguồn dân tộc, đặc biệt là ý thức
sâu sắc về việc bảo tồn chính sự tồn tại của dân tộc mình, luôn tiềm ẩn trong
cư dân nhất là trong giới trí thức, nhân sĩ H’Mông. Đây là vấn đề hết sức
nhạy cảm cần đặc biệt lưu ý trong việc lựa chọn hình thức, phương pháp
tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ ba, PBGDPL cho đồng bào dân tộc H’Mông vừa mang tính
chất thuyết phục, tự nguyện vừa mang tính chất cưỡng chế, bắt buộc.
PBGDPL là trách nghiệm, nghĩa vụ của Nhà nước đối với công dân. Song
song với điều đó, công dân cũng có nghĩa vụ phải thực hiện pháp luật. Muốn
thực hiện được pháp luật đúng và đủ, công dân phải biết và hiểu các quy định
pháp luật. Đối với trình độ dân trí cũng như đặc điểm sinh sống của đồng bào
dân tộc H’Mông, họ xem thường pháp luật và không nhận thức được sự cần
thiết, vai trò của pháp luật trong đời sống của họ. Đặc biệt, đồng bào dân tộc
H’Mông có bản tính rất dễ tự ái và tỏ ra chai lỳ, bất cần. Vì thế, đa số tâm lý
chung của đồng bào dân tộc H’Mông là không hề hưởng ứng phong trào tìm
hiểu pháp luật. Bởi lẽ vậy, để có thể thực hiện tốt công cuộc cải cách , xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì Nhà nước cần phải thực hiện chương
trình PBGDPL trên quy mô mở rộng phạm vi và đối tượng, đặc biệt là đối với
đồng bào DTTS nói chung và đối với đồng bào dân tộc H’Mông nói riêng.
Do đồng bào H’Mông là đối tượng đặc thù, nên phương pháp PBGDPL cho


17

đối tượng này phải kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế. Ngoài việc phổ
biến nhẹ nhàng bằng lời nói, truyền miệng, các phương thức quảng bá thì
phải có những biện pháp mang tính chất răn đe, và cảnh cáo đối với những
đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có tư tưởng chống đối.
1.1.3. Vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
H’Mông
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai
trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa
hiện nay; là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; là trách
nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các
tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức,
hành động của từng chủ thể trong xã hội. PBGDPL là cầu nối để truyền tải
pháp luật vào cuộc sống. Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc
sống được bắt đầu bằng hoạt động PBGDPL. Pháp luật là công cụ để điều
chỉnh xã hội của Nhà nước và cũng là thiết chế để bảo vệ quyền và nghĩa vụ
của công dân nói chung, của đồng bào dân tộc H’Mông nói riêng.
Thứ nhất, PBGDPL sẽ góp phần nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa
– xã hội của đồng bào dân tộc H’Mông.
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong
xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy
rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện
vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Tuy
nhiên, dù những quy định pháp luật có tốt đẹp nhưng không được nhân dân
biết đến thì vẫn không đi vào cuộc sống. Nhất là khi sống trong điều kiện văn
hóa rất khó khăn, đồng bào dân tộc H’Mông dường như không hề được tiếp
cận đến văn hóa pháp lý. Khi được khai sáng về văn hóa pháp lý, đồng bào


18

dân tộc H’Mông sẽ hiểu rõ những quyền và nghĩa vụ của mình; họ sẽ có thêm
hiểu biết về khuôn khổ pháp lý đặt ra cho việc kết hôn một vợ một chồng,
sinh con…
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật ở miền núi, vùng dân tộc thiểu
số là nhiệm vụ rất quan trọng. Nếu không giáo dục pháp luật, nâng cao dân trí
cho đồng bào dân tộc thiểu số thì không thể phát triển kinh tế - xã hội, không
thể đấu tranh tiến tới xóa bỏ các tệ nạn xã hội. Đối với đồng bào dân tộc
H’Mông cũng như vậy. Khi nhận thức được giá trị của pháp luật, họ sẽ có cơ
hội tìm hiểu những chính sách, chủ trương để nâng cao đời sống kinh tế, dễ
dàng tiếp nhận các công trình, thành tựu khoa học kĩ thuật nông nghiệp để áp
dụng vào đời sống…Ngoài ra, khi nhận thức được những thông tin về pháp
luật, đồng bào dân tộc H’Mông cũng có cơ hội tìm hiểu thêm được nhiều
hình thức kinh doanh khác, làm quen với nhiều hình thức kinh doanh để nâng
cao và cải thiện đời sống kinh tế của mình.
Thứ hai PBGDPL góp phần nâng cao nhận thức tri thức và ý thức
cho đồng bào dân tộc H’Mông
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, người dân trong xã
hội ấy không thể không hiểu biết luật và ý thức tuân thủ pháp luật. Điều dễ
nhận thấy là việc người dân thiếu hiểu biết pháp luật sẽ hạn chế nhiều trong
việc đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực, tệ nạn, hủ
tục lạc hậu trong đời sống xã hội, cũng như không thể hình thành các quan hệ
xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội
chủ nghĩa. Là dân tộc thiểu số, dân tộc H’Mông là một thành phần dân tộc
không thể tách rời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam có quyền và nghĩa vụ
như các dân tộc khác đang sống trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực
tế họ không hề nhận thức được điều đó. Vì vậy, việc PBGDPL sẽ tạo cơ hội


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×