Tải bản đầy đủ

Xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN ĐỨC ANH

XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Phương Lan.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,

được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Anh


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ Luật dân sự
Hôn nhân và Gia đình
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy
định chi tiết một số điều và biện pháp
thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất
Chế độ tài sản
Thời kỳ hôn nhân

BLDS
HN&GĐ
Nghị định 126/2014/NĐ-CP
GCNQSDĐ
QSDĐ
CĐTS
TKHN


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG ............................................................................................. 7
1.1. Khái quát tài sản chung của vợ chồng ....................................................... 7
1.1.1. Khái niệm chung về tài sản và quyền sở hữu tài sản ........................... 7
1.1.2. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng và đặc điểm quyền sở hữu tài
sản chung của vợ chồng ............................................................................... 10
1.2. Khái niệm xác định tài sản chung của vợ chồng...................................... 16
1.3. Ý nghĩa của việc xác định tài sản chung của vợ chồng ........................... 18
CHƢƠNG 2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM


2014 ................................................................................................................. 23
2.1. Xác định tài sản chung của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định ........ 23
2.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định .............. 23
2.1.2. Xác định tài sản chung của vợ chồng trong một số trường hợp ........ 42
2.2. Xác định tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng lựa chọn áp dụng chế
độ tài sản theo thỏa thuận ................................................................................ 58
2.2.1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (hôn
ước) .............................................................................................................. 58
2.2.2. Xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận ............................................... 59
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH TÀI
SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TẠI TÒA ÁN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN ................................................................................................. 63
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật xác định tài sản chung của vợ chồng tại Tòa
án. .................................................................................................................... 63
3.2. Những vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật xác định tài sản chung
của vợ chồng trong thực tiễn ........................................................................... 71


3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản chung của vợ
chồng ............................................................................................................... 76
KẾT LUẬN …………………………………………………………………83


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng điều
chỉnh hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ
và chồng. Gia đình là tế bào của xã hội. Để cho gia đình – xã hội tồn tại và
phát triển, cần có điều kiện cơ sở vật chất – là các tiền đề kinh tế cho sự phát
triển. Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân gia đình, khi vợ chồng về
chung sống với nhau nên đòi hỏi phải có một quy chế pháp lý để điều chỉnh
về xác định tài sản chung của vợ, chồng. Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là
quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kì hôn nhân, không
có tính đền bù ngang giá và khó xác định được công sức đóng góp cụ thể của
các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc xác định tài sản chung của vợ
chồng là rất phức tạp, gây nhiều tranh cãi.
Trong đời sống vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không chỉ nhằm
phục vụ nhu cầu đời sống chung của gia đình, đáp ứng các nhu cầu của vợ
chồng mà còn tham gia vào các giao dịch kinh tế, thương mại, dân sự trên thị
trường. Tài sản chung của vợ chồng không chỉ tồn tại ở trạng thái tĩnh mà còn
luôn biến động, lưu thông và chuyển từ dạng này sang dạng khác khi tham gia
vào các quan hệ kinh tế, dân sự, do đó việc xác định tài sản chung của vợ
chồng càng khó khăn, phức tạp hơn nhưng vì thế có ý nghĩa quan trọng và cần
thiết.
Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những quy định mới về tài sản chung của
vợ chồng, quy định về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong
đời sống gia đình và giao lưu dân sự, tuy nhiên những quy định đó còn bộc lộ
những điểm chưa rõ ràng, dẫn đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật khác
nhau, làm ảnh hưởng đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng nên cần
nghiên cứu để xác định rõ tài sản chung của vợ chồng trong những trường
hợp đó một cách khách quan, chính xác.


2

Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của xã hôi, số lượng các vụ tranh
chấp về tài sản chung là rất lớn, giá trị tranh chấp ngày càng tăng, do vậy,
nghiên cứu về vấn đề xác định tài sản chung của vợ chồng là vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng
của vợ chồng cũng như của người thứ ba có giao dịch với vợ chồng.
Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Xác định tài
sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên
cứu về xác định tài sản của vợ chồng luôn được quan tâm và chú ý, được
nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập.
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến tài sản của vợ chồng. Có thể kể đến những công trình sau:
- Luận án tiến sĩ “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và
Gia đình Việt Nam” năm 2005 của tác giả Nguyễn Văn Cừ. Luận án phân tích
một cách, toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về CĐTS của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam. Tác giả đã đưa ra được khái niệm và phân tích CĐTS của vợ
chồng. Luận án cũng đã chỉ rõ các căn cứ xác lập tài sản chung, nghĩa vụ
chung về tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000.
- Luận văn thạc sĩ “Xác định tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hồng Hải năm 2002. Luận văn phân
tích các căn cứ xác định tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000
và thực tiễn nghiên cứu, áp dụng chế định, tác giả đã làm rõ một số vấn đề về
lý luận và thực tiễn áp dụng chế định tài sản của vợ chồng, đưa ra những kết
luận và kiến nghị hoàn thiện chế định này. Tuy nhiên, hiện nay Luật HN&GĐ
năm 2014 đã có hiệu lực, do vậy, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu
mới, bởi vì Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật HN&GĐ năm 2000 có nhiều nét
khác biệt, ảnh hưởng đến việc xác định tài sản của vợ chồng


3

- Luận văn thạc sĩ “Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản
chung của vợ chồng”của tác giả Nguyễn Thanh Hà năm 2016. Về mặt lý
luận, luận văn đã đưa ra được khái niệm, nội dung về tài sản chung và sở hữu
chung của vợ chồng, khái quát chung những vấn đề lý luận về chế độ sở hữu
chung của vợ chồng. Luận văn cũng nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật
và thực thi pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng và chia tài sản chung của
vợ chồng ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những bất cập, tồn tại của hệ thống
pháp luật cũng như thực tiễn quá trình áp dụng. Tác giả cũng đưa ra được
những đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng và chia tài sản
chung của vợ chồng ở Việt Nam. Mặc dù tác giả có đề cập đến các căn cứ xác
lập tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ chung
nhất và chỉ phân tích chuyên sâu đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng.
Nhóm các luận văn thạc sĩ: “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam - thực tiễn áp dụng và hƣớng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn
Thị Hạnh năm 2012, “Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Lan năm 2012,
“Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” của
tác giả Đinh Thị Minh Mẫn năm 2014. Tất cả những luận văn này đều có một
đối tượng nghiên cứu rõ ràng và ít nhiều đều đề cập đến vấn đề xác định tài
sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, các luận văn này chỉ có liên quan một
phần nhỏ đến đề tài của tác giả. Chưa có luận văn nào nghiên cứu độc lập và
có hệ thống về xác định tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm
2014.
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008),
Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc
Điện, Nxb Trẻ, 2004)… Các cuốn sách trên đều là những công trình bình
luận, giải thích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, các vấn đề liên


4

quan đến xác định tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được phân tích một
cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích một cách
chuyên sâu và cụ thể. Có thể nói, những công trình trên đây chủ yếu đề cập
đến góc độ khái quát, xem xét bao quát chung chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu
riêng về các quy định liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ,
chồng.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân (Phùng Trung Tập, Nghiên cứu lập pháp, Số
10/2012), Một số vấn đề liên quan về chia tài sản chung (Đặng Mạnh Cẩm
Yến,Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao, Số 10/2013); Một số vấn đề về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (Đỗ Văn Nhật, tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, Số 3/2012)… Các bài viết này phân tích một số vấn đề liên quan
đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên do tính chất của một
bài báo, tạp chí, các tác giả chỉ mới đề cập đến một khía cạnh hoặc một
trường hợp cụ thể liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn;
Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và các quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định tài sản chung của vợ
chồng và thực tiễn áp dụng pháp luật xác định tài sản chung của vợ chồng tại
Tòa án.
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả nghiên
cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định tài sản chung của
vợ chồng. Về mặt thực tiễn, tác giả nghiên cứu những vụ việc trước và sau
khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực bao gồm cả những vụ việc áp dụng
luật cũ, tuy nhiên, về bản chất vẫn là xác định tài sản chung của vợ chồng khi
có tranh chấp xảy ra.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu:


5

Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề về xác định
tài sản chung của vợ chồng và thực tiễn áp dụng tại Tòa án. Qua đó phát hiện
những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những
khiếm khuyết, sai sót khi áp dụng pháp luật để xác định tài sản chung của vợ,
chồng. Đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc
xác định tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ,
chồng và những người liên quan.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của việc xác định tài sản chung của vợ, chồng;
- Nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật để xác định tài sản chung của
vợ chồng;
- Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để xác định tài sản chung của vợ chồng,
phát hiện những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như
thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất các kiến nghị cần thiết.;
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích,
tổng hợp, logic, lịch sử, …. nhằm làm rõ các vấn đề trong luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đây là một đề tài có tính chuyên sâu đồng thời có tính thực tiễn sâu sắc
trong chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình. Đề tài chú trọng nghiên cứu
những vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc xác định tài sản chung của vợ
chồng. Qua đó phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của
pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp
luật theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Trên cơ sở đó luận văn đề
xuất một số ý kiến để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên và hoàn thiện
pháp luật về xác định tài sản chung của vợ chồng để có thể tiết kiệm được
thời gian, chi phí và đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên
quan


6

7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản chung của vợ chồng.
Chƣơng 2: Những nội dung cơ bản về xác định tài sản chung của vợ chồng
theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về xác định tài sản chung của vợ
chồng và một số kiến nghị hoàn thiện.


7

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái quát tài sản chung của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm chung về tài sản và quyền sở hữu tài sản
*Khái niệm tài sản
Theo cuốn Từ điển luật học, tài sản là của cải, vật chất dùng vào mục
đích sản xuất và tiêu dùng. Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, khó để
định nghĩa cụ thể. Pháp luật các nƣớc thƣờng không đƣa ra định nghĩa cụ thể
về tài sản mà nó thƣờng đƣợc hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc
hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác.1
Tài sản là một vấn đề rất quan trọng trong khoa học pháp lý, đặc biệt
trong lĩnh vực dân sự. Phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự đều có khách thể
là tài sản. Hiện nay có nhiều cách hiểu về tài sản. Theo cách hiểu thông
thường, tài sản là những của cải, vật chất được con người sử dụng vào mục
đích sản xuất hoặc tiêu dùng, do vậy nếu hiểu theo cách này thì tài sản chỉ là
vật cụ thể - một bộ phận của thế giới vật chất, có thể định giá được và cảm
giác được qua các giác quan của con người.
Tuy nhiên, trên thực tế tài sản được sử dụng trong các giao dịch dân sự
rất đa dạng, không chỉ là vật cụ thể mà còn dưới nhiều dạng thức khác nhau
mà phổ biến nhất là tiền. Do sự phong phú của các loại tài sản mà cần thiết
phải có một định nghĩa khái quát, rõ ràng để xác định các loại tài sản. Điều
105 BLDS 2015 quy định: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có
thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tƣơng lai.

1

Nguyễn Thị Hạnh (2012), Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - thực tiễn áp dụng và
hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 9


8

Theo đó, tài sản có thể là động sản và bất động sản, bao gồm: vật, tiền,
giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Vật: Khái niệm vật trong tự nhiên được hiểu là: cái có hình khối, tồn tại
trong không gian, có thể nhận biết được. Như vậy, vật tồn tại ở nhiều hình
thức và trạng thái khác nhau, là một bộ phận của thế giới vật chất. Vật có thể
có nguồn gốc từ tự nhiên (khoáng sản, đất đai…) hoặc do con người làm ra
(nhà cửa, máy móc…). Trong đời sống xã hôi, vật sẽ trở thành tài sản nếu nó
là vật có thực, được con người sử dụng đáp ứng các nhu cầu của mình. Đó có
thể là nhu cầu về sử dụng – tiêu dùng, nhu cầu trao đổi, buôn bán… Nói
chung, vật là tài sản khi nó đem lại được lợi ích cho con người. Ngoài ra, vật
phải là thứ mà con người có thể chiếm giữ được
Tiền: Tiền là một công cụ thanh toán đa năng, là một vật ngang giá. Tiền
có thể được đúc bằng kim loại hoặc bằng giấy. Dưới góc độ kinh tế, tiền đại
diện cho giá trị của hàng hóa, dịch vụ, là phương tiện thanh toán đa năng và
có tính thanh khoản cao nhất. Không chi là tài sản, tiền còn đại diện cho chủ
quyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nước.
Giấy tờ có giá: Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, giấy
tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển
nhượng khác, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu, tín
phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ làm phát sinh nghĩa vụ
trả nợ, mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán…… Như vậy, giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng một
khoản tiền, được phép giao dịch và sử dụng như tiền khi pháp luật cho phép.
Khi đáp ứng được các điều kiện này thì giấy tờ có giá là tài sản. Ở nước ta,
việc sử dụng giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản cần tuân theo quy
chế và thủ tục được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.
Quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền của chủ thể gắn liền với một tài
sản nào đó và chủ yếu là quyền hưởng lợi từ tài sản. Trên thực tế, quyền tài
sản rất đa dạng: quyền đòi nợ, quyền cho thuê tài sản, quyền hưởng lợi tức cổ


9

phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả các tác phẩm văn học, quyền nhận
thù lao của chủ văn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, quyền tài sản
phát sinh từ hợp đồng. Bên cạnh những quyền tài sản phổ biến này, ở nước ta
còn có một loại quyền tài sản đặc biệt đó là QSDĐ. QSDĐ là một loại tài sản
có giá trị lớn, có thể đưa vào giao lưu dân sự thông qua việc chủ sử dụng đất
thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, góp
vốn, thế chấp, thừa kế…
Tài sản còn có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong
tương lai.
* Khái niệm quyền sở hữu tài sản
Quyền sở hữu là vấn đề quan trọng của pháp luật dân sự, các quan hệ tài
sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu vì quan hệ sở hữu là tiền đề, là xuất phát
điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác. Tài sản và quyền sở hữu là vừa
là đối tượng, vừa là khách thể của quan hệ sở hữu. Quyền sở hữu là vấn đề có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp
luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế,
vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể
đƣợc thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản2.
Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh…
Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu và các quan hệ pháp
luật dân sự có mối quan hệ phụ thuộc, chi phối lẫn nhau. Giao dich dân sự là
một trong những căn cứ phổ biến để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản
thông qua thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên, trong khi đó, muốn
tham gia giao dịch dân sự thì chính các chủ thể đó phải có tài sản, và tài sản
đó phải được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Tuỳ thuộc
2

Trần Thị Huệ (2007), Chủ sở hữu và quyền năng của chủ sở hữu, chuyên đề cho hội thảo khoa học cấp
trường do bộ môn Luật dân sự - khoa Luật dân sự Đại học Luật Hà Nội tổ chức ngày 11/12/2007 trích trên
website: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/01/03/35325/ truy cập ngày 28/07/2017.


10

vào pháp luật của mỗi chế độ chính trị khác nhau mà các căn cứ làm phát sinh
quyền sở hữu trong các chế độ đó cũng được qui định khác nhau. Các căn cứ
này phản ánh bản chất và xu thế phát triển của mỗi chế độ xã hội. Nội dung
các căn cứ có bao quát hay hạn hẹp, cụ thể hay khái lược đều thể hiện quan
điểm của giai cấp thống trị và phù hợp với thực tế của xã hội ở thời điểm nhất
định.
Theo nghĩa khách quan: quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh
các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các
qui phạm pháp luật nhằm điều chỉnh nhũng quan hệ sở hữu trong một chế độ
xã hội. 3
Quyền sở hữu theo nghĩa hẹp: được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật
cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt trong những điều kiện nhất định. 4
1.1.2. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng và đặc điểm quyền sở
hữu tài sản chung của vợ chồng
*Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tồn tại và phát triển cần phải có
các điều kiện vật chất – cơ sở kinh tế để nuôi sống gia đình. Để đảm bảo các
điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ… vợ chồng cần phải có
tài sản. Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu cầu vật chất,
tinh thần của gia đình. Kể từ thời điểm kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung
sống, gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để
bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn các nhu cầu về vật
chất khác và tinh thần của các thành viên trong gia đình. Tài sản chung của vợ
chồng là cơ sở vật chất để đáp ứng các nhu cầu này.

3
4

Trần Thị Huế, tlđd chú thích 2.
Trần Thị Huế, tlđd chú thích 2.


11

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng,
là hình thức sở hữu chung đặc biệt. Sự tồn tại của tài sản chung của vợ chồng
phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Như vậy, có thể đưa ra khái
niệm tài sản chung của vợ chồng như sau“tài sản chung của vợ chồng là vật,
giấy tờ có giá và quyền tài sản hiện có hoặc hình thành trong tƣơng lai thuộc
sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung vợ
chồng”.
Chủ thể của tài sản chung của vợ và chồng là vợ chồng, những người đã
được xác lập quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa
vụ pháp lý trong mối quan hệ pháp luật đó. Với tư cách là đồng chủ sở hữu,
vợ chồng bình đẳng với nhau khi thực hiện quyền sở hữu với tài sản chung.
Sự bình đẳng trong quyền sở hữu đối với tàn sản chung được thể hiện cụ thể ở
ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong gia đình, vợ và chồng
đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai
thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như quyền định đoạt tài sản đó.
Vợ, chồng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm đảm
bảo đời sống chung gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung
đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống chung vợ chồng và các thành viên
khác trong gia đình.
*Đặc điểm sở hữu tài sản chung của vợ chồng
- Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng là một khối cộng đồng tài sản
Tài sản chung của vợ chồng là một khối tài sản được tạo ra bởi công sức
đóng góp của vợ, chồng. Hai quan niệm phổ biến mà các nhà làm luật hoặc
hai bên nam nữa trước khi kết hôn thường dựa vào để quy định về tài sản của
vợ chồng:
Quan niệm thứ nhất: Sau khi kết hôn hợp pháp, vợ và chồng sẽ có đời sống
chung, cùng sinh sống với nhau, do vậy, để giải quyết các nhu cầu của cuộc


12

sống chung thì cần phải có tài sản chung của vợ chồng (CĐTS của vợ chồng
được thiết lập theo tiêu chuẩn cộng đồng).
Quan niệm thứ hai: Phải tôn trọng tuyệt đối quyền sở hữu riêng của mỗi
người, không có tài sản chung giữa vợ và chồng (CĐTS được thiết lập theo
tiêu chuẩn phân sản).
Xuất phát từ hai quan niệm trên, các nhà làm hoặc hai bên nam nữ có thể
tự thiết lập, thỏa thuận để đưa ra một CĐTS phù hợp nhất với tình hình kinh
tế xã hội và nhu cầu của bản thân.
* Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn cộng đồng, bao gồm các
chế độ sau:
- Chế độ cộng đồng toàn sản: Theo CĐTS này, thì tất cả các tài sản mà
vợ chồng có được trước và sau khi kết hôn đều thuộc khối tài sản chung của
vợ chồng, do đó, vợ và chồng không có tài sản riêng cho đến khi hôn nhân kết
thúc. Những tài sản mà một bên vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn do
công sức của vợ, chồng tạo dựng hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng;
những tài sản mà vợ chồng tạo dựng trong thời kì hôn nhân, không kể nguồn
gốc, công sức đóng góp của vợ, chồng; những tài sản mà vợ chồng được tặng
cho riêng, thừa kế riêng trong TKHN đều là tài sản chung của vợ chồng.
CĐTS này phù hợp với các gia đình truyền thống, tuy nhiên, trong xã hội hiện
đại ngày nay đã không còn phù hợp, không có tính khả thi.
- Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản: Theo CĐTS này thì thành phần
tài sản chung đã được thu hẹp lại, cho phép vợ và chồng có tài sản thuộc sở
hữu riêng của mình. Với quan niệm cần phải dành cho mỗi bên vợ, chồng
được quyền giữ lại một số tài sản làm của riêng và dựa trên sự phân tách giữa
hai loại tài sản là bất động sản hay là động sản. Do vậy, CĐTS của vợ chồng
theo tính chất cộng đồng động sản và tạo sản thì khối tài sản chung của vợ
chồng bao gồm tất cả các động sản của hai bên vợ chồng hiện có khi xác lập
quan hệ hôn nhân và những tài sản (kể cả động sản và bất động sản) mà vợ,
chồng tạo ra được trong TKHN.


13

- Chế độ cộng đồng tạo sản: Theo quy định của CĐTS này, thành phần,
phạm vi các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng được thu hẹp
hơn nữa so với chế độ cộng đồng động sản và tạo sản. Dưới CĐTS này, tài
sản chung của vợ chồng chỉ còn bao gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra
trong TKHN, cùng các hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản của hai vợ chồng.
Đối với những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn,
hoặc được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong TKHN (không kể là động
sản hay bất động sản) sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng.
Dựa trên các điều kiện kinh tế xã hôi, tập quán truyền thống của gia đình
Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu chế độ cộng đồng tài sản cho
các cặp vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản. Chế độ này có nhiều ưu điểm
như: phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường; tạo cho vợ chồng linh hoạt khi
thực hiện quyền sở hữu chung và tính độc lập khi định đoạt tài sản riêng của
vợ chồng, vì lợi ích chung của gia đình; vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng về
tài sản của vợ chồng, mặt khác bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của những
người có liên quan đến tài sản của vợ chồng. Ngoài ra, quy định về chế độ
cộng đồng tạo sản của vợ chồng với các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản
chung, tài sản riêng của vợ chồng, tạo cơ sở pháp lý trong thực tế áp dụng khi
Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với
người khác.5
Trên cơ sở kế thừa, phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ trước đây và
đảm bảo sự phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, Luật HN&GĐ
năm 2014 dự liệu CĐTS vợ chồng luật định là chế độ cộng đồng tạo sản.
Theo chế độ cộng đồng tạo sản, trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng tồn tài
ba khối tài sản: tài sản chung của vợ chồng; tài sản riêng của chồng; tài sản
riêng của vợ.

5

Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận án
tiến sĩ Luật học, trường Đại học luật Hà Nội, tr. 86.


14

Chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn không có cộng đồng tài sản
(chế độ phân sản hay còn gọi là chế độ biệt sản).
Theo chế độ này, giữa vợ và chồng không có khối tài sản chung. Tất cả
các loại tài sản mà mỗi bên vợ, chồng đã có từ trước khi kết hôn hoặc tạo ra
được (hoặc có được do tặng cho riêng, thừa kế riêng) trong TKHN đều thuộc
sở hữu riêng của vợ, chồng. Người vợ, chồng có toàn quyền trong việc chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình. Mặc dù theo chế độ phân
sản không tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên, trong quá trình
sinh sống cùng nhau, vợ và chồng chắc chắn phải chi tiêu chung nhiều khoản,
do đó sẽ xuất hiện khối tài sản mà không phân biệt được đó là tài sản chung
hay tài sản riêng; khối tài sản này phải được xác định là tài sản chung của vợ
chồng. Vợ chồng phải cùng bàn bạc, thỏa thuận đóng góp vào chi tiêu cho đời
sống gia đình.
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là một khối cộng đồng tài sản, khối
cộng đồng tài sản này đáp ứng các nhu cầu chung của đời sống gia đình và
thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng bảo đảm nhu cầu và lợi ích chung
của gia đình, đảm bảo sự phát triển của gia đình
Tài sản chung của vợ chồng được tạo nên với mục đích căn bản là đáp
ứng nhu cầu, lợi ích chung của gia đình. Những nhu cầu rất cơ bản như: ăn,
mặc, ở bởi vì mỗi cặp vợ chồng khi kết hôn đều mong muốn xây dựng một
gia đình ấm no, hạnh phúc, nó là cơ sở để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của
gia đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó. Để
đáp ứng nhu cầu của cuộc sống gia đình, vợ chồng không chỉ bó hẹp trong
quan hệ gia đình mà cần có sự trao đổi, giao dịch với nhiều người khác. Khi
thực hiện các giao dịch đó, vợ chồng có thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản
riêng của mình; mục đích của các giao dịch có thể nhằm đáp ứng nhu cầu
chung, thiết yếu của gia đình, cũng có thể đáp ứng nhu cầu riêng của cá nhân
vợ hoặc chồng. Ngoài mục đích bảo đảm nhu cầu vì lợi ích chung của gia


15

đình, tài sản chung của vợ chồng có thể được sử dụng để đưa vào kinh doanh,
hưởng hoa lợi, lợi tức…
- Thứ ba, không phân biệt công sức đóng góp của vợ chồng trong khối
tài sản chung
Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung công sức
trong việc tạo nên khối tài sản nhằm xây dựng gia đình, bảo đảm cho gia đình
thực hiện tốt chức năng xã hội của nó như phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt
cho việc nuôi dạy con. Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do
công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo
ra trong thời ký hôn nhân. Thực tiễn cho thấy công sức đóng góp đối với tài
sản có nhiều loại: công sức tạo lập tài sản, phát triển tài sản; công sức giữ gìn
tài sản, bảo quản tài sản, tôn tạo tài sản; công sức làm tăng giá trị của tài sản6
… Tài sản chung của vợ chồng không đòi hỏi phải do hai bên trực tiếp tạo ra.
Lao động trong gia đình cũng được coi như lao động sản xuất. Trong khối tài
sản chung, không phân biệt được phần tài sản của mỗi bên và cũng không
phân biệt mức độ thu nhập của vợ chồng.
- Thứ tƣ, là một khối tài sản chung có thể phân chia theo yêu cầu của vợ
chồng hoặc theo quy định của pháp luật
Tài sản chung của vợ chồng là một tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
có thể phân chia được. Vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với
tài sản chung. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần thiết, tài sản chung của
vợ chồng cần phải phân chia để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng và
của người khác có liên quan. Vợ hoặc chồng có thể tự mình yêu cầu chia tài
sản chung .Vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong TKHN hoặc
yêu cầu tòa án chia. Khi ly hôn, nếu không thống nhất được vấn đề tài sản thì
vợ, chồng cũng có thể yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản của mình theo
quy định của pháp luật.

6

http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1869 truy cập ngày 25/07/2017


16

- Thứ năm, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các quyền tài sản
hình thành từ tài sản chung của vợ chồng
Trong xã hội hiện đại ngày nay, vợ chồng ngày càng tham gia đa dạng
hơn vào các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại. Các hoạt động này tạo ra
tài sản chung cho vợ chồng nhưng cũng có thể là những nghĩa vụ chung về tài
sản mà vợ chồng phải trả. Tài sản của vợ chồng không chỉ còn là những tài
sản "tĩnh" phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày mà còn bao
gồm cả những tài sản "động" đang tham gia vào sự vận động của nền kinh tế.7
Khi thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh này vợ chồng có thể
sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riêng của mình để tham gia vào các giao
dịch đó. Trong nhiều trường hợp, do nhu cầu kinh doanh vợ chồng có thể chia
tài sản chung để một bên đầu tư kinh doanh riêng. Do vậy quyền và nghĩa vụ
tài sản của vợ chồng đối với nhau và với bên thứ ba có quan hệ tài sản với vợ
chồng trong những trường hợp này là khác nhau. Việc xác định đúng đắn
quyền và nghĩa vụ phát sinh từ tài sản của vợ chồng không những đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên mà còn tránh xảy ra những mâu thuẫn,
tranh chấp không đáng có. Các hoạt động này tạo ra tài sản chung cho vợ
chồng nhưng cũng có thể là những nghĩa vụ chung về tài sản mà vợ chồng
phải trả.
1.2. Khái niệm xác định tài sản chung của vợ chồng
Theo Từ điển tiếng Việt, từ “xác định” có nghĩa: “Qua nghiên cứu để
biết đƣợc chính xác”. Việc nghiên cứu và chỉ rõ, phân biệt tài sản chung của
vợ chồng phải dựa trên cơ sở của pháp luật và việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng đối với tài sản. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp pháp
luật đều quy định rõ về xác định tài sản chung của vợ chồng. Trong thực tế có
trường hợp áp dụng sai quy định của pháp luật. Hơn nữa, trong thực tế cuộc
sống, để duy trì và phát triển kinh tế gia đình, cũng như để đáp ứng những
7

Vũ Thị Chiêm (2013), Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 6.


17

nhu cầu thiết yếu của bản thân, người vợ và người chồng phải tham gia vào
các giao dịch dân sự, thương mại bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng.
Do tính chất mối quan hệ tài sản trong quan hệ hôn nhân là không có sự
phân biệt rạch ròi nên trong nhiều trường hợp tài sản chung, tài sản riêng của
vợ chồng có sự trộn lẫn. Trong cuộc sống, do nhu cầu phát sinh mà tài sản
riêng có thể đưa vào sử dụng chung nên dễ bị trộn lẫn, sáp nhập, nhiều người
đã đưa tài sản riêng của mình vào sử dụng chung trong TKHN và vô tình làm
mất quyền sở hữu tài sản riêng độc lập của mình. Để đảm bảo được tính công
bằng, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng đối với tài sản riêng của
mình, cần phải xác định được rõ ràng đâu là tài sản riêng và đâu là tài sản
chung trong trường hợp tài sản bị trộn lẫn, sáp nhập.
Trong cuộc sống chung của vợ chồng, ngoài việc thu được tài sản từ
những hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động, vợ chồng còn có thể phải
thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa
vụ trả nợ những khoản vay chung, nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Việc xác định tài sản chung luôn gắn
liền với việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng trong đời sống.
Xác định tài sản chung của vợ chồng không chỉ là xác định tiền, vật, tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà còn bao gồm những quyền tài sản
như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán các khoản nợ… và các nghĩa vụ
về tài sản khác. Quyền đòi nợ là một loại tài sản không thể nắm giữ trực tiếp.
Quyền đòi nợ có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa
là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản. Quyền
đòi nợ chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật
ghi nhận và bảo vệ. Quyền đòi nợ là một loại quyền có giá trị tiền tệ nhưng
không có đối tượng là một vật hữu hình nào cả: người có quyền đòi nợ thực
hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ
và tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó dưới hình thức nhận một khoản tiền.
Đối tượng của quyền đòi nợ chính là một khoản tiền sẽ được thanh toán vào


18

một thời điểm nhất định, có thể trong TKHN hoặc sau TKHN (khi vợ chồng
ly hôn). Quyền đòi nợ của vợ hoặc chồng không phụ thuộc vào thời điểm trả
nợ của người vay mà chỉ phụ thuộc vào thời điểm phát sinh khoản nợ.
Khác với quan hệ tài sản trong dân sự, các bên có thể tự do thỏa thuận
các quyền và nghĩa vụ của mình một cách linh hoạt miễn sao nó không trái
với các quy định của pháp luật, còn trong quan hệ hôn nhân và gia đình quyền
và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng luôn bị chi phối trước tiên bởi lợi ích chung
của gia đình, của các con. Do vậy các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
không chỉ liên quan đến bản thân vợ, chồng mà còn liên quan đến gia đình,
đến các con nên vợ chồng không thể tự ý thỏa thuận thay đổi nếu pháp luật
không có quy định. Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong TKHN
chỉ phát sinh khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chỉ tồn tại trong TKHN.
Quyền và nghĩa vụ tài sản này sẽ chấm dứt khi vợ chồng ly hôn hoặc do vợ,
chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Như vậy có thể thấy sự kiện
phát sinh và chấm dứt quan hệ hôn nhân là căn cứ phát sinh cũng như chấm
dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng.
Xác định tài sản chung của vợ chồng có thể do vợ, chồng tự thực hiện
trong cuộc sống hoặc yêu cầu Tòa án xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài
sản riêng khi vợ chồng có tranh chấp dựa trên các căn cứ pháp luật quy định.
Như vậy, có thể định nghĩa xác định tài sản chung của vợ chồng là: “Xác
định tài sản chung của vợ chồng là việc phân biệt, xác định rõ những tài sản
nào là tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản chung với ngƣời khác
hoặc với tài sản riêng của vợ, chồng qua việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng về tài sản đồng thời định rõ tài sản chung hoặc các khoản nợ
chung của vợ chồng trong các giao dịch dân sự, thƣơng mại với ngƣời thứ ba
dựa trên các căn cứ, quy định của pháp luật”.
1.3. Ý nghĩa của việc xác định tài sản chung của vợ chồng
Xác định tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt
kể cả về mặt lý luận và thực tiễn.


19

- Xác định tài sản chung của vợ chồng giúp bảo vệ được quyền và lợi ích
về tài sản của vợ chồng. Khi cuộc sống hôn nhân hạnh phúc thì ranh giới tài
sản chung, tài sản riêng không quan trọng. Tuy nhiên, khi vợ chồng phát sinh
những mâu thuẫn gay gắt thì vấn đề tranh cãi nhiều nhất là tài sản. Vì vậy
việc xác định đâu là tài sản chung của vợ và chồng là rất cần thiết để bảo vệ
quyền lợi trước hết của người vợ và người chồng, sau đó là các thành viên
khác trong gia đình.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng chính xác sẽ giúp vợ, chồng xác
định được quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với gia đình, đối với nhau và đối
với con cái và cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ,
chồng. Đồng thời còn xác định rõ trách nhiệm của các bên trong việc quản lý,
sử dụng, định đoạt tài sản. Qua đó giúp xác định nghĩa vụ mà vợ chồng phải
thực hiện được đảm bảo bằng tài sản chung hay tài sản riêng. Để đảm bảo
được nhu cầu của gia đình và bản thân, vợ và chồng phải tham gia vào nhiều
các giao dịch dân sự, thương mại với người thứ ba, khiến cho vấn đề tài sản
giữa vợ chồng ngày càng phức tạp, nhất là trong tình hình phát triển của nền
kinh tế hiện nay : “nhƣ một hệ quả đƣơng nhiên, các mối quan hệ xã hội sẽ
phức tạp hơn nhiều, trong đó có các mối quan hệ gia đình mà đặc biệt là
quan hệ sở hữu tài sản vợ chồng, khi vợ chồng là các chủ thể của hoạt động
sản xuất, kinh doanh hoặc là chủ thể liên quan trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh”8. Như vậy, xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân vợ chồng, mà thông qua đó
còn bảo vệ lợi ích của bên thứ ba khi có tranh chấp.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng, cũng như xác định trách nhiệm
về tài sản của vợ chồng là cơ sở để đảm bảo các giao dich với người thứ ba
được minh bạch, rõ ràng. Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung
của vợ chồng không chỉ do Luật HN&GĐ điều chỉnh mà còn chịu sự chi phối
8

Nguyễn Thị Lan (2008), Một số vấn đề về nguyên tắc xác định tài sản chung, tài sản riêng và trách nhiệm
tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Đề tài khoa học cấp trường: Tài sản của vợ chồng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 57.


20

của các luật chuyên ngành khác như: Luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật
đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật thương mại… Trong quá trình lao động, sản
xuất, kinh doanh vợ chồng có thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riêng tùy
từng mục đích. Khi vợ, chồng tham gia vào các hoạt động trên thì việc xác
định quyền hạn, trách nhiệm của họ đối với tài sản là vô cùng quan trọng.
Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng có thể ảnh
hưởng đến lợi ích hợp pháp của bên còn lại, của các thành viên trong gia đình
và cả các tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong quá trình tham gia vào các giao lưu dân sự, thương mại, ngoài
quan hệ tài sản chung với nhau, vợ và chồng có thể có khối tài sản chung với
những người khác. Ví dụ, vợ và chồng cùng đóng góp tiền để mua một mảnh
đất với người thứ ba. Do vậy, xác định tài sản chung của vợ chồng là cơ sở để
phân biệt tài sản chung của vợ chồng với người thứ ba trong khối tài sản
chung của họ. Đó là cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ
chồng với nhau hoặc với người khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng
của vợ, chồng hay người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của
vợ chồng.Thông qua việc xác định chính xác tài sản chung trong những
trường hợp này sẽ tháo gỡ, hạn chế mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ - chồng, giữa
vợ, chồng với các người khác, giúp họ có đủ niềm tin, động lực, điều kiện để
duy trì cuộc sống. Như vậy, việc xác định tài sản chung của vợ chồng là công
việc có ý nghĩa quan trọng, vừa đảm bảo pháp luật được thi hành, tăng cường
pháp chế trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vừa hạn chế được những mâu
thuẫn, bất đồng giữa người vợ, người chồng.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng sẽ đảm bảo được việc phân chia
tài sản chung trong những trường hợp cần thiết một cách chính xác. Xác định
tài sản chung của vợ chồng là cơ sở pháp lý để chia tài sản trong các trường
hợp cần thiết như ly hôn, chia tài sản chung trong TKHN hay chia tài sản
chung khi một bên chết trước.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×