Tải bản đầy đủ

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

NGUYỄN THU THƯƠNG

TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đăng Doanh

HÀ NỘI -2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Thương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

TAND

: Tòa án nhân dân

VKSND

: Viện Kiểm sát nhân dân


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................6
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội sản xuất, buôn bán hàng giả ...................6
1.1. Khái niệm hàng giả...........................................................................................6
1.2. Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả ....................................................12
1.3. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả ...........................................................................................................12
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985..........12


1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật Hình sự năm 1999 ............................................................................16
1.3.3. Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành .........................19
Chương 2. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả ....................................................................................................................24
2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả 24
2.1.1. Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả .................................45
2.1.2. Hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng..........................................48
2.2. Những điểm mới trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) về tội sản xuất, buôn bán hàng giả .............................................63
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số đề xuất, kiến nghị ............................71
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sản xuất,
buôn bán hàng giả .................................................................................................71
3.2.Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả……………………………...………………………..…..83
KẾT LUẬN……………………………………...…………………………...……94


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa các
thành phần kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hóa được mở rộng tự do hơn. Chính vì lẽ
đó, thị trường hàng hóa nước ta ngày nay, bên cạnh sự đa dạng của hàng hóa sản
xuất trong nước, còn hiện diện hầu hết sản phẩm nổi tiếng trên thế giới. Điều đó cho
thấy, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, đời sống người dân ngày
càng được nâng cao, sản phẩm do xã hội tạo ra phong phú hơn trước. Đây là thành
quả mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi
mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đó, một vấn đề nhức nhối của xã hội
mà chúng ta cần quan tâm là tình hình tội phạm ngày một gia tăng và có chiều
hướng phức tạp, với nhiều thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn, đặc biệt là tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội
phạm kinh tế đã gây nên những tác hại hết sức to lớn trên nhiều mặt kinh tế, xã hội
của đất nước. Trước hết nó gây nên những thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước, cho
các đơn vị sản xuất, kinh doanh và cho cả người tiêu dùng. Tội phạm này còn tác
động xấu đến môi trường cạnh tranh và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, làm
giảm sút lòng tin của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh. Chính
điều đó làm cho các nhà đầu tư trong nước thiếu an tâm khi đầu tư, phát triển sản
xuất, kinh doanh. Hiện nay, hàng giả tại Việt Nam xuất hiện hầu như trong mọi lĩnh
vực và bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa. Hàng giả có mặt từ mặt hàng ngoại
nhập như điện tử, các mặt hàng công nghiệp đến mặt hàng sản xuất trong nước như
giày dép, vật liệu xây dựng... Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang từng bước
hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới WTO thì tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả còn tác hại xấu đến môi trường
đầu tư nước ngoài vào nước ta, làm giảm uy tín tiêu dùng hàng hóa thật trong lòng
người tiêu dùng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất hàng thật.
Đấu tranh phòng, chống nạn hàng giả là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị và của toàn xã hội. Phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện


2

bằng nhiều biện pháp, trong đó xử lý hình sự là một biện pháp hữu hiệu, nghiêm
khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của người tiêu dùng và các nhà
sản xuất, phân phối chân chính. Xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán
hàng giả theo quy định của Bộ luật hình sự là một trong những nội dung quan trọng
về phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật
hình sự cùng với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức
quan trọng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chủ
động áp dụng nhiều biện pháp, xử lý nghiêm những trường hợp phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả và đã đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, quá trình áp
dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn phát sinh một số hạn chế bất
cập: quy định của pháp luật có điểm chưa phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh
phòng chống hàng giả, thiếu tính thống nhất, đồng bộ trong thi hành và áp dụng
pháp luật; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện
pháp áp dụng của pháp luật chưa triệt để, nghiêm minh. Những hạn chế, bất cập ấy
đã ảnh hưởng đến kết quả thi hành pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán
hàng giả.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống tội sản xuất, buôn bán hàng
giả trong pháp luật hình sự Việt Nam là một nhu cầu thực tế và thiết thực giúp nâng
cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này; bên cạnh đó giúp
triển khai thi hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là một đề tài không mới trong hệ thống khoa học pháp lý hình sự nhưng
lại luôn là đề tài có tính thời sự nên nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học,
nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự 1999 (Phần các tội phạm) của tập thể tác giả TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn
Luyện, LS. ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại,
ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học
Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, tập VI, do Ths. Đinh Văn Quế chủ biên, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam


3

đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS. Trần Minh Hưởng chủ biên, Nxb Lao
động, 2009; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, 2014.
Ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, có thể
kể đến các công trình sau: “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, thực trạng và
biện pháp phòng chống”, Luận văn tiến sĩ luật học, Trần Ngọc Việt, Viện nghiên
cứu nhà nước và pháp luật, năm 2001; “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong luật
hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khoá luận tốt nghiệp, Phạm
Thị Hải Yến, Hà Nội, 2010; “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của
BLHS Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Khánh Linh, Hà Nội, 2016…
Mặc dù tội sản xuất, buôn bán hàng giả đã được nghiên cứu cả ở góc độ lý
luận và thực tiễn, tuy nhiên nạn hàng giả vẫn tiếp diễn, gia tăng, diễn biến phức tạp
với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự, cần được
nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và toàn diện, phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và
đấu tranh chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta hiện nay. Chính vì vậy,
việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn
về tội phạm này sẽ đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu của cuộc
đấu tranh phòng chống hàng giả. Quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả cũng đã
tiếp thu, kế thừa những điểm phù hợp từ các công trình nghiên cứu trước đó để làm
sáng tỏ khía cạnh hình sự của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này nhằm làm rõ quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả, bao gồm khái niệm hàng giả, khái niệm tội sản xuất, buôn
bán hàng giả, các dấu hiệu pháp lý, hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng,
tổng kết vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội phạm và làm rõ những quy định sửa
đổi của BLHS năm 2015. Trên cơ sở đó có thể đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện
quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này.


4

Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất,
buôn bán hàng giả, trong đó làm rõ khái niệm và phân loại hàng giả, các dấu hiệu
pháp lý, hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng; Nghiên cứu, phân tích,
đánh giá các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng
giả và thực tiễn áp dụng các quy định này từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần
bổ sung, hoàn thiện quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp
luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội
phạm này cũng như nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng
giả dưới góc độ luật hình sự. Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích quy định của
BLHS hiện hành (BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009), từ đó so sánh nội
dung của tội này theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017,
có hiệu lực vào ngày 1/1/2018).
Đồng thời, tác giả nghiên cứu đánh giá thực tiễn xét xử các sản xuất, buôn
bán hàng giả, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để kiến nghị
những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh
chống và phòng ngừa loại tội phạm này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư
tưởng lãnh đạo, chỉ đạo cũng như chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung và tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân
tích, so sánh, đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và khảo sát
thực tiễn.


5

5. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật
học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội sản xuất hàng giả,
buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng thời
cung cấp cho cán bộ làm công tác thực tiễn những hướng dẫn, chỉ dẫn cụ thể, góp
phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng
giả trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bô luật Hình sự năm 1999 về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả và một số đề xuất, kiến nghị.


6

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 :
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1. Khái niệm hàng giả
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì
khái niệm hàng giả được định nghĩa như sau: “Hàng giả là thứ không có giá trị
sử dụng của loại hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị
sử dụng của loại hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác
nhằm lừa dối khách hàng (giả về hình thức)”. 1
Dưới góc độ pháp lý, kể từ khi đất nước được thống nhất, thuật ngữ “hàng
giả” lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu làm
hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 2. Điều 5 của Pháp lệnh này quy định về
tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả tuy nhiên khái niệm hàng giả vẫn chưa
được làm rõ.
Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên ra đời năm 1985 quy định về tội làm
hàng giả, tội buôn bán hàng giả tại Điều 167, thuộc nhóm tội về kinh tế. Mặc dù
BLHS năm 1985 có quy định chi tiết hơn Pháp lệnh 07 năm 1982 tuy nhiên các
điều luật trong BLHS năm 1985 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa về hàng giả.
Văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả là Nghị định
140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý
hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả. Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng
giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp
luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép
sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá
không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công
dụng của nó”.

Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp và Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 319.
Pháp lệnh số 07/LCT/HDNN7 ngày 10/7/1982 Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép năm 1982.
1
2


7

Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng
giả, bao gồm: 1) Sản phẩm có nhãn giả mạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn
hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản
phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ
quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu
chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn
Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với
cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối
thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn
gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.
Tính từ thời điểm Nghị định 140/HĐBT ban hành, khái niệm hàng giả tiếp
tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật khác từ các văn bản về xử lý vi
phạm hành chính, hình sự 3; đến các văn bản về kinh doanh, thương mại 4; bảo hộ
sở hữu trí tuệ 5; hải quan 6 bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính
phủ 7. Nhìn chung các quy định tại các văn bản này đều nói lên hàng giả bao gồm:
giả về nội dung, giả về hình thức, giả mạo về sở hữu trí tuệ và các sản phẩm là
tem, nhãn, bao bì giả.
BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 156.
như sau:
“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của
hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng
hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt
hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154,
3

Khoản 8 điều 3 Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 7 Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27 tháng 4 năm 1999 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4

Thông tư liên tịch số 129/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 29/12/2004 của Bộ Tài chính và Bộ khoa học và
Công nghệ về việc hướng dẫn thi hành các biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu công nghiệp đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
5

Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 44/2011/TT- BTC ngày 1/4/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác chống
hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan.
6

Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg ngày 8 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về một số biện pháp cấp
bách, chống hàng giả, hàng kém chất lượng.
7


8

155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội
này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm
năm…”
Thuật ngữ “hàng giả” được đề cập trong tên gọi của điều luật, tuy nhiên
điều luật lại không đưa ra định nghĩa hàng giả, dấu hiệu nhận biết và cách xác
định hàng giả mà vấn đề này được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành
dưới luật.
Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCABKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học,
công nghệ và môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày
27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán
hàng giả thì hàng giả bao gồm hàng giả về chất lượng hoặc công dụng, giả về
nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, giả về
nhãn hàng hóa, các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng
hóa. Tuy nhiên, Thông tư chưa bao quát hết được các trường hợp hàng hóa không
có giá trị sử dụng mà loại hàng đó mang tên là hàng giả. Thiết nghĩ cần quy định
rõ ràng hơn tiêu chuẩn dưới mức cho phép bao nhiêu thì được xem là hàng giả?
Những vấn đề này dần được khắc phục trong các văn bản được ban hành tiếp
theo.
Thông tư 44/2011/TT-BTC ngày 01 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài chính
hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực
hải quan đã có những quy định bổ sung về hàng giả như sau:
“Hàng giả bao gồm:
a) Giả chất lượng và công dụng: hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc
giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công
dụng của hàng hoá;
b) Giả mạo nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá: hàng hoá giả mạo tên, địa
chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hoá; hàng hoá


9

giả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên
nhãn hoặc bao bì hàng hoá;
c) Giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ
bao gồm hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không
được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý;
hàng hoá là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác
giả hoặc quyền liên quan;
d) Các loại đề can, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm
màng co hàng hoá có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng
hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng;
e) Đối với hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nếu pháp luật có quy
định riêng thì áp dụng các quy định đó để xác định hàng giả.”
Như vậy, Thông tư đã bổ sung khái niệm hàng giả là hàng hóa có “giá trị
sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của
hàng hóa”. Tuy nhiên, Thông tư vẫn chưa quy định rõ tiêu chuẩn định mức cho
phép là bao nhiêu thì được xem là hàng giả?
Ngày 10/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 08/2013/NĐ-CP Quy định
xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Tại Điều 4, Nghị
định này nêu ra 4 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: Hàng hóa giả về nội
dung; Hàng hóa giả về hình thức; Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; Trường
hợp các sản phẩm tem, nhãn, bao bì giả. Bên cạnh đó, Nghị định cũng đã bổ sung
quy định về tiêu chuẩn định mức cho phép là bao nhiêu thì được xem là hàng giả:
“b) Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng
hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu
chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên
nhãn, bao bì hàng hóa”.
Ngày 15/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 185/2013/NĐ-CP Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán


10

hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng. Sau đó, Nghị định này được sửa
đổi, bổ sung bằng Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ.
Hai Nghị định này ban hành đã thay thế một loạt các văn bản ban hành trước đó
về xử phạt hành chính, trong đó bao gồm cả Nghị định 08/2013/NĐ-CP về xử
phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Khái niệm hàng giả
được quy định theo hình thức liệt kê, từ điểm a đến điểm h. Mặc dù có mức độ chi
tiết cao hơn các văn bản trước đây về khái niệm hàng giả, về cơ bản, quy định của
các Nghị định này không có sự khác biệt so với quy định tại Nghị định
08/2013/NĐ-CP. Theo các văn bản này, khái niệm hàng giả bao gồm bốn trường
hợp:
1) Trường hợp giả về nội dung: Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công
dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự
nhiên, tên gọi của hàng hoá; Có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị
sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các
chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của
hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn
kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc
phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất, có dược chất
nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng
ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; Thuốc bảo vệ
thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so
với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng,
không đủ loại hoạt chất đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn,
bao bì hàng hóa.
2) Trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa),
bao gồm: Hàng hóa có nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá giả mạo tên thương nhân,
địa chỉ của thương nhân khác; Giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng
hoá, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hoá của thương nhân
khác; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn
gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa.


11

3) Trường hợp giả mạo về sở hữu trí tuệ, được quy định tại Điều 213 Luật
sở hữu trí tuệ 2005.
4) Trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là
hàng giả.
Các văn bản hướng dẫn trên đã quy định một cách cụ thể, chi tiết về các
dạng hàng giả. Còn theo BLHS năm 1999, một số loại hàng giả được đặc biệt chú
ý và được quy định là đối tượng của các loại tội phạm khác nhau: Hàng giả là
lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh là đối tượng của Điều
157 BLHS năm 1999; Hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú
y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi là đối tượng điều chỉnh của
Điều 158 BLHS năm 1999; Hàng giả liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ là đối tượng điều chỉnh của Điều 171 BLHS năm 1999.
Trên cơ sở khái niệm hàng giả, có thể phân loại hàng giả thành ba loại sau
đây:
- Hàng giả về nội dung (hay giả về chất lượng, giá trị sử dụng của hàng
hóa). Ví dụ: Mặt hàng Sữa tắm trắng da Floresan dạng xà phòng kem với thành
phần từ dầu dừa, dầu đậu nành, chiết xuất rễ cây xà phòng, protein sữa dê thủy
phân, dầu hoa bông, dầu hạt lanh, chiết xuất hoa bồ đề. Tuy nhiên người phạm tội
lại tự chế sữa tắm bằng những nguyên liệu không đảm bảo chất lượng như: muối
công nghiệp, chất tạo độ đặc, nước, chất làm bóng, chất tạo màu, tạo mùi,…
- Hàng giả về hình thức (giả về kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi, xuất xứ,…
hàng hóa). Ví dụ: Người phạm tội dán loại nhãn mác của mặt hàng lốp xe ô tô đã
có thương hiệu nhưng được làm giả vào sản phẩm lốp xe ô tô của mình để lừa dối
khách hàng.
- Hàng giả cả về nội dung và hình thức. Ví dụ: Người phạm tội dùng sản
phẩm nước rửa bát của các cơ sở tư nhân không đảm bảo chất lượng sau đó đóng
vào các chai đựng cũng được tự sao chép từ mặt hàng nước rửa bát chính hãng.


12

1.2. Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Sản xuất là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế
bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia,
sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa. 8
Buôn bán là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng,
bày bán lưu giữ, bảo quản vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và
hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông. 9
Qua các khái niệm về sản xuất, buôn bán, và khái niệm hàng giả như đã phân
tích ở phần trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Mặc dù theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 1999, không có định nghĩa cụ thể như
thế nào là tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhưng dưới góc độ pháp lý, chúng ta có
thể xây dựng định nghĩa tội này trên cơ sở của định nghĩa tội phạm được quy định
tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999 như sau:
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến trật
tự của nền kinh tế, làm mất ổn định thị trường và xâm hại lợi ích người tiêu dùng.
1.3. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước công
nông đầu tiên của Đông Nam Á. Nhà nước và bộ máy Nhà nước mới thành lập đã
phải đương đầu với bao khó khăn và thử thách để bảo vệ thành quả của cuộc Cách
mạng tháng Tám năm 1945, để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình, nhiệm vụ
quan trọng và đặt lên hàng đầu đó chính là giữ vững an ninh quốc gia, đảm bảo phát
triển kinh tế ổn định đời sống cho nhân dân. Nhiều chính sách pháp luật đã ra đời
(Sắc luật, pháp lệnh…) nhưng chưa thể ban hành Bộ luật Hình sự vì hoàn cảnh đất
nước lúc bấy giờ chưa cho phép.

8
9

Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP.


13

Trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1975 đất nước ta liên tục có
chiến tranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền
của đất nước, các văn bản pháp luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập trung vào
các tội phạm phổ biến có liên quan đến công cuộc kháng chiến như: tội phản cách
mạng, tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa,
tội đầu cơ, tội buôn bán hàng cấm… Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai
đoạn này chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật hình sự nào. Bởi giai
đoạn này nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tập trung bao cấp, hàng hóa lưu thông
trên thị trường đều do các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất hoặc do các nước khác
viện trợ, vì vậy mà hàng giả gần như không có môi trường để phát triển.
Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng miền Nam, thống nhất nước
nhà. Tuy độc lập nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế đất nước hết sức
nghèo nàn, lạc hậu, bọn tư sản ngoại bản được sự tiếp tay của tư sản nước ngoài đã
không ngừng gây rối loạn thị trường, trong đó vấn nạn làm hàng giả cũng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất ổn của thị trường.
Ở miền Bắc, các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành trước đó vẫn tiếp tục
được áp dụng.
Ở miền Nam, Nhà nước đã kịp thời ban hành một số văn bản pháp luật hình
sự phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và
các tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và an toàn trật tự xã hội.
Ngày 15/3/1976, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành một
số văn bản pháp luật hình sự như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân; Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân; Sắc luật quy định việc bắt giam, khám người, khám nhà ở, khám
đồ vật của người phạm tội; Sắc luật số 03- SL/76 quy định các tội phạm và hình
phạt với 7 loại tội phạm. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng được quy định tại
Điều 6 của Sắc luật này trong các tội kinh tế: “Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài
chính cho Nhà nước, cho hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho
việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các
tội: Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ; Kinh doanh trái phép, cố ý trốn
tránh quy định của Nhà nước; Làm bạc giả hoặc tiêu thụ bạc giả…”. Sắc luật cũng


14

quy định mức hình phạt cho những hành vi vi phạm như: “phạm một trong số
những tội đã được nêu trên thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và phạt tiền
đến năm mươi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó, trong
trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến hai mươi chín năm, tù chung thân hoặc
xử tử hình và tịch thu một phần hoặc toàn bộ sản”.
Việc quy định về tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số 03-SL/76 đã phần
nào đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong các tội phạm
về kinh tế. Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất
hàng giả và cho thấy thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với loại tội phạm này.
Bên cạnh những ý nghĩa tích cực thì việc quy định về tội sản xuất hàng giả
trong Sắc luật số 03-SL cũng còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Sắc luật chưa
phân hóa rõ ràng các tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói
riêng. Điều 6 của Sắc luật chỉ quy định “sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu
thụ” mà không có quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa
ra đối tượng nào là hàng giả, ví dụ như: hàng giả là lương thực, thực phẩm, là thuốc
chữa bệnh… Ngoài Sắc luật này ra thì không có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn như
thế nào là hàng giả và hàng giả bao gồm những loại hàng hóa nào? Việc quy định
như vậy là chưa rõ ràng, chưa cụ thể. Về vấn đề hình phạt, nội dung của Sắc luật chỉ
quy định mức hình phạt chung cho các tội phạm, chưa cho thấy mức độ và tính chất
nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm, cũng như chế tài được áp dụng với tội
phạm đó. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên có quy định về các tội phạm thuộc lĩnh
vực kinh tế, việc có một số thiếu sót trong nội dung là không thể tránh khỏi, và Sắc
luật này được áp dụng trong cả nước từ năm 1976 đến năm 1982.
Nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Sắc luật số 03-SL/76 và để
phù hợp hơn với tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980,
Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN được ban hành ngày 10/7/1982 quy định về việc trừng
trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được coi là văn bản pháp
luật đầu tiên quy định về tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả trước khi Bộ luật
Hình sự năm 1985 ra đời.


15

Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 5 của Pháp
lệnh:
“Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì
bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm
vạn đồng; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định tại
khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, bị phạt
tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản; Phạm tội làm
hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy
hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng hoặc phạm tội trong trường hợp đặc
biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười
năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một triệu đồng và có
thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
“Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” được quy định trong Pháp lệnh
đã thể hiện một sự thay đổi căn bản về trình độ lập pháp so với Sắc luật số 03SL/76. Bởi tội phạm đã được quy định tại một điều luật riêng cụ thể, trong đó hành
vi buôn bán hàng giả đã được coi là tội phạm và xét tính nguy hiểm cho xã hội, nó
tương đương với hành vi sản xuất hàng giả. Bên cạnh đó, hàng giả cũng đã được
phân định thành nhiều loại với mức độ nguy hiểm khác nhau, chế tài áp dụng với
từng loại hàng giả cũng khác nhau.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới, nổi bật thì Pháp lệnh cũng còn một số
hạn chế nhất định. Ví dụ, Điều 5 Pháp lệnh quy định: “Phạm tội trong trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 9 của Pháp lệnh này thì phạt tù từ
mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”, mà theo quy định tại Điều 8 của
Pháp lệnh có quy định trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao
nhất là hình phạt tử hình. Những quy định này cho thấy tính không nhất quán của
pháp luật đối với hành vi phạm tội. Pháp lệnh cũng chưa phân định được tội phạm
và những hành vi vi phạm pháp luật khác mà phải áp dụng Nghị định 46/HĐBT
ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu
cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Nghị định này đưa ra một số dấu


16

hiệu định lượng và định tính để xác định tội phạm và vi phạm pháp luật bị xử phạt
vi phạm hành chính cụ thể như sau: “Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,
kinh doanh trái phép thuộc loại vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự đều bị xử lý bằng các biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định
này.”
Cũng theo quy định của Nghị định, “vi phạm nhỏ là vi phạm trong trường
hợp giá trị hàng phạm pháp dưới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không
nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự và an toàn xã
hội là không nhiều, người vi phạm không có tiền án, tiền sự, khi bị phát hiện không
có hành vi chống đối lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ”.
Trên thực tế, khi áp dụng pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc buôn bán
hàng giả thì các cơ quan chức năng phải căn cứ vào cả hai văn bản này để xác định
có truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ áp dụng xử lý vi phạm bằng biện pháp hành
chính. Việc áp dụng pháp luật này phần nào đã gây ra những trở ngại nhất định,
không thuận tiện. Vì vậy, việc cho ra đời Bộ luật Hình sự là vấn đề cần thiết để quy
định cụ thể và khoa học về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng và các tội
phạm hình sự nói chung.
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999
Năm 1985, Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên
của nước ta được ban hành. Từ đây các tội phạm không còn được quy định riêng lẻ
trong các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật nữa mà tất cả sẽ được tập hợp lại vào
một quyển Bộ luật Hình sự. Mỗi một tội phạm và hình phạt đối với tội phạm đó
được quy định trong một điều luật riêng và được sắp xếp vào từng nhóm tội khác
nhau. “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả” thuộc nhóm “Các tội kinh tế” quy
định tại Điều 167 của Bộ luật:
“ 1. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu
tháng đến năm năm.


17

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm
đến mười hai năm:
a. Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
b. Có tổ chức;
c. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội;
d. Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất chính lớn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
e. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười
năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười
năm đến hai mươi năm tù chung thân hoặc tử hình”.
Như vậy, khoản 2 của điều luật không đưa ra thuật ngữ “phạm tội trong
trường hợp nghiêm trọng” mà thay vào đó là các trường hợp cụ thể. Về hình phạt,
Điều 167 chỉ quy định hai hình phạt: tước đi quyền tự do (phạt tù) và hình phạt tử
hình.
Để giải thích thế nào là hàng giả, theo quy định tại Nghị định 140/HĐBT
ngày 25 tháng 4 năm 1991 của Hội đồng bộ trưởng Quy định về kiểm tra, xử lý việc
sản xuất, buôn bán hàng giả thì: “hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản
xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống với những sản phẩm hàng hóa được Nhà
nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản
phẩm hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên
gọi công dụng của nó”. 10
Điều 4 của Nghị định này cũng quy định những hàng hóa nào có một trong
sáu dấu hiệu sau đây thì được coi là hàng giả:

Điều 3 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng Quy định về kiểm tra, xử lý việc sản
xuất, buôn bán hàng giả.
10


18

Một là, sản phẩm, hàng hóa (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả
mạo hoặc nhãn của sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ của
nhãn sản phẩm đó đồng ý.
Hai là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương
tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở
sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
(Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Ba là, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với sản phẩm đã đăng ký
với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
Bốn là, sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng Việt
Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam.
Năm là, sản phẩm hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ
quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất
lượng tối thiểu cho phép.
Sáu là, sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc,
bản chất tự nhiên và tên gọi, công dụng của nó.
Qua những quy định trên đây, hàng giả đã phần nào được làm rõ hơn với
những định nghĩa và dấu hiệu cụ thể của nó, có ý nghĩa lớn trong việc áp dụng để
phân định hàng giả, hàng thật và hàng kém chất lượng. Tuy nhiên việc đưa ra định
nghĩa và dấu hiệu này vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của hàng giả. Hàng giả
được chia ra thành hai loại trong đó có giả về hình thức nhưng từ định nghĩa tới dấu
hiệu của loại hàng này cho thấy đây không phải là hàng giả mà là hàng xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp. Nghị định có đưa ra mức chất lượng tối thiểu để phân
định hàng giả và hàng kém chất lượng nhưng trên thực tế cho thấy không phải bất
cứ loại hàng hóa nào cũng có được quy định mức chất lượng tối thiểu mà đa phần là
không có, do vậy việc áp dụng thực tế các quy định này rất khó khăn.
Cũng vì để khắc phục những hạn chế ấy mà trong khoảng 15 năm tồn tại,
BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 4 lần. Trong đó, Điều 167 được sửa đổi, bổ
sung hai lần. Ở lần sửa đổi, bổ sung năm 1992, Điều 167 được sửa đổi theo hướng


19

tăng mức hình phạt cao hơn và bổ sung đối tượng hàng giả mới là “vật liệu xây
dựng, phân bón, thuốc trừ sâu”.
Qua hai lần sửa đổi, bổ sung, các loại hàng giả đã được quy định theo hướng
ngày càng đa dạng hơn và việc tăng hình phạt lên mức cao hơn càng cho thấy thái
độ của Nhà nước ngày càng nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này. Tuy nhiên,
BLHS năm 1985 vẫn chưa được điều chỉnh lại theo nguyên tắc đồng bộ, phù hợp
với những thay đổi và sửa đổi khác trong hệ thống pháp luật về kinh tế, về quản lý
kinh tế, về tổ chức… Bởi vậy vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế cần khắc phục, ví
dụ như: Các chế tài quy định trong BLHS năm 1985 đối với tội làm hàng giả, buôn
bán hàng giả tuy đã xuất phát từ nhu cầu tạo nên một sự tùy nghi nhất định cho việc
áp dụng điều luật trong thực tế để sát hơn với hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống,
nhưng còn nhiều trường hợp chế tài xác định tương đối của điều luật quá rộng từ
mức thấp nhất đến mức cao nhất. Những trường hợp đó đã gây ra những khó khăn
trong khâu áp dụng pháp luật, dẫn đến sự tùy nghi của Tòa án, vi phạm nguyên tắc
pháp chế, bình đẳng. Bên cạnh đó, Bộ luật vẫn chưa đưa ra các tiêu chuẩn để định
lượng cũng như định tính để xác định một hành vi làm, buôn bán hàng giả là tội
phạm hay vi phạm pháp luật khác. Do vậy một người có hành vi làm, buôn bán
hàng giả sẽ có ba khả năng có thể xảy ra: bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
167 BLHS năm 1985; bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 57/CP ngày
31/5/1997 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đo lường chất lượng hàng hóa; hoặc có thể bị xử phạt bằng các biện pháp khác
như cảnh cáo, tịch thu tài sản.
Bởi vậy, để đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của sự phát triển nền kinh tế xã
hội và sự phát triển của tội phạm đòi hỏi phải có văn bản pháp luật hình sự phù hợp
và tiến bộ hơn quy định về loại tội phạm này. Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời đã
giải quyết được yêu cầu trên.
1.3.3. Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành
Nhận thức được những bất cập vừa nêu trên, khi xây dựng BLHS năm 1999,
riêng đối với tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả, Nhà nước ta đã đưa vào Bộ luật
nhiều quy định mới phù hợp với tình hình thực tế hơn so với BLHS năm 1985.


20

Điều 156 BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:
“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của
hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng
hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt
hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154,
155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội
này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm
năm…”
Thứ nhất, tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở BLHS năm 1985 chỉ được
quy định trong Điều 167. Còn loại tội này trong BLHS năm 1999 đã được quy định
trong ba điều: Điều 156 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 quy
định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
thuốc phòng bệnh; Điều 158 quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn
chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi.
Việc tách ra như vậy là hoàn toàn phù hợp vì mỗi loại hàng giả khác nhau sẽ có
những tác động và tác hại đến các đối tượng khác nhau, từ đó trách nhiệm hình sự
được áp dụng với mỗi loại tội phạm được đúng đắn hơn.
Thứ hai, về dấu hiệu của tội phạm có một số quy định khác nhau giữa Điều
167 BLHS năm 1985 và các Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999 như sau:
Điều 167 BLHS năm 1985 không quy định định lượng cụ thể để phân biệt tội
phạm với vi phạm pháp luật khác nhằm phân biệt các khung hình phạt. Còn ở các
Điều 156, 157, 158 BLHS năm 1999 đã quy định vấn đề này. Mức định lượng được
quy định khác nhau theo tính chất từng hành vi. Cụ thể đối với các tội sản xuất,
buôn bán hàng giả từ 30 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm.
Điều 156 BLHS năm 1999 đã quy định định lượng để xác định tình tiết tăng
nặng khi xử lý tội phạm. Ví dụ: Phạm tội trong trường hợp hàng giả tương đương
với số lượng hàng thật có giá trị từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị
phạt tù từ 3 năm đến 10 năm (điểm e khoản 2 Điều 156).


21

Điều 156 BLHS năm 1999 cũng đã kết hợp giữa định lượng và định tính để
quyết định hình phạt. Ví dụ: Người nào sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả tương
đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng
hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 6 tháng
đến 5 năm.
Bên cạnh đó, sự thay đổi dấu hiệu của một số cấu thành cơ bản để phân biệt
cụ thể hơn giữa tội phạm với các vi phạm pháp luật khác đã được quy định trong
các Điều 156, Điều 158 BLHS năm 1999 mà Điều 167 BLHS năm 1985 không đề
cập đến, thể hiện quan điểm của Nhà nước ta đối với vi phạm pháp luật trước hết
phải là giáo dục hoặc xử lý bằng các biện pháp khác rồi mới đến biện pháp hình sự.
Sự thay đổi đó là tái phạm hành chính và tái phạm hình sự được coi là các dấu hiệu
bắt buộc của cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả (khoản 1 Điều 156, khoản 1
Điều 158).
Thứ ba, về hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS
năm 1999 có một số thay đổi so với BLHS năm 1985 như sau: Nhìn chung, hình
phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS năm 1999 ít nghiêm khắc
hơn (trừ khoản 4 Điều 157) so với các hình phạt đối với cùng loại tội này quy định
ở Điều 167 BLHS năm 1985. Bên cạnh đó, khác với Điều 167 BLHS năm 1985, các
Điều 156, 157 và 158 BLHS năm 1999 ngoài hình phạt chính còn quy định hình
phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, tịch thu một phần
tài sản hay toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Như vậy, so với quy định về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả tại BLHS
năm 1985, quy định trong BLHS năm 1999 có nhiều thay đổi phù hợp hơn trong
việc đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm áp dụng, quy định của BLHS năm 1999 về tội
sản xuất, buôn bán hàng giả đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay. Các tình tiết mang tính định tính như “gây hậu quả nghiêm
trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”, “thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc
biệt lớn”… chưa được hướng dẫn chi tiết nên còn gây nhiều vướng mắc trong quá


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×