Tải bản đầy đủ

Tội phạm và hình phạt trong hoàng việt luật lệ (bộ luật gia long)

."’

..•••-•



!■


-. .-. ■


T O Ư Ờ N C Ỉ ĩ>tJKỈ H 0**■ ‘ 1

*r

;

'

•■

-■

V•-■
';.• r.--

-•-, ■

•-•-;-••

v"-’-' 'f' '■~ ii

M í - :'

■■■■

-

- V ' - ■; ■ 'r
'í í

í

2*Ể
r

■ ■

;
.

ý*r'

-ử ' í

....

-

V-


; ■%

‘' y ị ' ~ : '

; ■

'•.? ;•*.’-•• ,-Ị :ỳ •

-

: V: :í .■■■■■;: K ;
v;^

::

J

L% .







,-■ :.;

I í*•

ềĩÊ
Ê ẩm Sn
r

11

.■■ %

.■
r :_■- - ..:■
•^

•-.

-V r-

1i l K
1 ịir

11

r-,3 fe':
1:? í
•iv-

H


;

l /

ị 1 SỊ ?•
® ? ^•> '-h,

' íT:
íl,
:;v,. « •
;■ K' •



.

■•'
■./ JL-V

(MỘLuẬ'] C l M l Ì Í


í

‘ỉ



VJ• « ~ -ĩy
o



í ' K i - ẩ r â ■-: ặ *í ^ ẩ ix .-M -'. -S;"'V.Ễ-;:- - ;
•ĨMẻ-

k«*>-V- ••••<*/7*.r.'í>-v>V-Xí^riàúv-9rtV:‘Ví-

.

'ĩ ':

> ./’*.

~ĩ%Sr

.•'

'. ị ĩ

-


ố ặ ■;

7VV.

. -jV■

.:


TRƯỜNG ĐẠI
LUẬT
HÀ NỘI
■ HỌC




ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG

TỘI PHẠM VÀ HÌNH PHẠT
TRONG HOÀNG VIỆT LUẬT
LỆ (B ộ LUẬT GIA LONG)

Chủ nhiệm đề tài: TS. Trương Q uang Vinh
T hư kí đề tài: ThS. Cao Thi Oanh

TH Ư V IỆN
1 ÌRUÕNG0ỊẠ HỌC lŨẬT ha n ộ i

' : ' h u N G Dr)(: .

^

í)

HÀ NỘI - 2006


DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN
01.

TS. TRƯƠNG QUANG VINH

Trường Đại học
« Luật
• Hà Nội


02.

TS. DƯƠNG TUYẾT MIÊN

Trường Đại học Luật Hà Nội

03.

THS. PHẠM THỊ HỌC

Trường Đại học Luật Hà Nội

04.

THS. HOÀNG VĂN HÙNG

Trường Đại học Luật Hà Nội

05.

THS. PHẠM VẢN BÁU

Trường Đại học Luật Hà Nội

06.

THS. LÊ ĐẢNG DOANH

Trường Đại học Luật Hà Nội

07.

THS. ĐỎ ĐỨC HỒNG HÀ

Trường Đại học Luật Hà Nội

08.

THS. NGUYỄN VĂN HƯƠNG

Trường Đại học Luật Hà Nội

09.

THS. NGUYÊN TUYÉT MAI

Trường Đại học Luật Hà Nội

10.

THS. CAO THỊ OANH

Trường Đại học Luật Hà Nội

11.

T H S .Đ À O L Ệ T H U

Trường Đại học Luật Hà Nội


DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT TRONG ĐÈ TÀI

01.

BLHS

: B ộ luật H ì n h s ự

02.

Nxb.

: N h à xuất bản

03.

ThS.

: T h ạ c sĩ

04.

Tr.

: Trang

05.

T S.

: T i ê n sĩ

06.

XHCN

: X ã hội c h u n g h ĩ a


MỤC LỤC
Trang
1.

TỎNG T H U Ậ T K ÉT QU Ả N G H IÊN CỨU CỦA ĐÊ TÀI

01

2.

Hệ thống hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ

37

3.

Quyết định hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ

51

4.

Môt
số vấn đề về tôi
pham
trongo Hoàngo Viêt
ỉuât
lê•


1




62

5.

Khái quát về các tội phạm cụ thể trong Hoàng Việt luật lệ

84

6.

Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Đạo tặc thuọng, đạo tặc
trung) trong H oàng Việt luật lệ

7.

Các ■tôi xâm■ pham
sở hữu\ (Đao


ttăc ha)
• / trong
o Hoàng
n ,Viêt
» luât
t lê
*

95
107

8. Các tội xâm phạm tính mạng của con ngưòỉ (Nhân mạng) trong
Hoàng Việt luật lệ

119

9. Các tội xâm phạm sức khỏe của con ngưòỉ (Đấu ẩu thưọng, đấu
ẩu hạ) trong H oàng Việt luật lệ
10.

Các tội phạm về chúc vụ (nhận đút lót) trong Hoàng Việt luật
lệ•

11.

142
Các tội xâm phạm tình dục (phạm gian) trong Hoàng Việt

luât
• lê•
12.

159

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình (hộ luật hôn
nhân) trong H oàng Việt luật lệ

13.

130

TÀI LIỆU THAM KHẢO

179

193


T Ô N G T H U Ậ T KÉT QUẢ N G H IÊ N

cứu

C Ủ A ĐÈ TÀI

NỘI
DUNG VÀ GIÁ TRỊ• CỦA HOÀNG VIỆT
LUẬT
LỆ«



1. PH À N M Ở ĐÀU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong kho báu cổ luật Việt Nam, Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật
Gia Long) được xem là sản phẩm lớn về mặt lập pháp của Vương triều Nguyễn Triều đại phong kiến cuối cùng ờ Việt Nam và cũng là một trong những bộ luật
lớn của chế độ p hong kiến Việt Nam. Hoàng Việt lệ có phản ánh chân thực bức
tranh xã hội đương đại hay không? Điều này đã từng có những quan điểm trái
ngược nhau giữa các nhà khoa học, các luật gia thời hiện đại khi nghiên cứu
Hoàng Việt luật lệ về khía cạnh “dân tộc tính và truyền thống pháp / ý ”của Bộ
luật này. Tuy nhiên, cho đến nay nhiều vấn đề trong Hoàng Việt luật lệ vẫn là ẩn
sổ. N hư vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu Hoàng Việt luật lệ luôn là điều cần thiết
nhàm góp phần chắt lọc những tinh hoa và giá trị nhân bản của nền văn minh
pháp lý cổ, có thể vận dụng vào quá trình hoàn thiện và áp dụng pháp luật ở
nước ta trong xu thê hội nhập quôc tê như hiện nay.
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lịch sử pháp luật Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của giới khoa
học, các nhà quản lý và đặc biệt là những người làm

công táctư tưởng, văn hoá.

Những vân đê vê sự xuât hiện của pháp luật hay những vân đê vê vai trò của
pháp luật trong việc báo đảm trật tự xã hội đã được nghiên cứu ở nhiêu công
trình như: Cuôn "Việt sử thông giám cươns mục", Nhà xuất bản Việt sử địa, Hà
Nội, năm 1957; Cuốn "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, Tập
III, Nhà xuât bản Sử học, Hà Nội, năm 1961; Cuôn "Đại Nam thực lục chính
biên", Tập IV, Nhà xuất bản Sứ học, Hà Nội, năm 1962; Cuốn "Pháp chế sử" cua
Vũ Quỏc rhông, Tu sách Đai học, Sài Gòn, năm 1968; Cuôn “Cỏ luật Việt Nam


và tư pháp sừ diễn giảng” của Thạc sỹ, Giáo sư Vũ Văn Mầu, Sài Gòn, năm
1975; Cuốn “Pháp lý phục vụ cách m ạ n s” của Hội luật oia Việt Nam, Tây Bấc,
năm 1975; Cuốn “ Lịch sử Việt N a m ” của Phan Huy Lê, Hà Văn Tân, Trân Quốc
Vượng, Lươn e Ninh, Nhà xuât bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà
Nội, năm 1985; Cuốn "Lịch sử Việt Nam", Tập 3, Nhà xuất bản Khoa học - Xã
hội, Hà Nội, năm 1985; Cuốn "Đại Việt sử ký toàn thư", của Ngụ Sỹ Liên, Nhà
xuất bản Khoa học - Xã hội, Hà Nội, năm 1993; Cuốn "Lịch sử Nhà nước và
Pháp luật Việt Nam" của Vũ Thị Phụng, Hà Nội, năm 1993; Cuốn "Luật và xã
hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII", của Insun Yu, Người giới thiệu: Phan Huy
Lê, Tổ chức dịch và hiệu đính: Nguyễn Quang Ngọc, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội, Hà Nội, năm 1994; Cuốn “Nghiên cúm về hệ thống Pháp luật Việt Nam thế
kỷ XV - thế kỷ XVIII”, Chủ biên: Giáo sư, Tiến sĩ Đào Trí ú c , Nhà xuất bản
K h o a học - Xã hội, Hà Nội, năm 1994; Cuốn "Lịch sử các định chế chính trị và
p h á p quyền Việt Nam", Tập 1, Từ thời đại Hùng Vương đến nhà Hồ, của Phan
Đ ă n g Thanh - Trương Thị Hoà, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
Cuốn “Pháp luật c á : triều đại Việt Nam và các nước” của Tiến sỹ Cao Văn
Liên, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 1998; Cuốn “Pháp luật và dân luật đại
c ư ơ n g ’’ của Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh,
n ă m 2000; Tập bài giảng: “Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, từ nguồn
g ố c đển RĨữa thế kỷ X X ” của trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bán Chính
trị quốc gia, Hà Nội, năm 1996... Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trinh
n à '0 nghiên cứu có tính chuyên khảo về tội phạm, hình phạt và các tội phạm cụ
t h ề trong Bộ luật Gia Long - Bộ luật cuối cùng của chế độ phong kiên Việt Nam.
1.3. Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ một cách có hệ thôns và toàn
d i ê n mừn g vấn đề cơ bản có liên quan đến tội phạm và hình phạt tron° Bộ luật
G i a Long, trên CO' sở đó đê xuât giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam
h i ệ n kar.h.
1.4. ÌNội du:ìg nghiên cửu
- Hệ thôns hình phạt trong Hoàns Việt luật lệ;




- Quyết định hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ;
- M ộ t số vấn đề về tội phạm trong Hoàng Việt luật lệ;
- Khái quát về các tội phạm cụ thê trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm sở hữu trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm tính m ạn g của con người trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm sức khỏe của con người trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội phạm về chức vụ (Nhận đút lót) trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm tình dục (Phạm gian) trong Hoàng Việt luật lệ;
- Các tội xâm phạm chê độ hôn nhân gia đình (Hộ luật hôn nhân) trong
Hoang Việt luật lệ.
1.5. Nhu cầu kinh tế xã hội, địa chỉ áp dụng
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị để phục vụ
cán b ộ nghiên cứu, các giảng viên giảng dạy trong các CO' sỏ' đào tạo luật, các
§inh viên, nghiên CI 'LI sinh chuyên ngành luật và nhừng người quan tâm đến vấn
đề nảy.
1.6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những quy định về luật hình sự trong
Hoàng Việt luật lệ.
1.7. Phương pháp nghiên cửu
Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả của đề tài dựa trên CO’ sờ phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hô Chí Minh vê Nhà nước và
pháp luật. Ngoài ra, các tác giả còn sử dụng, các phương pháp truyên thông như
phân tích, so sánh, tồng họp, thống kê...
2. P H À N N Ộ I D U N G
2.1. Hệ thố n g hình p h ạ t t r o n g H o à n g Việt luật lệ

2. / . / . Các đăc điểm cúa h ệ th ố n g h ìn h p h ạ t írortíỊ H oàno Việt luật lệ


4

Thứ nhât, chủ nghĩa pháp trị chiêm một vị trí quan trọng trong hình luật
mà cụ thế là trong hệ thống hình phạt.
Thứ hai, chủ nghĩa pháp trị đã can thiệp vào cả các lĩnh vực luân lý, tức là
những lĩnh vực lẽ ra chỉ dành riêng cho các giáo điều của chủ nghĩa nhân trị. Sự
can thiệp này của chủ nghĩa pháp trị được coi là sự “xâm phạm” hay còn gọi là
điều chỉnh cả nhữn g vấn đề thuộc phạm vi luân thường đạo lý mà chu nghĩa
nhân trị coi là căn bản của gia đình, hay là cơ sở của nền Tam cương Ngũ thường
cô điên, đồng thời coi đây là những tội đại ác. Do đó, các tội bất hiêu, bất nghĩa,
loạn luân được xếp ngang hàng với các trọng tội chính trị “tội thập ác” 1. Với
cách qui định này, những người làm công việc xét xử dưới chế độ cũ đã được
trao cho những quyền hạn rộng rãi trong việc dùng hình phạt để duy trì luân
thường đạo lý và các thuần phong mĩ tục.
Thứ ba, mỗi tội phạm đêu được các nhà làm luật qui định bởi một hình
phạt nhât định. Trong thực tê, các trường hợp tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt
cũng được qui định rõ ràng để áp dụng cho mọi trường họp khác nhau tuỳ theo
tịnh chất và mức độ nghiêm trọng.
Thứ tư, một sổ biệt lệ khi xây dựng Hoàng Việt luật lệ. Mặc dù các nhà
làm luật căn cứ vào sự qui định của các Bộ luật trước đó, đồng thời rút kinh
nghiệm đê xây dựng những điêu khoản tỷ mỉ và các hình phạt rât phức tạp đế áp
dụng đôi với những trường họp cụ thể.
2.1.2. C ác hình p h ạ t chính trong H oàng Việt luật lệ
- Hình xuy (Đảnh roi)
Đánh roi là đánh bằng roi mây nhỏ vào mông người bị trừng phạt làm cho
họ thấy xấu hổ, nhục nhã để tự sửa lỗi lầm cho mình.
- Hình trượng (hình phạt đảnh băng gậy)
Hình phạt này nghiêm khẳc hơn hình phạt băno roi. Luật qui định 2 roi thì
bang 1 trượng. Ai phạm tội nặng hơn 50 roi thì người ta bỏ roi mà xử băng
trượna. Phạt bằng trượng có 5 bậc, mỗi bậc là 10 trượng. Mức tôi thiêu là 60
trượao. tối đa là 100 trưọnơ.


5

- Hình đô (làm việc nặng nhọc)
Hình đồ là hình phạt đứng; thứ ba trên thang hình trong H oà ns Việt luật lệ
áp dụng đối với người phạm tội hơi nặng. Người phạm tội bị gửi về quản thúc tại
nơi Trấn họ ở đồng thời người bị áp dụng hình phạt này phải làm những công
việc nặng nhọc với thởi hạn từ 1 năm đến 3 năm.
- Hình ỉưii
Hình lưu là hình phạt đày đi nơi xa. Loại hình phạt này đứng hàng thứ tư
trong thang hình phạt cổ và được xếp liền ngay sau hình phạt tử hình. Hình lưu
chia làm ba bậc, phạm nhân phải đày đi nơi xa 2000 dặm, 2500 dặm hoặc 3000
dặ m là những khoảng cách giữa nơi sinh và nơi bị chấp hành hình phạt. Việc áp
dụng mức phạt ở các bậc là phụ thuộc vào tính chất nặng nhẹ của từng tội mà
người đó thực hiện.
- Tử hình
Đây là hình phạt nghiêm khẳc nhất trong hệ thông hình phạt của Hoàng
Việt luật lệ. Hình phạt tử hình có 2 bậc là giảo (thắt cổ) và trảm (chém đầu).
N h ữ n g phạm nhân bị xử tội giảo hay tội trảm mà hành hình ngay thì gọi là giao
quyết và trảm quyết.
2.1.3. C ác hình p h ạ t bô sung trono H oàng Việt lu ậ t lệ
- Hình ph ạt tiền
Trong HVLL, các nhà làm luật không qui định hình phạt tiên một cách
tổng quát như Điều 26 của Quốc Triều Hình Luật, mà có một số điều qui định
hình phạt này trong một sô trường họp đặc biệt
- Hình p h ạ t xung quản
Trong hệ thống hình phạt của Hoàns, Việt luật lệ k h ô n ẹ qui định hình phạt
xiung quân. Nhưng tại Điều 45 phần Danh lệ đã qui định: Nêu phạm nhân bị kết
á n vào hình phạt xung quân thì tuỳ theo bị xung quân nơi phụ cận, nơi cận biên
hay viễn biên mà bị đày theo như 3 bậc của hình phạt lưu: 2000 dặm, 2500 dặm
v à 3000 dặm. Việc ngưòi phạm tội bị áp dụn<ỉ hình phạt xung quân thì họ khônơ
nihững phải bị đưa đên noi bị dàv như trone; hình phạt lưu mà còn phải ghi tên


0

\ào sổ quân tù, đông thời bị băt làm công việc nặng nhọc dưới sự cai quản của
quan địa phương. Những nơi đi xung quân thường là những nơi sơn lam chướng

- Hình p h ạ t đeo gông
Trong Hoàng Việt luật lệ, nhà làm luật đã qui định một số điều khoan
trcng đó có dự liệu hình phạt đeo gông. Thời gian đeo gông được qui định từ 20
ngìy đến chung thân. Tuy trong hệ thống hình phạt của Hoàng Việt luật lệ không
qu định hình phạt này nhưng trong bản hình cụ đã tả tỉ mỉ những kích thước,
trọng lượng của các loại gông, cùm khác nhau. Những kẻ phạm tội thập ác, trộm
cưýp đều bị gông để chờ xử án.
2.2. Quyết định hình phạt trong H oàng Việt luật lệ
2.2.1. v ề các nguyên tắc q u yết định hình p h ạ t
- N gu yên tắc giảm nhẹ hình p h ạ t
Khác với luật hình sự hiện đại, Hoàng Việt luật lệ nói riêng (cũng như cổ
luật nói chung) đã có sự ưu đãi đặc biệt trong việc giảm nhẹ hình phạt cho tám
loại người do địa vị xã hội của họ. Đó là trường hợp “bát nghị” nghĩa là tám loại
người được quan xử án xem xét giảm nhẹ hình phạt do địa vị, công lao, tài năng
của liọ trong khi quyết định hình phạt. Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại,
đâv ihực chất là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư. Ngoài trường hợp bát
nghi Hoàng Việt luật lệ còn qui định một sổ trường hợp giảm nhẹ khác, đó là:
phụ aữ, người già, người tàn tật, trẻ em, người tự thú, người còn phải nuôi dưỡng
cha nẹ...
- N gu yên tắc chịu trách nh iệm hình s ự tập thể
Đây là nguyên tắc được áp dụng k M phổ biến trong các xã hội phong kiến
Việt Nam và Truns, Quôc trước đây. Nội dung của nguyên tăc này là tuy một
nguèi phạm tội nhưng họ hàno thân thích của neười đó không liên quan đên việc
phạix tội nhưng vẫn bị đưa ra xét xử cùng với người phạm tội. Theo quan điêm
của h ạ t hỉnh sự hiện đại thì đây là nguyên tăc rât vô nhân đạo, nó trái noược với
nguyên tăc trách nhiệm cá nhân - một nguyên tăc của luật hình sự hiện đại. Tuy


7

nhiên, cũng phải thừa nhận rằng sự hạn chế đó bị chi phối bởi yếu tố [ịch sử và
các nhà làm luật Nhà Nguyễn vì quyên lợi của triêu đình và Hoàng tộc đã không
thoát ra khỏi hạn chê đương thời đê có thê có những quyêt định đi trước lịch sử.
- N gu yên tắc chuộc tội bằng tiền
Chuộc tội bằng tiền hay còn gọi là thục tội là một chế định có nguồn gốc
từ pháp luật của phong kiến Trung quốc. Trong Hoàng Việt luật lệ, nhà làm luật
đã cho phép chuộc tât cả các hình phạt ghi trong bảng ngũ hình: suy, trượng, đồ,
lưu, từ. Theo quan điêm của luật hình sự hiện đại, chuộc tội băng tiên được coi là
một biện pháp chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, chuộc tội bằng tiền chỉ có thể
được chuộc đối với các hình phạt trong các “ tội tạp phạ m ” nghĩa là những tội vô
ý hay bất hạnh xảy ra hoặc do người khác gây ra mà người này phải chịu tội theo
hoặc người phạm tội là người già cả, trẻ em, phế tật, những người xem thiên văn,
phụ nữ có tài sản hay vợ quan chức. Những tội không thể chuộc được là các “tội
thực phạm” như tội thập ác, các tội dẫu gặp ân xá cũng không nên tha, phạm
nghĩa (ví dụ nh ư con cháu kiện ông bà, cha mẹ), hôi lộ, dung túng kẻ phạm gian
ìn cắp, làm người bị thương...
- N guyên tắc tương tự
Theo quạn điểm của luật hình sự hiện đại, nguyên tắc tương tự ngày nay ít
đ ược ip dụng vì nó dẫn đên sự vi phạm pháp chê. Trong Hoàng Việt luật lệ,
nguyên tắc tương tự được áp dụng đối với một số hành vi chưa được qui định là
tội phim và để quyết định hình phạt cho những hành vi này thì phải viện dẫn
đ iều liật khác.
2.2.2. Q u yết định hình p h ạ t trong các trư ờng hợp đặc biệt
- Q uyết định hìnlĩ p h ạ t trong trường hợp đồng ph ạm
Trong Hoàng Việt luật lệ không có điều khoản nào trực tiếp qui định về
vấn đt quyết định hình phạt của những người đồng phạm mà vấn đề này được
qui địĩh rải rác trong một sô điêu luật cụ thế, nhìn chung, nội dung cua chê định
này điợc qui định còn rât SO' lược. Cụ thế, trong Hoàng; Việt luật lệ sự phân hoá


8

trách nhiệm hình sự cũns như cá thê hoá hình phạt cua nhừno người đồng phạm
này là chưa đáng kế nhất là đối với những tội thuộc nhóm thập ác.
- Q uyết định hình p h ạ t trong trường hợp ph ạ m nhiều tội
Nội dung của chê định này là phát giác hai tội cùng lúc thì xử theo tội
nặng nhất. Nếu hai tội ngano nhau thì chỉ xử một tội. Neu một tội phát ra trước
đã bị xử rồi thì những tội sau phát ra cùng bậc không được xử nữa. Nêu tội sau
phát ra mà nặng hơn thì sẽ xử lại theo tội nặng nhất và tội đã xử lần đầu được
tính vào tội này.
- Q uyết định hình p h ạ t trong trường hợp ngư ời ph ạm tội là ngư ời già,
trẻ em, ngư ời tàn tật
Đối với người phạm tội thuộc đối tượng nói trên, Hoàng Việt luật lệ có
giảm nhẹ hình phạt hơn so với đối tượng bình thường khác, mức giảm nhẹ có
khác nhau tuỳ thuộc vào lứa tuổi; riêng đối với đối tượng 90 tuổi trở lên, 7 tuổi
trở xuống mà phạm tội thì không phải chịu hình phạt nào. Hoàng Việt luật lệ
chia làm 3 mức tuổi: Từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và người tàn phế; 80
tuôi trở lên, 10 tuổi trở xuống và người bị bệnh nặng; 90 tuổi trở lẽn, 7 tuổi trừ
xuống.
- Q uyết định hình p h ạ t đối với người tái ph ạm
Trong Hoàns; Việt luật lệ, không có điều luật riêng biệt nào trực tiếp qui
điph về tái phạm cũne, như quyết định hình phạt đôi với người tái phạm. Quyêt
định hình phạt đối với người tái phạm được qui định tại điêu luật vê thiêt đạo (ăn
trộm). Theo Hoàng Việt luật lệ, người tái phạm bị xử lí nghiêm khăc hon so với
phạm tội lần đầu.
- Q uyết định hình p h ạ t đối với người ph ạ m tội chưa đạt
Trong Hoàng Việt luật lệ cũng không có điều luật riêng biệt nào trực tiêp
qui định về phạm tội chưa đạt hay quyêt định hình phạt đối vói ngưò'i phạm tội
chưa đạt. Ouyêt định hình phạt đôi với ngưò'i phạm tội chưa đạt được thê hiện rải
rác trons, một số điều luật qui định vê tội phạm cụ thê. Nhìn chung, trons; trưcVng


9

họp này, nhà làm luật có si ám nhẹ hình phạt hon so với trường họp tội phạm
hoan thành.
- Q uyết định hình p h ạ t đối với người tự thủ
Đây là qui định tương đối đẩy đủ, chi tiết của Hoàng Việt luật lệ, với cách
chia nhiều loại tự thú khác nhau thì mức miễn giảm khác nhau. Qui định như vậy
đã ít nhiều thể hiện được sự phân hoá trong xử lí của Bộ luật này.
2.3. Một số vấn đề về tội phạm trong Hoàng Việt luật lệ
2.3.1. K h ái niệm tội p h ạ m trong H oàng Việt luật lệ
Cũng như Bộ luật Hồng Đức và nhiều văn bản luật hình sự đã ban hành
của chế độ phong kiến Việt Nam, Hoàng Việt luật lệ không có điều luật định
nghĩa về khái niệm tội phạm và như vậy cũng không có quy định phân biệt khái
niệm tội phạm theo luật hình sự với khái niệm vi phạm pháp luật khác. Nhưng
đối với một số loại tội cụ thể, Hoàng Việt luật lệ lại có những định nghĩa có tính
khái quát cao, đó là định nghĩa pháp lý của mười tội ác (thập ác) trong Điều 2
của Bộ luật.
- Định nghĩa pháp ỉỷ cua mười tội ác: Mưu phản là mưu làm sụp đổ xã
tắc...; nưu đại nghịch là mưu mô phá huỷ tông miếu, làng và cả cung điện vua...;
phản bội là mun phản bội tố quốc, đi theo nước khác...; ác nghịch là đánh hay
giết ôflg bà nội, cha mẹ, ông bà ngoại, chú bác, cô dì, anh chị của ông nội,
chồng..; bất đạo là không còn đạo lý giết chết ba mạng người trong một gia
đình... đại bất kính là bất kính lớn nhất, ăn cắp đồ vua dùng đế cúng tế đại lễ
th ân k:, ăn cắp những đô vật trong xe vua đi, ngụy tạo con dâu của vua...; bât
hiếu, h không có hiêu, tô cáo, chửi mắng ông, bà, cha mẹ, ông bà nội chông, cha
mẹ vàông bà nội cha mẹ...; bât lục là mât hoà thuận mưu giêt, bán ti ma trỏ' lên,
đánh, :ô cáo chông và đại công trở lên, tôn trưởng, tiêu cônơ...; bât nghĩa là bộ
dân giet bôn thuộc , tri phủ, tri châu, tri huyện, lính mà giêt quan chỉ huy... oiêt
thây hoc, nghe tang chông mà giâu không tố chức tang lễ, tự vui chơi...; nôi loạn
là rối bạn bên trong, là ơi an dâm vói từ hàng tiểu công trả lên, với thiếp của cha,
ông...


10

-

Ouan niệm cua nhà làm luật vê tội phạm trong Hoànơ Việt luật lệ: Một

lả, tội phạm là hành vi của con người. Tuy bộ luật không trực tiêp khăng định:
“Tội p hạ m là hành vi...” (Điêu 8 BLHS năm 1999) như luật hình sự hiện nay,
nhưng những quy định các tội phạm cụ thể trong Hoàng Việt luật lệ đã thê hiện
được neuyên tắc tội phạm là hành vi của con người... Hai là, tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Tuy không có điều luật trực tiếp khẳng định dâu hiệu nội
dung này và các dâu hiệu khác của tội phạm như BLHS hiện nay. N h un g các quv
định về các tội phạm cụ thể trong Bộ Hoàng Việt luật lệ đã thê hiện được tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi nó xâm phạm đến những quan hệ xã
hội được nhà nước bảo vệ. Ba là, tội phạm được quy định trong luật. Dấu hiệu
hình thức pháp lý này của tội phạm cũng được thừa nhận trong Hoàng Việt luật
lệ qua việc xác định các hành vi bị coi là tội phạm và quy định chúng trong Bộ
luật. Trong đó những quy định sau đây đã trực tiếp thể hiện nguyên tắc không
có luật thì không có tội phạm. Bốn là, tội phạm là hành vi có lỗi cố ý hoặc vô ý.
Kiức với luật hình sự hiện nay, lỗi được quy định trực tiếp trong định nghĩa tội
pham là một dấu hiệu của tội phạm tù đó có thể suy ra “ không có lỗi thì không
có tội p h ạ m ” là một nguyên tắc của luật hình sự. Năm là, các dấu hiệu (yếu tố)
đề xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Hoàng Việt luật lệ
không phân biệt mức độ của tính nguy hiêm cho xà hội của hành vi khi quy định
tội phạm, nhưng khi xác định trách nhiệm hình sự (loại và mức hình phạt) cho
các tội cụ thể thì lại dựa trên cơ sỏ' là mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội.
2.3.2. Phân loại tội ph ạm trong H oàng Việt luật lệ
- Cách phân loại thứ nhất, lấy hình phạt làm CO’ sỏ' để phân loại tội phạm,
Hoang Việt luật lệ phân biệt và có các loại tội sau: Tội suy, tội trượng, tội đô, tội
lưu và tội tử.
- Cách phân loại thứ hai, căn cứ vào tính chât nghiêm trọng của tội phạm,
Hoanơ Việt luật lệ phân biệt tội phạm thành mười tội ác (thập ác) và các tội
phạm thường.


11

-

Cách phân loại thứ ba, căn cứ vào lỗi cua nsười phạm tội, Hoàng Việt

luật lệ phân biệt tội phạm thành tội phạm cô ý và tội phạm do lâm lỡ (do vô ý).
2.3.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong H oàng Việt L uật L ệ
Do không trực tiếp quy định về lỗi, nên Hoàng Việt luật lệ cũng không đặt
vấn đề chủ thể của tội phạm nói chung cũng như vấn đề năng lực trách nhiệm
hình sự nói riêng của con người nên cũng không có quy định trực tiếp tuổi chịu
trách nhiệm hình sự của con người như Bộ luật hình sự hiện nay. Độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự của chủ thê tuy có được nhăc đên trong Hoàng Việt luật lệ
nhưng không trực tiêp trong một điêu luật riêng mà được thế hiện gián tiếp qua
quy định của Điều 21. Nhận giá tiền chuộc đối với người già, trẻ em và người
tàn phế khi giải quyết vấn đề nhân đạo trong chính sách hình sự của nhà nước.
Với mục đích như vậy, nên điều luật này đã gộp độ tuổi thấp với độ tuổi cao và
người có sự phát triển không bình thường thành từng cặp để xác định mức độ
TNHS, mức độ tha miễn. Theo những quy định trong Hoàng Việt luật lệ, tuổi
phải chịu TNHS của con người thống nhất là trên 7 tuổi và cao nhất là không quá
90 tuổi, Trừ trường hợp đặc biệt khi phạm tội phản nghịch thì luật không giới
hạn tuổi tối đa phải chịu TNHS.
2.3.4. M ộ t số vấn đề khác liên quan đến tội ph ạm trong H oàng Việt luậí
‘ệ
- Vấn đ ê đông phạm trong Hoàng Việt luật lệ
+ T h ứ nhât, Hoàng Việt luật lệ không có quy phạm định nghĩa khái niệm
ctồnơ phạm, thế nhưng vấn đề phân biệt vai trò nhữne, người phạm tội - những
người đồng phạm lại rất được chú ý đến.
+ Thứ hai, nêu tội phạm do các thành viên trong một gia đình thực hiện thì
(hỉ truy cứu TNHS người trưởng gia. Quy định xuất phát từ nguyên tẳc người
tòn trưởng có khả năng chi phôi, chê phục những người khác trong gia đình,
r hững nơười khác con, cháu, ty âu không đưọ'c phép và cũng không dám cưỡng
hi tôn trưỏng nên chi buộc tội tôn tnrởns, mà khôno buộc tội những người khác.


12

+ Thứ ba, nhữns người đông phạm phai chịu TNHS về toàn bộ tội phạm
do họ cùng thực hiện.
- Vẩn đề các giai đoạn thực hiện tội phạm trong Hoàng Việt luật lệ
+ Thứ nhất, theo Hoàng Việt luật lệ, biêu lộ ý định phạm tội là giai đoạn
đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm và bị trừng trị thậm chí trừng trị rất
nghiêm khắc như tội mưu phản đại nghịch, tội mưu phản, tội mưu sát nhân...
+ Thứ hai, Hoàng Việt luật lệ không có quy định khái quát các trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trong các điều luật riêng như luật hình sự
hiện nay. Những trường họp được coi là chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và
hình phạt đối với các trường họp phạm tội này đưọ'c quy định trực tiếp trong điều
luật quy định tội phạm cụ thể.
- Vấn đề những tình tiết lại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
trong HVLL
+ Phòng vệ chính đáng: Trong Hoàng Việt luật lệ, nhà lảm luật quy định
một số trường hợp cụ thể của phòng vệ chính đáng. Trường hợp một, Điều 246.
ỉ)êm tối không lý do vô nhà người ta quy định: “Phàm ban đêm vô cớ xông vào
nhà người ta thì bị phạt 80 trượng. Gia chủ giết chết ngay lúc đó thì không bị
tội” . Trường hợp hai, Điều 292 ông bà bị đánh luật quy định: “Phàm ông bà, cha
mẹ bị người khác đánh, cháu con tức thì cứu giúp đánh trả lại người hành hung
kifl nếu không gây thương tích thì khôns; bị tội, nếu gây thương tích trở lên thì
giam 3 bậc tội đánh lộn người thường” .
+ Tinh thế cấp thiết: Theo Điều 265 Bộ Hoàng Việt luật lệ có thể coi
truờng hợp sau đây là tình thế cấp thiết. '‘Phàm vô cớ không được cho ngựa, xe
chạy nhanh noi phổ chợ... làm người ta bị thương thì siam một bậc tội theo
thưong nhân đánh lộn có thương tích. Nêu nhân đó làm chêt người phạt 100
truợng lưu 3000 dặm. Nêu vì công, vụ khân câp cho ngựa phón« nhanh làm bị
thương người thì bị xử tội sai lâm, y luật chuộc đên cho nạn nhân” .
2.4. K hái q u á t về các tội p h ạ m cụ thể trong H o à n g Việt lu ật lộ


13

2.4.1.

Diện các quan hệ x ã hội được luật hình sụ' bảo vệ là khách thể

trự c tiếp của các tội phạm trong H oàng Việt luật lệ cỏ phạm vi rất rộng
Hoàng Việt luật lệ bảo vệ các quan hệ liên quan đên duy trật tự xã hội
phong kiến mà các hành vi xâm phạm tới đều phải bị trừng trị. Đó là các quan hệ
về sở hữu, quyền tôn trọng tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con
người cũng như sự hoạt động bình thường, đủng đắn, uy tín cùa hệ thống các cơ
quan nhà nước và các quan hệ đảm bảo giữ gìn thuần phong mĩ tục v.v...
2.4.2. Trong m ột số trư ờng hợp, H oàng Việt luật lệ x á c định trách
nhiệm hình sự íập thể m ột cách tàn bạo nhất
Ngoài trách nhiệm hình sự đặt ra thông thường đối với người phạm tội,
trong một số trường hợp đặc biệt, Hoàng Việt luật lệ còn qui trách nhiệm hình sự
về hành vi của thân nhân người phạm tội. Trách nhiệm này được đặt ra trên cơ
sở phạm vi quyền và trách nhiệm của mgười gia trường hay tinh thần đoàn kết
trong gia đình hoặc chỉ vì cùng ở một nhà. Sự qui định này của Hoàng Việt luật
lệ được dự liệu trực tiếp trong điêu luật về tội phạm cụ thể.
2.4.3. N hiều điều luật trong H oàng Việt luật lệ qui định hành vi phạm
tội của các quan lại ở các lĩnh vực khác nhau
Nhà làm luật của vương triêu Nguyễn muốn xây dựng một hệ thông quan
chức ở các cương vị khác nhau từ trung ương đến địa phương biết trung thành,
trung thực, có năng lực và trách nhiệm, không dựa vào chức vụ làm điều sai trái.
Vì vây, nghiên cứu Hoàng Việt luật lệ chúng ta thấy có khá nhiều điều luật dự
liệu hành vi phạm tội của quan chức (loại chủ thể đặc biệt) (gần 150 điều trong
tồng số 353 điều luật về tội phạm cụ thế, chiếm tỷ lệ hơn 1/3). Các điều luật này
có trong tất cả các mục theo thẩm quyền các bộ như phần qui định về lại luật
(luật vê quan lại): 27 điều; luật về lính: 58 điều v.v... Trong các qui định này,
không ít tội phạm mà ý nghĩa thực tiễn của sự tiến bộ về mặt lập pháp trong
Hoàng Việt luật lệ vẫn còn phù họp với hiện nay.
2.4.4. Các điều luật cùa H oànẹ Việt Ịuột lệ được phân loại theo thẩm
quyển sáu bộ


14

Hoàng Việt luật lệ được biên soạn trong trong 22 quyên, từ quyên 4 đên
quyên 21 qui định các tội phạm cụ thê với tông sô 353 điêu luật vê tội phạm cụ
thể. Các Điều luật này được phân chia theo sáu nhóm theo thâm quyên của sáu
bộ do nhà vua lập ra, gồm: Bộ lại (các việc vê quan lại, viên chức); Bộ hộ (các
việc về dân, thuế khoá, tài chính); Bộ lễ (các việc về tế lễ); Bộ binh (các việc
quân chính); Bộ hình (các việc liên quan đên tội phạm); Bộ công (các việc về
kiến trúc, xây dựng đường sá...). Tương ứng với mỗi bộ trên đây là các luật,
như: Lại luật (luật về quan lại): 27 điều; luật hộ: 66 điều; luật luật lễ: 26 điều;
luật binh lính: 58 điều; luật hình: 176 điều; luật công: 10 điều. Sự qui định như
trên đây của Hoàng Việt luật lệ cho thấy mỗi bộ đều có quyền xử lý và áp dụng
hình phạt đối với những vụ việc của nhóm các tội thuộc bộ mình khi câp địa
phương chuyển lên. Trong mỗi luật theo từng bộ, các tội phạm lại được phân loại
thành các nhóm tội khác nhau dựa vào đặc điểm quan hệ xã hội bị xâm hại. Tuy
nhiên, trong chừng mực nào đó, do phụ thuộc vào chức năng của mỗi bộ cho nên
có những tội danh nếu xét về tính chất quan hệ xã hội bị xâm hại thì lẽ ra phải
thuộc nhóm tội phạm khác, thậm chí còn thuộc luật của bộ khác. Điều này có thể
thấy trong bất cứ nhóm điều luật nào của từng bộ.
2.4.5.

Từ việc xâ y dựng m ỗi điều lu ật về tội phạm cụ thể, H oàng Việt

lu ậ t lệ đã thể hiện sự tiến bộ m ới trong k ỹ thu ật lập pháp của N hà N ước
p h o n g -k iến triều N guyễn
-

Hoàng Việt luật lệ đã đặt tên tội danh cho mỗi tội phạm tương ứng tronơ

điều luàt. Đây cũna là đặc điêm thê hiện sụ' tiên bộ, là điêm khác biệt so Quôc
triều h h h luật (còn được gọi là Bộ luật Hồ ng Đức) của triêu đại nhà Lê. Quôc
triều hình luật khôns đặt tên tội danh cho hành vi mà chì mô tả trực tiêp hành vi
phạm tói cụ thê. Việc đặt tên tội danh cho hành vi nào đó thê hiện khả năng tâm
khái quít của nhà làm luật triêu Nơuyễn. Tuy nhiên, sự khái quát ở đây còn ỏ'
mức độ hạn chê nên phân lớn các tội danh đưọ'c đặt tên theo hành vi thực tê.


15

-

Các qui định vê tội phạm cụ thê trong Hoàng Việt luật lệ không manọ

tính khái quát như trong luật hình sự hiện đại mà được mô tả tỉ mỉ, chi tiết và cụ
thể.
2.4.6.

Các hình p h ạ t qui định trong từng tội ph ạm th ế hiện sự tiến bộ về

khả năng cá th ể hoá m ức độ trách nhiệm hình sự trong xây dựng luật
Trong Hoàng Việt luật lệ, ứng với mỗi dạng hành vi phạm tội có một một
hình phạt nhất định. Hình phạt qui định trong Hoàng Việt luật lệ tuyệt đại bộ
phận thuộc loại chế tài dứt khoát (chế tài ấn định dứt khoát loại và một mức cụ
thể) là hà khắc. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo không có sự lạm dụng pháp luật trong
các cơ quan áp dụng, Hoàng Việt luật lệ đã chia các hình phạt theo nhiều bậc
khác nhau và trực tiếp dự liệu trong mỗi tình huống cụ thể. Mỗi tình huống cụ
thể đó có thể làm cho hình phạt tăng bậc lên (Cấu thành tội phạm tăng nặng)
hoặc có thể làm giảm bậc của hình phạt theo (Cấu thành tội phạm giảm nhẹ).
Cách qui định hình phạt chi tiết từng bậc, cụ thể cho hành vi phạm tội là hoàn
toàn đáp ứng yêu cầu tính pháp chế trong áp dụng pháp luật. Ở mức độ nào đó,
ỴỚi thời hiện đại, kinh nghiệm lập pháp này có thể giúp nhất định cho việc xây
dựng pháp luật.
2.5. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Hoàng Việt luật lệ
2.5.1. Quan niệm về các tội xâm ph ạm an ninh quốc gia
Trước hết trong Bộ luật Gia Long thời bấy giờ chưa có khái niệm về an
ninh cuôc gia, do đó trong luật hình sự cũng chưa có các tội xâm phạm an ninh
qu ốc gia. Việc chia tội phạm thành từng nhóm tội cũng dựa trên những tiêu chí
rất khiC nhau. Việc xác định các tội danh cụ thể coi là các tội xâm phạm an ninh
quốc gia trong Hoàng Việt luật lệ là do chúng tôi tự' nhận thức đánh giá trên cơ
sở nhàn thức đánh giá theo quy định hiện hành vê các tội xâm phạm an ninh
quốc gia trong BLHS 1999. Trên tinh thần đó, chúng tôi cho ràng những tội
p h ạ m có nội dung trực tiêp xâm phạm đến sự tồn tại và sự vững mạnh của nhà
nưó'c, ;ua chê độ phong kiên hay trực tiêp xâm phạm đến sự an toàn của nhà vua,
đến tổ tiên, tông miếu, lănẹ tẩm của nhà vua thì có thể được coi là các tội xâm




phạm an ninh quôc gia. Với quan niệm như vậy, khi nghiên cứu Hoàng Việt
luật lệ tại quyên 2 phân danh lệ có đẻ cập Thập ác (10 tội ác) trons, đó quy định
những tội mà theo chúng tôi có thê coi là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, đó
là:
M ư u ph ản (mưu làm sụp đô xã tăc) xã tẳc là vua, mưu làm xụp đồ xã tắc
là lật đổ ngôi vua, lật đổ triều đình.
M ư u đại nghịch - mưu mô phá tông miếu, lăng và cả cung điện...
M ư u phiến - là mưu phản bội tổ quốc, đi theo nước khác.
2.5.2. N ội dung về các tội phạm cụ th ể
- Các hành vi được coi là các tội xâm phạm an ninh quôc gia
Theo quan điểm của chúng tôi, những tội phạm có thể được coi là có mục
đích chống nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến sự tồn tại của xã tắc, sự vững
mạnh của nhà nước Phong kiến bao gồm tội Mưu phản đại nghịch, tội Mun
phản, tội Tạo yêu thư yêu ngôn. Những tội phạm này trong nội dung mô tả thể
hiện rõ nội dung chống đối nhà nước, chống đối nhà vua, có khả năng gây nguy
hại cho xã tắc, đến sự tồn tại của chế độ Phong kiến.
-

về đường lối xử lý

+ v ề đối tượng bị áp dụng hình phạt
* Trong Hoàng Việt luật lệ, hình phạt được quy định đôi với các tội xâm
phạm i n ninh quốc gia có thể áp dụng với những người thân thích trong gia đình,
thậrr trí còn áp dụng nguyên tắc không đồng mưu nhưng đồng CU' (ở chung trong
m ột nhà) mặc dù khác dòng họ... cũng bị trừng phạt. Điều này cho thấy tính chất
h à khic của hình phạl cũng như mục đích của hình phạt không chỉ trừng trị
ngưò'i phạm tội mà còn mang tính trả thù đổi vó'i họ.
* Ngoài chỉ rõ đôi tượng bị trừng phạt, trong Hoàng Việt luật lệ tội Mưu
phản cại nghịch còn quy định rõ một số đối tượng như người có hành vi bao che
được coi là cùng dônơ dảng và bị áp dụ no hỉnh phạt nghiêm khẳc.
* Trong Hoàng Việt luật lệ đã có đưÒTie lôi phân hoá các đôi tơợnơ phạm
tội nh,r: Nơu'0'i tụ' thú thì không bị trị tội “ai tự thú pháp luật ẹiâu kín tên... như


17

thế được khói tội...” và “chính phạm cùng bè đang tự thú tội, chính phạm đưọ’c
miễn tội đã làm” ... Đặc biệt trong tội Mưu phản còn quy định rõ trách nhiệm của
quan địa phương “ làng xóm bảo vệ nhau, tố cáo quan địa phương biết, mà quan
không nghe, lại không chịu lùng băt chúng, chỉ lo che chông bên ngoài. Đên lúc
giặc nổi như ong, trộm cướp hoành hành, cướp phá thì các quan văn võ địa
phương ấy bị cách chức, trị theo lối nặ ng.” .
*

Trong quy định của các điều luật trong Hoàng Việt luật lệ về các tội

xâm phạm an ninh quốc gia đều dự liệu nhiều tình huống có thê xảy ra trên thực
tế như các trường hợp a tòng, trường họp che dấu tội phạm, trường hợp có mưu
phản nhưng chưa thực hiện, đổi tượng là con nuôi, ông bà, cha mẹ, cháu, anh em
ở khác làng v.v... đều có quy định rõ ràng về cách xử lý, về loại và mức hình
phạt.
+ v ề loại và mức hình phạt được áp dụng
Do điều kiện lịch sử chi phối, nhìn chung hình phạt trong Hoàng Việt luật
lệ nói chung và các tội trong nhóm Đạo tặc thượng nói riêng là rất nghiêm khắc,
phần lớn là áp dụng hình phạt tử hình như lăng trì, treo cổ, chém hay các hình
phạt khác như phạt trượng, lưu đày nơi xa v.v... Nhiều hình phạt mang tính tàn
ác và mang tính dã man. Tính cải tạo, giáo dục không rõ nét mà chủ yếu răn đe
và trừng, trị, do vậy các hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ không còn phù họp
với chế độ dân chủ và nhân đạo ngày nay.
2.6. Các tội xâm phạm sỏ' hữu t r o n g Hoàng Việt luật lệ
2.6.1.

Vai trò, vị tr í và m ộ t số đặc điểm ch u n g của các tội x â m p h ạ m sở

hữu tronụ H oàng Việt L u ật lệ
Đe oảo vệ nhà nưó'c phong kiến với vị trí cao nhất của nhà vua và nền tảng
vật chất cia xã hội, Hoàng Việt luật lệ có các quy phạm pháp luật hình sự xác
định n h ữ ig hành vỉ xâm phạm đên quan hệ só' hữu là tội phạm. Các quy phạm
pháp luật lình sự bảo vệ chê độ sỏ' hữu của nhà nước phona, kiên được quy định
tập trung ại chươns, Đạo tặc của Hoàng Việt luật lệ. Hoàng Việt luật lệ có tông
số 398 đitu, trong đó có 18 điều luật quy định trực tiếp về các tội xâm phạm sỏ'

T H Ư VIỆ N
I T RƯ Ờ NG

ĐẠmOCLŨẬl HA Nốr


18

hữu. Đó là: Tội trộm cẳp đô vật của vua d ù n s tế thần (Điều 226), tội trộm cẳp
đồ vật trong nội phủ (Điêu 229), tội trộm cẳp đồ quân khí (Điều 231), tội trộm
cắp cây cối, đồ vật trong viên lăng (Điều 232), tội trộm cắp lương tiền trong
thương khố của giám thủ (Điều 233), tội trộm cẳp lương tiền trong thương khố
của người ngoài (Điều 234), tội cướp tài sản (Điều 235), tội cướp giật tài sản
(Điều 237), tội trộm cắp tài sản (Điều 238), tội trộm cắp trâu, ngựa, súc sản
(Điều 239), tội trộm cắp thóc lúa ngoài đồng (Điều 240), tội trộm cắp tài sản của
người thân thuộc (Điêu 241), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 242), tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản (Điều 243), tội đào mộ lấy tài sản (Điều 237), tội đang đêm
vào nhà lấy tài sản (Điều 246), tội đồng ph ạ m trộm cắp tài sản (Điều 248), tội
công nhiên chiếm đạt tài sản (Điều 249).
2.6.2. K h ái niệm các tội xâm ph ạm s ở hữ u trong H oàn g Việt lu ậ t lệ
Căn cứ vào 18 điều luật cụ thể của chương Đạo tặc trong Hoàng Việt luật
lệ ta thấy nhà nước phong kiến Việt Nam quan niệm các tội xâm phạm sở hữu là
các hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu, gây thiệt hại đến tài sản của nhà vua
Yầ người dân trong xã hội.
2.6.3. M ột số tội ph ạm cụ th ể xăm p h ạ m ch ế độ s ở hữ u tron g H oàng
Việt
• luật
9 lệ•
- Tội trộm cắp tài sản
Hoàng Việt luật lệ có 12 Điều luật quy định về tội trộm căp tài sản, ngoài
1 điều quy định về tội trộm cấp tài sản nói chung còn có 1 1 điều luật khác quy
định CcC tội trộm cắp tài sản cụ thể từ tội trộm cắp đồ vật dùng để tế thần của vua
đến tộ- trộm căp tài sản của người thân thuộc trong đó tội trộm cắp tài sản của
n h à VUI đ ư ọ c coi là có tính c h â t và mứ c đ ộ n g u y h iê m c h o xã hội c a o nhât.

-lình phạt đôi với người phạm tội trộm căp tài sản rât khác nhau tưỳ thuộc
vào tím chât, giá trị cua tài san bị xâm hại và sô lân phạm tội.
- Tội cướp tài sán


19

Tội» cướp tài sản được quy định tại Điều 235 của Hoàng Việt
. luật
. . lệ Vỉ
được gọi là “cường đạo” . Nội dung của Điêu luật quy định về tội cướp tài sảr
phản ánh các đặc điêm sau:
+ Tội cướp tài sản được hiều là hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của
người khác hoặc dùng các loại thuốc mê đầu độc người khác và lấy tài sản củc
người đó. Tuy đây là khái niệm về tội cướp tài sản gần gũi với quan điểm củc
luật hình sự hiện đại nhưng luật hình sự phong kiến nhấn mạnh đến chi tiết mang
theo khí giới và đặc tính công khai của sự chiếm đoạt tài sản. Điều 235 không
phân biệt trường họp chuyển hoá từ tội trộm cắp tài sản sang tội cướp tài sản với
trường họp trộm cắp tài sản có hành vi hành hung người khác để tẩu thoát
Người phạm tội trộm cắp tài sản cứ có hành vi chống lại người đuổi bắt gây chếl
ngườ' hoặc gây thương tích thì đều xử như cướp tài sản.
+ Trách nhiệm hình sự của người phạm tội cướp tài sản được phân hoá
căn cứ vào tình tiết đã lấy được tài sản hay chưa lấy được tài sản. Neu lấy được
tài sản thì hình phạt là từ hình, nếu chưa lấy thì hình phạt là đánh 100 trượng,
đày đ 3000 dặm.
- Tội cướp g iậ t tà i sản
Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 237 của Hoàng Việt luật lệ.
Các nhà lập pháp hình sự phong kiến Việt Nam quan niệm: Tội cướp giật là hành
vi công khai lấy tài sản của người khác. Đẻ phân biệt giừa tội cướp giật và tội
cư óp luật hình sự phong kiến chú ý đến tình tiết có mang vũ khí khi lấy tài sảr
hay không. Nêu đông người lây tài sản lại đem theo vũ khí thì là phạm tội cướp
tài sản.
Hình phạt đôi với người phạm tội cướp giật tài sản là đánh 100 tnrợno VÈ
đô 3 năn không tính đên giá trị tài sản bị chiêm đoạt. Hình phạt đôi với người
ph ạm tội :ướp giật nhẹ hơn tội cướp tài sản và nặng hơn tội trộm căp tài sản.
- 1 lì cưỡng đoạt tài sản
Tộ cưõng đoạt tài sản tro ns bộ luật này đirợc hiêu là hành vi đe doạ người
khác và Uy tài san của người đỏ.
j

Cj


20

Tội cưỡng đoạt tài sản được coi là có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao
hơn tội trộm cắp tài sản. Hình phạt đôi với người phạm tội cưỡng đoạt tài sản
được quy định chiêu theo tội trộm cẳp tài sản. Trong mọi trường họp cưỡng đoạt
tài sản, người phạm tội sẽ bị áp dụng hình phạt “ nặng hơn một mức” so với tội
trộm cẳp tài sản. Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản cũng được “miễn thích
chừ” .
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tài sản
Tội lừa đảo chiêm đoạt tài sản được quy định trong Điêu 243 Hoàng Việt
luật lệ. Các nhà lập pháp hình sự phong kiến quan niệm tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản là hành vi của quan lại hoặc dân thường dùng các kế sách để lừa gạt
người khác và chiếm đoạt tài sản.
Điều 243 không quy định hình phạt trực tiếp đối với người phạm tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản. Hình phạt đối với người phạm tội này phải chiểu theo các
quy định khác trong chương Đạo tặc để áp dụng. Đây cũ ng'có thể đưọ'c coi là
quv định về chế tài hình sự m ana tính chất chỉ dẫn.
Các quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong Hoàng Việt luật lệ tuy có
những hạn chế nhất định do điều kiện, hoàn cảnh xã hội chi phối và mang nặng
dấu ấn đặc trưng của chế độ phong kiến Việt Nam nhưng đã có tác dụng to lớn
củng cố chế độ sở hữu phong kiến. Không những thế các quy định này còn góp
phản duy trì trật tự xã hội, chông lại các hành vi phạm tội nói chung và tội xâm
phạm sở hữu nói riêng.
2.7. Các tội xâm phạm tính mạ ng của con nguòi trong Hoàng Việt
luật lệ
Trong Hoàng Việt luật lệ, các tội xâm phạm tính mạng của con người
đươc qui định tập trung tại Quyên 14, từ Điêu 1 đến Điêu 19, gôm các tội: Mưu
sát nhân" (Ảm mưu siêt ngưòi); "Mưu sát chế sứ cập bản quản trưỏng quan"
(M.ru sát sứ của vua và trưcmg quan ban quản); "Mưu sát tô phụ mẫu, phụ mẫu"
(M ru sát ông bà. cha mẹ); "Sát tử ơjan phu" (Giát chết gian phụ); "Mưu sát cổ
phi phụ mẫu" (Mưu sát cha mẹ cúa người chông đã qua đời); "Sát nhât gia tam


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×