Tải bản đầy đủ

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong pháp luật hình sự việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT
TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:

60380104

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Tuyết Miên

HÀ NỘI - 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương Giang


LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn,
được sự hướng dẫn, giảng dạy của Quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt
tình của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn
thành Luận văn Thạc sỹ Luật học.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo
sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức,
kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Cảm ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản
lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương
trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
đúng tiến độ.
Cảm ơn Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân địa phương đã
giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS. Dương
Tuyết Miên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực
hiện luận văn.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập./.
Tác giả luận văn


BẢNG TỪ VIẾT TẮT
AAPTIP

Chương trình hợp tác Châu Á-Australia về Phòng chống


tội phạm Mua bán người.

BLHS

Bộ luật hình sự

BCA

Bộ Công an

BQP

Bộ Quốc phòng

BTP

Bộ Tư pháp

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CT

Chỉ thị

CTTP

Cấu thành tội phạm

HĐTP

Hội đồng thẩm phán

HSST

Hình sự sơ thẩm

NLTNHS

Năng lực trách nhiệm hình sự

NXB

Nhà xuất bản

NQ

Nghị quyết

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TTLT

Thông tư liên tịch

TW

Trung ương

UBTVQH

Ủy ban thường vụ Quốc hội

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH
TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM ...................................................... 6
1.1. Khái niệm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em .................... 6
1.2. Quy định của chuẩn mực quốc tế về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em .................................................................................................... 10
1.2.1. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia (Công ước TOC) ........................................................................... 10
1.2.2. Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị nạn buôn bán
người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo) .................... 11
1.2.3. Công ước quốc tế về quyền trẻ em ..................................................... 13
1.2.4. Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và
văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em .................................................................. 15
1.2.5. Công ước ASEAN phòng chống buôn bán người, đặc biệt là Phụ nữ
và trẻ em (Viết tắt là ACTIP) ....................................................................... 16
1.2.6. Các điều ước song phương ................................................................ 19
1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định tội mua bán, đánh tráo
hoặc chiếm đoạt trẻ em trong BLHS Việt Nam ........................................... 20
1.3.1. Cơ sở lý luận của việc quy định tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em trong BLHS Việt Nam ............................................................... 20
1.3.2. Cơ sở thực tiễn của việc quy định tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em trong BLHS Việt Nam ............................................................... 23
1.4. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em ở Việt Nam ..................................................................... 27
1.4.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945 ................................. 27


1.4.2. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1985 ................................................................... 28
1.4.3. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành
BLHS năm 1999 ........................................................................................... 31
1.4.4. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999 cho đến nay ................. 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................. 36
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999, BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC
CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN BỘ
LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỘI DANH NÀY ......................... 37
2.1. Đánh giá quy định của BLHS năm 1999 về tội mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em ......................................................................................... 38
2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ
em ................................................................................................................. 38
2.1.1.1. Khách thể của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ..... 38
2.1.1.2. Chủ thể của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em......... 39
2.1.1.3. Mặt khách quan của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 41
2.1.1.4. Mặt chủ quan của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em47
2.1.2. Trách nhiệm hình sự của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ
em ................................................................................................................. 49
2.1.2.1. Tình tiết định khung tăng nặng đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em ......................................................................................... 51
2.1.2.2. Hình phạt áp dụng đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt
trẻ em

.................................................................................................... 56

2.1.3. Bất cập của BLHS năm 1999 khi quy định về tội mua bán, đánh tráo
hoặc chiếm đoạt trẻ em ................................................................................ 57


2.1.3.1. Bất cập về kĩ thuật lập pháp khi quy định về tên tội (tội danh) tại
điều luật cụ thể ............................................................................................. 57
2.1.3.2. Bất cập của quy định về dấu hiệu định tội...................................... 58
2.1.3.3. Bất cập của quy định về trách nhiệm hình sự ................................. 61
2.2. Quy định của BLHS năm 2015 về tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội
đánh tráo người dưới 01 tuổi, tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi và phương
hướng hoàn thiện bộ luật này ....................................................................... 63
2.2.1. Điểm mới của BLHS năm 2015 (so với BLHS năm 1999) quy định về
tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội đánh tráo người dưới 01 tuổi, tội chiếm
đoạt người dưới 16 tuổi ............................................................................... 63
2.2.1.1. Điểm mới về kĩ thuật lập pháp khi quy định về tên tội (tội danh) tại
điều luật cụ thể ............................................................................................. 64
2.2.1.2. Điểm mới quy định về dấu hiệu định tội ......................................... 64
2.2.1.3. Điểm mới quy định về trách nhiệm hình sự .................................... 66
2.2.2. Đánh giá điểm mới của BLHS năm 2015 về tội mua bán người dưới 16
tuổi, tội đánh tráo người dưới 01 tuổi, tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi ....... 69
2.2.2.1. Đánh giá điểm mới về kĩ thuật lập pháp khi quy định về tên tội (tội
danh) tại điều luật cụ thể ............................................................................. 69
2.2.2.2. Đánh giá điểm mới quy định về dấu hiệu định tội .......................... 70
2.2.3. Phương hướng hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về các tội
danh này ....................................................................................................... 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................. 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là những người bị hạn chế hoặc hoàn toàn không có khả năng,
điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ mình. Vì vậy, trẻ em là đối tượng đặc biệt cần
được toàn xã hội bảo vệ. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, bảo vệ trẻ em
chính là bảo vệ sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia. Những tác động
kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, sự phân hóa giàu nghèo, nạn thất
nghiệp, tình trạng nghèo đói, đô thị hóa với tốc độ cao, vấn đề di dân từ nông
thôn lên thành thị, tư tưởng lệch lạc trong hưởng thụ có xu hướng lan rộng,…
làm cho môi trường sống hiện tại tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến các vụ xâm
hại trẻ em, mua bán trẻ em, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em
phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm…
Trong những năm qua, ở nước ta, không chỉ phụ nữ mà trẻ em cũng đang
trở thành nạn nhân của tội phạm mua bán người, nhất là các tỉnh giáp biên giới
với nước khác như Nghệ An, Điện Biên, Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn… Đó là
vấn đề bức xúc, đáng quan tâm, lo âu của toàn xã hội. Phòng và chống các tội
phạm về mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em không chỉ là vấn đề quan tâm
của từng quốc gia mà nó còn mang tính khu vực và thế giới.
Nhận định được sự nguy hiểm nghiêm trọng của các tội phạm về mua
bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương xử lý
nghiêm minh loại tội phạm này. Trong nhiều năm qua, chúng ta đã nỗ lực,
quyết tâm phòng, chống nạn mua bán người thông qua nhiều hoạt động quan
trọng, trong đó, Quốc hội đã phê duyệt Luật Phòng, chống mua bán người năm
2011 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2012; phê chuẩn Công ước chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC), Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp
và trừng trị tội phạm mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Chính phủ
đã phê duyệt và chỉ đạo quyết liệt thực hiện Chương trình quốc gia phòng,


2

chống mua bán người, giai đoạn 2016 - 2020; ký, tham gia Công ước và
Chương trình hành động ASEAN về phòng, chống mua bán người... và quy
định tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em trong Bộ luật hình sự (Điều 120
BLHS năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Việc quy định tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Bộ
luật hình sự của nước ta tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý loại tội phạm này
cũng như góp phần vào công cuộc phòng, chống loại tội phạm này đạt hiệu
quả. Mặc dù đã có TTLT số 01/2013 ngày 23/7/2013 hướng dẫn thực hiện
Điều 120 của BLHS năm 1999, tuy nhiên, việc xử lý tội phạm này vẫn còn gặp
nhiều khó khăn trên thực tế.
Chính vì vậy, để làm sáng tỏ quy định của pháp luật hình sự cũng như
thực tiễn áp dụng pháp luật về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em,
tìm ra điểm bất cập và đề xuất kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định Bộ luật
hình sự là rất cần thiết. Do vậy, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Tội
mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong pháp luật hình sự Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài trên. Cụ thể như sau:
* Về luận văn thạc sĩ
+ “Luật hình sự Việt Nam với việc bảo vệ trẻ em”, tác giả Nguyễn Văn
Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, năm 2003;
+ “Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Luật hình sự
Việt Nam”, tác giả Lê Việt Hà, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, năm 2009;
+ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán người trong Luật
hình sự Việt Nam”, tác giả Đoàn Ngọc Huyền, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội, năm 2014);


3

+ “Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đọat trẻ em trong luật hình sự Việt
Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)”, tác giả Bùi Thanh Phương,
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2016.
* Về bài viết trên tạp chí
+ “Sửa đổi, bổ sung tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo hướng
nội luật hóa công ước quốc tế về tội buôn bán người”, tác giả Mai Bộ, Tạp chí
Tòa án nhân dân số 6, 2015, tr. 5-11;
+ “Phân tích một số bất cập trong các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ
luật tố tụng hình sự và Luật phòng, chống mua bán người, mua bán trẻ em
trong tình hình hiện nay”, tác giả Nguyễn Quang Lộc, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 16, 2013, tr.16-25.
Ngoài các công trình trên, giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội
phạm) của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật đại học Quốc gia Hà Nội,
Học viện cảnh sát nhân dân, Học viện an ninh nhân dân, Khoa luật của Trường
đại học khoa học Huế, trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh cũng đề cập đến
các tội phạm này.
Các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại phân tích tội mua bán trẻ
em, phân biệt tội này với tội mua bán người (Điều 119 BLHS năm 1999)
nhưng chưa đi sâu phân tích đến tội đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Việc
nghiên cứu mới chỉ là phân tích quy định của BLHS năm 1999 mà chưa có sự
kết hợp phân tích, đánh giá toàn diện về quy định của BLHS năm 2015 (là Bộ
luật đã được Quốc hội thông qua nhưng chưa có hiệu lực), từ đó đề xuất những
kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện BLHS năm 2015. Chính vì thế, tác giả đã
chọn và nghiên cứu đề tài: “Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
trong pháp luật hình sự Việt Nam”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quy định của
BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội mua bán, đánh tráo


4

hoặc chiếm đoạt trẻ em; Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu quy định
tương ứng của BLHS năm 2015 về các tội này.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự.
Do BLHS năm 1999 đang có hiệu lực thi hành, do đó, tác giả sẽ tập trung
nghiên cứu quy định của BLHS năm 1999 về các tội nói trên. Tuy nhiên, bên
cạnh đó, BLHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua, nhưng chưa có hiệu
lực thi hành, do vậy, tác giả cũng có sự liên hệ với BLHS năm 2015 thông qua
việc phân tích và đánh giá những điểm mới có liên quan đến các tội nói trên.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận được tác giả sử dụng là chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong từng
thời kì.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm: Phương pháp
lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra được các giải pháp hoàn thiện
quy định của BLHS năm 2015 về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn được đặt ra như sau:
- Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta về tội mua bán, đánh
tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
- Phân tích, đánh giá quy định về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt
trẻ em trong BLHS năm 1999;
- Phân tích và đánh giá điểm mới của BLHS năm 2015 quy định về tội này.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện BLHS năm 2015 nhằm đảm bảo hiệu
quả áp dụng quy định của BLHS này về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, chống và phòng ngừa tội


5

mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ở nước ta.
6. Những kết quả nghiên cứu của luận văn
Luận văn làm rõ các khái niệm, quy định của chuẩn mực quốc tế, quy
định của BLHS Việt Nam về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em,
góp phần hoàn thiện lý luận liên quan đến tội này.
Bên cạnh đó, luận văn chỉ ra những bất cập của BLHS năm 1999 đối với
tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong mối liên hệ với đánh giá
những quy định tương ứng trong BLHS năm 2015, từ đó đưa ra những phương
hướng cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các chữ viết tắt, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em.
Chương 2: Quy định của BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 về tội mua
bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em và phương hướng hoàn thiện BLHS
năm 2015 về các tội này.


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO
HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM
……………
1.1. Khái niệm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
Hiện nay, trong pháp luật hình sự Việt Nam chưa có khái niệm đầy đủ về
tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
Tại Điều 120 của BLHS năm 1999 không đưa ra khái niệm thế nào là mua
bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em mà chỉ quy định: “Người nào mua bán,
đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kì hình thức nào…”. Như vậy, nhà
làm luật của BLHS năm 1999 chưa mô tả cụ thể khái niệm chung về các tội
này mà mới chỉ dừng lại ở quy định giản đơn là nêu tên hành vi.
Các văn bản hướng dẫn cũng không có một văn bản nào đưa ra khái niệm
thế nào là tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em mà chỉ giải thích các
thuật ngữ thế nào là mua bán trẻ em, đánh tráo trẻ em, chiếm đoạt trẻ em.
(Điều 4 - Thông tư 01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP
ngày 23/7/2013).
Pháp luật quốc tế không có định nghĩa tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em mà chỉ có định nghĩa về tội buôn bán trẻ em tại Điều 2 của Nghị
định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm
khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “Buôn bán
trẻ em nghĩa là bất cứ một hành động giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị
chuyển giao từ bất kì một người hay một nhóm người cho một người hay một
nhóm người khác để lấy tiền hay bất cứ một đồ vật khác”.
Có quan điểm cho rằng: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là
tội phạm bao gồm nhiều hành vi phạm tội độc lập với nhau nhưng cùng xâm
phạm đến một đối tượng, đó là trẻ em.1 Khái niệm này đưa ra chưa đầy đủ,
chưa thể hiện được chủ thể của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội của hành
1

https://phaply24h.net/bai-viet/toi-mua-ban-danh-trao-hoac-chiem-doat-tre-em, truy cập ngày 11/4/2017


7

vi, lỗi của người phạm tội cũng như các hành vi phạm tội độc lập là những
hành vi nào.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ
em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm quyền tự do thân thể, tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền được quản lý, bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục của trẻ em…Người phạm tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em
phải bị xử lý bằng hình phạt2.
Có quan điểm lại cho rằng: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ
em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý, gây tổn hại hoặc đe dọa đến quyền được bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em.3
Quan điểm thứ hai và quan điểm thứ ba đều đã dựa trên các dấu hiệu đặc
trưng của tội phạm (chủ thể, khách thể, hành vi, lỗi) để đưa ra khái niệm cho
tội phạm này. Tuy nhiên, đối với quan điểm thứ nhất đưa ra khái niệm chưa cô
đọng, quan điểm thứ hai thì lại chưa nói rõ được khách thể bị xâm hại của tội
này là danh dự, nhân phẩm, tự do thân thể của trẻ em.
Như vậy, để xây dựng được định nghĩa về tội này một cách rõ ràng, chính
xác và cụ thể nhất cần dựa vào các dấu hiệu đặc trưng của tội này.
Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em có những dấu hiệu sau:
Thứ nhất, về khách thể và đối tượng tác động của tội phạm.
Các tội này đã xâm phạm quan hệ xã hội quan trọng được luật hình sự bảo
vệ - đó là quyền được bảo vệ của trẻ em về nhân phẩm, danh dự, tự do thân
thể. Bên cạnh đó, các hành vi này cũng xâm phạm đến quyền được quản lý, chăm
sóc, giáo dục trẻ em của người thân của các em, đặc biệt là bố, mẹ các em.

Bùi Thanh Phương, Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đọat trẻ em trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở
thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2016, Tr.12
2

Lê Việt Hà, Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2009, tr.25.
3


8

Về đối tượng tác động của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em,
tên gọi của tội này cũng đã thể hiện rõ đối tượng mà người phạm tội muốn tác
động đến không ai khác đó chính là trẻ em. Bất kể là trẻ em nam hay là trẻ em
nữ thì đều là đối tượng tác động của tội phạm này.
Trong pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật mỗi quốc gia có những
quy định khác nhau về độ tuổi trẻ em.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (Thông qua và để ngỏ cho các
quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989
của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990)4 đã quy định
về độ tuổi của trẻ em tại Điều 1. Theo đó: “Trong phạm vi của Công ước này,
trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với
trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.” Đối với quan điểm của chuẩn
mực quốc tế thì những người nào dưới 18 tuổi đều được coi là trẻ em.
Ở Việt Nam, theo Luật trẻ em năm 2016 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6
năm 2017 quy định tại Điều 1 như sau: “Trẻ em là người dưới mười sáu tuổi”.
Tuy nhiên, trong BLHS năm 1999 không có điều luật nào đưa ra khái
niệm thế nào là trẻ em. Cho nên chúng ta dựa vào quy định tại Điều 1 của Luật
trẻ em năm 2016 để đưa ra khái niệm trẻ em là nam hoặc nữ dưới 16 tuổi.
Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, việc trẻ em bị mua bán, đánh tráo
hoặc chiếm đoạt sẽ làm cho trẻ em dễ lâm vào tình trạng lo lắng, hoảng sợ,
bệnh tật dẫn đến tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, làm ảnh hưởng đến
tương lai của các em, đến hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến mối quan hệ
giữa cha mẹ và con cái. Việc trẻ em bị mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt
trực tiếp xâm hại đến quyền được sống, được vui chơi, được yêu thương, chăm
sóc, bảo vệ, được phát triển trong môi trường lành mạnh của xã hội.
Thứ hai, về hành vi khách quan của tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Theo Điều 120 BLHS năm 1999, tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ
em gồm có 3 tội:
4

Việt Nam phê chuẩn Công ước này ngày 20/2/1990


9

+ Tội mua bán trẻ em;
+ Tội đánh tráo trẻ em;
+ Tội chiếm đoạt trẻ em
Tương ứng với 3 tội nói trên là 3 hành vi khách quan đặc trưng. Đây đều
là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền được bảo vệ
của trẻ em về danh dự, nhân phẩm và tự do thân thể của các em. Các hành vi
này đều thực hiện dưới dạng hành động phạm tội. Các hành vi này bao gồm:
+ Mua bán trẻ em;
+ Đánh tráo trẻ em;
+ Chiếm đoạt trẻ em.
Theo BLHS năm 1999, các tội này đều được quy định là tội phạm có cấu
thành tội phạm hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của CTTP
(nhà làm luật không mô tả dấu hiệu hậu quả trong CTTP tại Điều 120)
Thứ ba, về mặt chủ quan của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội đối với 3 tội này này là lỗi cố ý
trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm
đoạt trẻ em của họ là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn cho hành vi đó xảy ra. Động cơ để người phạm tội thực hiện
hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em đa dạng có thể vì tiền bạc,
trả thù cá nhân… tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với
các tội này.
Thứ tư, về chủ thể: người thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em là người có năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi,
có năng lực điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
 Từ những phân tích trên, tác giả xin mạnh dạn nêu quan điểm của mình
về khái niệm các tội này như sau:
Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu


10

trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm quyền được bảo vệ của
trẻ em về danh dự, nhân phẩm, tự do thân thể và sự xâm phạm này thể hiện
một cách đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Về đường lối xử lí chung đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt
trẻ em. Chính sách hình sự của nhà nước ta luôn coi trẻ em là đối tượng hàng
đầu được quan tâm, bảo vệ, vì vậy, hành vi xâm phạm đến trẻ em luôn bị trừng
trị nghiêm khắc. Cụ thể, về hình phạt chính thì hình phạt nặng nhất có thể áp
dụng đối với người phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là tù
chung thân, về hình phạt bổ sung thì người phạm tội có thể bị phạt tiền mức
nặng nhất đến 50 triệu đồng, ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt hình
phạt bổ sung khác là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề nhất định hoặc
bị phạt quản chế.
Từ khái niệm nêu trên và các quy định của pháp luật hình sự, cần phải xác
định tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là tội phạm nghiêm trọng
cần phải trừng trị một cách nghiêm khắc hơn nữa, cần có sự quan tâm và hợp
tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực trao đổi thông tin về tội phạm, điều tra tội
phạm, hợp tác bảo vệ tội phạm.
1.2. Quy định của chuẩn mực quốc tế về tội mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em
1.2.1. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia (Công ước TOC)
Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia đã thông qua ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Palermo, Italia. Công
ước này áp dụng đối với việc ngăn ngừa, điều tra và truy tố các hành vi phạm
tội như tội rửa tiền, tội tham nhũng, chuyển đổi, chuyển giao tài sản, buôn bán
người… khi các hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia và liên quan đến
nhóm tội phạm có tổ chức. Công ước đã quy định về các vấn đề như nhóm
phạm tội có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, các biện pháp chống rửa tiền,


11

buôn bán người… nhằm ngăn ngừa các tội phạm có tính quốc tế trong đó có cả
tội phạm về mua bán người (bao gồm cả trẻ em). Công ước này tạo cơ sở cho
sự ra đời của Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn
bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
1.2.2. Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị nạn buôn bán
người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo)
Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán
người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo) là Nghị định bổ
sung Công ước phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên
hợp quốc. Việt Nam là một trong 117 quốc gia tham gia ký kết Nghị định thư
về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và
trẻ em (Hay còn gọi là “Nghị định thư Palermo”)5 và đã phê chuẩn Nghị định
này vào năm 2012.
Nghị định thư này sẽ áp dụng để ngăn ngừa, điều tra và truy tố các hành
vi phạm tội đó là: mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người
nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực hay bằng
các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc
vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt
được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc
lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những
hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng
bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ
thể, khi những hành vi phạm tội này có tính chất xuyên quốc gia và liên quan
đến một nhóm tội phạm có tổ chức cũng như để bảo vệ các nạn nhân của
những hành vi phạm tội này.
Nghị định thư Parlemo chỉ ra rằng: “trẻ em bị mua bán là trẻ bị tuyển
dụng, vận chuyển hay tiếp nhận vì mục đích bóc lột”. Theo Nghị định thư
Nghị định thư Palermo bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống Tội phạm có tổ chức xuyên quốc
gia (UNTOC).
5


12

Parlemo nêu ra thì một trẻ em bị mua bán nếu trẻ đó được di chuyển trong
phạm vi quốc gia hoặc qua biên giới, bất kể có sử dụng vũ lực hay không, cho
mục đích bóc lột.6
Theo Nghị định thư Palermo, trẻ em có nghĩa là bất kì người nào dưới 18
tuổi. (Quy định tại điểm d Điều 3 của Nghị định thư Palermo).
Theo quy định của Nghị định thư Palermo tội “buôn bán trẻ em” gồm 2
yếu tố cấu thành:
- Hành vi buôn bán người, bao gồm: Tuyển mộ; Vận chuyển; Chuyển
giao; Chứa chấp; hoặc Tiếp nhận người.
- Mục đích: luôn luôn là để bóc lột, bao gồm:
+ Bóc lột mại dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác;
+ Cưỡng bức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức;
+ Bắt làm nô lệ hoặc những hành động tương tự như nô lệ, khổ sai;
+ Lấy bộ phận cơ thể.
Theo quy định của Nghị định thư, tội mua bán trẻ em có điểm khác biệt
cơ bản so với tội mua bán người. Yếu tố cấu thành tội mua bán trẻ em không
bao gồm phương thức mà chỉ cần có yếu tố hành vi và yếu tố mục đích. Trong
khi đó, với tội buôn bán người thì cần phải có ba yếu tố để cấu thành, ngoài
yếu tố hành vi và mục đích còn có thêm yếu tố phương thức, thủ đoạn đó có
thể là: sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; ép buộc; bắt cóc; lừa gạt; man
trá; lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương; đưa hoặc nhận tiền hay
lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát người khác.
Nói cách khác, chỉ cần có hành vi tuyển mộ, chứa chấp, vận chuyển…
nhằm mục đích bóc lột tình dục, lao động hoặc mục đích phi nhân đạo khác,
cho dù không có việc sử dụng vũ lực, cưỡng ép, lừa gạt, man trá…trẻ em đó là
đủ để cấu thành tội mua bán trẻ em. Vì tội mua bán trẻ em yêu cầu ít yếu tố
cấu thành hơn so với tội mua bán người, cụ thể là không cần yếu tố phương
6

Xem http://unicef.org/southafrica/SAF_pressrelease_notetrafficking.pdf


13

thức, vì thế trong mọi vụ án mua bán người mà nạn nhân là trẻ em, không cần
phải xem xét có hay không việc nạn nhân đồng thuận với tội phạm buôn người,
sự đồng ý của trẻ em là vô hiệu. Sở dĩ chuẩn mực quốc tế trên quy định như
vậy vì trẻ em là đối tượng đặc biệt, khả năng tự bảo vệ hạn chế, xâm hại đến
trẻ em thì nguy hiểm hơn đối tượng không phải là trẻ em.
1.2.3. Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua
ngày 20/11/1989, là một văn kiện về quyền con người mang đậm tính nhân văn
và được nhiều quốc gia phê chuẩn nhất trên thế giới. Ngày 20/02/1990, Việt
Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn
Công ước về quyền trẻ em.
Đây là văn bản pháp luật quốc tế tạo một khuôn khổ tổng quát về quyền
con người đòi hỏi các quốc gia thành viên phải hành động phù hợp với lợi ích
tốt nhất của trẻ em.7 Khi một quốc gia ký và phê chuẩn Công ước về quyền trẻ
em thì Chính phủ của quốc gia đó phải tuân thủ điều ước quốc tế đó để khẳng
định một cách cụ thể, chi tiết hơn các quyền của trẻ em, gồm các quyền sau:
Quyền về không phân biệt đối xử với trẻ em, quyền được có họ tên và quốc
tịch, quyền được bảo vệ và chăm sóc, quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ,
quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được học hành, quyền trẻ em trong
trường học, quyền được sống trong môi trường lành mạnh, quyền được giải trí,
quyền được thông tin, quyền được hội họp, quyền được tự do bày tỏ ý kiến,
quyền được bảo vệ chống lại sự ngược đãi, quyền được bảo vệ chống lại sự
lạm dụng tình dục, quyền được nhận làm con nuôi, quyền được nhận sự chăm
sóc đặc biệt, quyền được bảo vệ chống lại sự bóc lột, quyền được bảo vệ khỏi
bị bóc lột về kinh tế, bảo vệ trẻ em chống mọi hình thức tra tấn và đối xử tàn
tệ, bảo vệ trẻ em trước nạn ma túy…
Xem Bộ tư pháp-UNODC-Jica (2017), Kỉ yếu Hội thảo Tham vấn hoàn thiện Báo cáo Bóc lột Tình dục trẻ
em trong Du lịch và lữ hành: Phân tích hệ thống pháp luật Quốc Gia, Hà Nội, Tr.14
7


14

Trong phạm vi của Công ước, trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường
hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn8.
Điều 19 Khoản 1 của Công ước quy định:
“1. Các Quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp thích hợp về
lập pháp, hành pháp, xã hội và giáo dục để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức
bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị đánh đập hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc
sao nhãng chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả sự xâm phạm tình dục,
trong khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha, mẹ hoặc cả cha lẫn
mẹ, của một hay nhiều người giám hộ pháp lý, hoặc của bất kỳ người nào khác
được giao việc chăm sóc trẻ em.”
Để ngăn ngừa các hành vi sử dụng hoặc xúi giục hoặc ép buộc trẻ em
tham gia các hoạt động tình dục hoặc bóc lột tình dục, Điều 34 Công ước đã
quy định:
Các Quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em trước mọi hình thức bóc
lột và lạm dụng tình dục. Vì mục đích này, các Quốc gia thành viên phải đặc
biệt thực hiện mọi biện pháp thích hợp ở cấp quốc gia, song phương và đa
phương để ngăn ngừa;
1. Việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hoạt động tình dục
trái pháp luật nào;
2. Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong hoạt động mại dâm hay
các hoạt động tình dục trái pháp luật khác;
3. Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay
trong các tài liệu khiêu dâm.
Bên cạnh đó, Công ước cũng đã quy định về việc ngăn ngừa nạn bắt cóc,
buôn bán trẻ em. Cụ thể, Điều 35 quy định:
“Các Quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp song phương và
đa phương thích hợp để ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán trẻ em vì bất kỳ mục
đích gì, dưới bất kỳ hình thức nào”.
8

Khi tham gia Công ước về quyền trẻ em, Việt Nam đã bảo lưu điều luật quy định về độ tuổi.


15

1.2.4. Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ
em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em
được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và mở cho các nước ký, phê
chuẩn, gia nhập theo Nghị quyết A/RES/54/263, ngày 25/5/2000. Văn bản này
có hiệu lực từ ngày 18/01/2002. Việt Nam đã phê chuẩn ngày 20/12/2001.
Trong Điều 2 của Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại
dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước quốc tế
về quyền trẻ em có nêu: “Buôn bán trẻ em nghĩa là bất cứ một hành động giao
dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kì một người hay một nhóm
người cho một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay bất cứ một đồ
vật khác”.9
Khái niệm này có điểm rộng hơn khái niệm của Nghị định thư Palermo
(không quy định mục đích bóc lột nạn nhân là yếu tố bắt buộc cấu thành tội
phạm) nhưng có điểm hẹp hơn khái niệm của Nghị định thư Palermo ở chỗ chỉ
giới hạn hành vi chuyển giao trẻ em vì lợi nhuận. Trong khi đó, Nghị định thư
Palermo đề cập đến nhiều loại hành vi buôn bán người như tuyển mộ, vận
chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người… vì mục đích bóc lột.
Nghị định thư đòi hỏi các quốc gia thành viên phải có biện pháp cụ thể để
nghiêm cấm việc mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em. Điều 3
của Nghị định có quy định về buôn bán trẻ em rằng:
Điều 2.Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định:
“Trong phạm vi Nghị định thư này:
1. Buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hoặc giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất
kỳ một người hay một nhóm người nào cho một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay một giá trị
trao đổi gì khác.
2. Mại dâm trẻ em là việc sử dụng trẻ em trong các hoạt động tình dục để lấy tiền hay bất kỳ giá trị trao đổi
nào khác.
3. Văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em nghĩa là bất kỳ sự trình bày nào, bằng bất kỳ phương tiện gì, về trẻ em
tham gia vào các hoạt động tình dục một cách thực sự hoặc mô phỏng, hay bất cứ sự trình bày nào về các cơ
quan sinh dục của trẻ em, mà chủ yếu là nhằm các mục đích tình dục.”
9


16

1. Mỗi quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng, tối thiểu những hành vi và
hoạt động sau đây phải được coi là cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự
nước mình, cho dù các hành vi tội phạm như vậy được thực hiện ở trong nước
hay ở nước ngoài, mang tính chất cá nhân hay có tổ chức:
“i.Việc cung cấp, chuyển giao hay tiếp nhận trẻ em, bằng bất cứ phương
cách nào, nhằm các mục đích:
- Bóc lột các em về tình dục.
- Chuyển giao những bộ phận cơ thể của các em để thu lợi.
- Cưỡng bức các em phải lao động.
ii. Với tư cách là người trung gian, xúi giục một cách không lương thiện
để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, vi phạm những quy định trong
các văn bản pháp lý quốc tế đang được áp dụng về con nuôi.
b. Cho, nhận, mua hay cung cấp trẻ em vì mục đích mại dâm như được
xác định trong Điều 2.
c. Sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, buôn
bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em như đã được xác định trong
Điều 2.
2. Phù hợp với pháp luật của các quốc gia, hành vi âm mưu thực hiện,
đồng lõa hay tham gia vào bất kỳ hành động nào nêu trên, cũng phải bị coi là
tội phạm.
3. Mỗi Quốc gia thành viên phải quy định những hình phạt thích hợp đối
với các tội phạm đó, tùy theo tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội....
1.2.5. Công ước ASEAN phòng chống buôn bán người, đặc biệt là Phụ
nữ và trẻ em (Viết tắt là ACTIP)
ACTIP là điều ước khu vực đầu tiên với mục tiêu phòng ngừa và đấu
tranh chống buôn bán người, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán và thúc
đẩy hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Ngày 21 tháng 11 năm
2015, Việt Nam và 9 nước trong khối ASEAN đã ký kết Công ước ASEAN


17

phòng chống buôn bán người, đặc biệt là Phụ nữ và trẻ em (viết tắt là
ACTIP)10. ACTIP sẽ có hiệu lực khi có ít nhất 6 quốc gia trong cộng đồng
ASEAN thông qua.
Điều 2 của Công ước tiếp thu khái niệm Buôn bán người trong Nghị định
thư Palermo với kết cấu và nội dung hoàn toàn tương đồng. Công ước cũng ghi
nhận trẻ em là người dưới 18 tuổi.
Các quốc gia thành viên ACTIP phải hình sự hóa các hành vi buôn bán
người (bao gồm trách nhiệm hình sự cơ bản và đồng phạm). Tại khoản 3 điều 5
của Công ước quy định:
Mỗi bên sẽ áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác khi
thích hợp để những người có hành vi phạm tội phải chịu mức hình phạt nghiêm
khắc hơn so với trường hợp phạm tội thông thường nếu có một trong các tình
tiết tăng nặng sau:
a. Khi tội phạm gây tổn thương nghiêm trọng hoặc cái chết cho nạn nhân
hay người khác, bao gồm trường hợp người đó chết do tự sát;
b. Khi tội phạm liên quan đến nạn nhân là người đặc biệt dễ bị tổn thương
như trẻ em hoặc người không có đủ khả năng tự chăm sóc hoặc bảo vệ bản
thân vì khuyết tật hoặc điều kiện về thể chất hoặc tâm thần;
c. Tội phạm làm cho nạn nhân nhiễm các bệnh nguy hiểm đến tính mạng,
kể cả bệnh HIV/AIDS;
d. Phạm tội với nhiều nạn nhân;
e. Khi tội phạm được thực hiện là một phần hoạt động của nhóm tội phạm
có tổ chức;
f. Khi người phạm tội đã từng bị kết án về cùng tội danh hoặc tội phạm
tương tự;
g. Khi người phạm tội là công chức lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để
phạm tội.”
10

Xem thêm tại http://www.asean.org/storage/2015/12/ACTIP.pdf


18

Công ước cũng quy định về việc phòng ngừa buôn bán người tại Điều 11,
cụ thể:
1. Các bên sẽ đề ra các chính sách tổng thể, chương trình và các biện pháp
khác để:
a. Ngăn ngừa và chống việc buôn bán người; và
b. Bảo vệ các nạn nhân của việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ
em, không bị trở thành nạn nhân của việc buôn bán người một lần nữa.
2. Các bên sẽ nỗ lực thực thi các biện pháp như nghiên cứu, thông tin và
chiến dịch tuyên truyền và các sáng kiến kinh tế và xã hội để ngăn ngừa và
chống hành vi buôn bán người.

4. Các bên sẽ thực hiện và tăng cường các biện pháp, trong đó có thể bao
gồm cả hợp tác song phương hoặc đa phương, để xoá bỏ các nhân tố làm cho
những người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, trở nên dễ bị tổn thương bởi việc
buôn bán, chẳng hạn như nghèo đói, kém phát triển và không được hưởng cơ
hội bình đẳng.
5. Các bên sẽ áp dụng hay tăng cường các biện pháp lập pháp hay các
biện pháp khác, chẳng hạn như các biện pháp giáo dục, xã hội hay văn hoá,
trong đó có thể bao gồm cả hợp tác song phương và đa phương để giảm bớt
những nhu cầu dẫn đến việc thúc đẩy các hình thức bóc lột con người, đặc biệt
là phụ nữ và trẻ em, dẫn đến việc buôn bán người.
ACTIP cũng quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ cung cấp các
biện pháp hỗ trợ rộng nhất có thể thông qua dẫn độ và tương trợ tư pháp cũng
như các nghĩa vụ khác về hợp tác quốc tế tương tự như các nghĩa vụ quy định
tại Nghị định thư Palermo bao gồm việc xác lập quyền tài phán ngoài lãnh thổ
và tôn trọng nguyên tắc dẫn độ hoặc truy tố (Quy định tại Điều 18-Về tương
trợ tư pháp, Điều 19-Về dẫn độ).11
Xem Bộ tư pháp-UNODC-Jica (2017), Kỉ yếu Hội thảo Tham vấn hoàn thiện Báo cáo Bóc lột Tình dục trẻ
em trong Du lịch và lữ hành: Phân tích hệ thống pháp luật Quốc Gia, Hà Nội, Tr.20
11


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×