Tải bản đầy đủ

Tội giết người theo pháp luật hình sự việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

PHẠM QUANG THÀNH

TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. CAO THỊ OANH

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn

Phạm Quang Thành


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

CTTP

Cấu thành tội phạm

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TTĐKTN

Tình tiết định khung tăng nặng

TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao


VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI ........... 8
1.1.

Định nghĩa tội giết người...................................................................... 8

1.2.

Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội giết người ........................ 10
1.2.1.Quy định về tội giết người trong pháp luật phong kiến Việt Nam
(từ năm 905 đến năm 1858) ........................................................................
................................................................................................................. 10
1.2.2.Quy định về tội giết người ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh
chống Thực Dân Pháp cai trị (từ năm 1858 đến năm 1945) ................... 13
1.2.3. Khái quát lịch sử lập pháp về tội giết người ở Việt Nam thời kỳ
độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1945 đến nay) .. 15

1.3. Quy định về tội giết người trong pháp luật hình sự một số nước trên thế
giới................................................................................................................... 21
1.3.1. Quy định về tội giết người trong pháp luật Liên bang Nga .......... 21
1.3.2.Quy định về tội giết người trong Bộ luật hình sự Thụy Điển ........ 24
1.3.3.Quy định về tội giết người trong Bộ Luật hình sự Trung Quốc .... 26
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 2015 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017........................... 31
2.1. Dấu hiệu pháp lý ...................................................................................... 31
2.1.1. Chủ thể của tội phạm .................................................................... 31
2.1.2. Khách thể của tội phạm................................................................. 34
2.1.3. Mặt khách quan của tội phạm ....................................................... 35
2.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm ........................................................... 37
2.2. Các dấu hiệu định khung tăng nặng ......................................................... 39
2.2.1. Giết 02 người trở lên .................................................................... 40
2.2.2. Giết người dưới 16 tuổi ................................................................ 41
2.2.3. Giết phụ nữ mà biết là có thai ....................................................... 44


2.2.4. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn
nhân ......................................................................................................... 45
2.2.5. Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ................ 46
2.2.6. Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác .................................. 47
2.2.7. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân ............................................ 49
2.2.8. Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người................ 50
2.2.9. Vì động cơ đê hèn ........................................................................ 52
2.3. Chế tài đối với tội giết người ................................................................... 53
2.3.1. Trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người .................................... 53
2.3.2. Các trường hợp giết người với cấu thành tội giết người cơ bản
(Khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015) .................................................... 54
2.3.3. Các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng (Khoản 1
Điều 123 BLHS năm 2015) …………………………………… ................... 56
CHƯƠNG 3. KHÓ KHĂN TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI GIẾT
NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ TỘI GIẾT
NGƯỜI Ở VIỆT NAM ................................................................................. 59
3.1. Khó khăn trong thực tiễn xét xử tội giết người ở Việt Nam .................... 61
3.1.1. Khó khăn trong việc phân biệt tội giết người (hoàn thành) với tội
cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ................................................ 61
3.1.2. Khó khăn trong định tội trong vụ án giết người có nhiều người
thực hiện tội phạm ................................................................................... 68
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xét xử tội giết người ở Việt
Nam ................................................................................................................. 74
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật ...................................................... 74
3.2.2. Nâng cao trình độ, đạo đức của những người tiến hành tố tụng ... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy
trong bản tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ đã được Hồ chủ tịch
trích dẫn trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đã khẳng định rõ con người sinh ra ai cũng có những quyền thiêng
liêng, trong đó quyền quan trọng nhất đó là quyền được sống.
Chính vì vậy, xuyên suốt quá trình phát triển và xây dựng đất nước,
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng những chủ trương, đường lối
và hệ thống pháp luật vững chắc để bảo vệ quyền được sống của con người.
Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện tinh thần bảo về quyền được sống của con
người tại Điều 19 và Điều 20. Theo đó, Điều 19 Hiến pháp năm 2013 khẳng
định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ.
Không ai bi ̣ tước đoạt tính mạng trái luật”. Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm
2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo
lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân
thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Trong những năm vừa qua, tội phạm liên quan đến hành vi giết người
người nói chung ngày một gia tăng, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, tội
phạm liên quan đến hành vi giết người có sự chuẩn bị trước, nhiều tổ chức tội
phạm giết người diễn ra đã gây nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thời
gian gần đây tội giết người có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp đặc biệt
xuất hiện nhiều vụ thảm sát nhiều người, gây ảnh hướng lớn đến anh ninh và
trật tự chung của xã hội với nhiều thủ đoạn tinh vi từ chủ thể thực hiện tội


2

phạm như: Vụ án Lê Văn Luyện giết người, cướp của ở Bắc Giang năm 2011;
vụ án Nguyễn Hải Dương thảm sát 6 người trong một gia đình ở Bình Phước
năm 2015; vụ án Đặng Văn Hùng thảm sát 4 người ở Yên Bái năm 2015. Đây
đều là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây hoang mang lớn trong dư luận.
Mặc dù Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đã quy định các tội về giết
người với các hình phạt đủ sức trừng trị, răn đe và giáo dục những người
phạm tội nhằm phòng ngừa những hành vi nguy hiểm xâm hại đến quyền
được sống của con người. hành vi giết người không chỉ được quy định ở một
tội danh mà còn được quy định ở nhiều tội danh khác nhau như các tội: Tội
giết người; Tội giết con mới đẻ; Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng; Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.Tuy
nhiên, để xác định những hành vi nào sẽ được coi là phạm tội giết người và
các yếu tố định khung hình phạt trong tội giết người lại là vấn đề hết sức phức
tạp. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại đến tính mạng, sức khỏe cho thấy một
số cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc
định tội danh, định khung hình phạt.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người
trong Luật hình sự Việt Nam là thật sự cần thiết. Bởi vì, thông qua việc
nghiên cứu này có thể tìm ra hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật
hình sự trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm giết người và tiến tới hạn chế, đẩy lùi loại tội phạm này.
Với lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Tội giết người theo pháp luật hình sự
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội giết người là một trong những loại tội phạm rất nghiêm trọng, tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng gây ảnh hưởng rất lớn tới tình hình an ninh và
trật tự chung của xã hội. Để định tội danh cho đúng người, đúng tội có ý


3

nghĩa rất to lớn về mặt chính trị - xã hội. Chính vì vậy, hiện nay đã có rất
nhiều học giả có những công trình nghiên cứu về tội giết người cũng như về
vấn đề định tội danh đối với tội giết người. Điển hình như các công trình
nghiên cứu sau:
Đối với các công trình nghiên cứu là sách có “Định tội danh – lý luận,
hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành”, PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004. Trong cuốn sách trên, tác giả Lê Cảm
đã nghiên cứu những mặt lý luận về định tội danh và đưa ra các tình huống
mẫu về định tội danh trong đó có tội giết người.
“Tội giết người và đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay”, Đỗ Đức Hồng Hà, Nxb Tư pháp, 2001. Cuốn
sách đã nghiên cứu những mặt lý luận về tội giết người và cấu thành tội giết
người, bên cạnh đó cuốn sách đã nghiên cứu chi tiết về tình hình tội phạm giết
người cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm giết người giai
đoạn những năm 1999 -2001.
“Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần 2, phần các tội phạm”, Nxb
Công an nhân dân, 2015; “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các
tội phạm)”, Nxb Công an nhân dân, 2001.
Đối với các công trình nghiên cứu là luận án, luận văn có “Tội giết
người và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này”, Luận án tiến sĩ luật học .
Đỗ Đức Hồng Hà, 2006; “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”, Luận
văn thạc sĩ luật học, Đỗ Đức Hồng Hà, 2001; “Tội giết người theo Luật Hình
sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống tội giết người”, luận văn thạc sĩ luật
học, Hoàng Công Huấn, 1997; “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiến trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, Luận văn thạc sĩ
luật học, Phạm Văn Vĩ, 2015; Các công trình trên hầu hết đều có nội dung là
nghiên cứu các mặt lý luận về tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam


4

như các dấu hiệu tội phạm, các tình tiết tăng nặng hay trách nhiệm hình sự đối
với tội giết người, tuy nhiên các công trình trên đều đã được nghiên cứu cách
đây đã lâu hoặc chỉ nghiên cứu trên địa bàn một tỉnh, một số tỉnh cụ thể, dẫn
đến tính phù hợp với thực tiễn đã bị hạn chế đi.
Đối với các công trình nghiên cứu là các bài tạp chí có : Đỗ Đức Hồng
Hà, “Mặt khách quan của tội giết người - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 06/2004; Đỗ Đức Hồng Hà, “Một số quan
điểm khác nhau về định nghĩa về đối tượng tác động của tội giết người”, Tạp
chí Tòa án, số 13/2004; Đỗ Đức Hồng Hà, “Chủ thể của Tội giết người - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án, số 23/2004; Đỗ Đức Hồng Hà,
“Lịch sử phân hóa trách nhiệm hình sự về Tội giết người từ năm 1945 đến
nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2006; Nguyễn Hùng Cường, “Một
số suy nghĩ về tình tiết “giết nhiều người” và “giết người bằng phương pháp
có khả năng làm chết nhiều người”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2008.
Những bài nghiên cứu trên đã khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan
đến hoạt động xác định tội giết người và thực tiễn định tội giết người; phân
tích, đánh giá, nhận định một số vấn đề liên quan đến tội giết người trong
pháp luật hình sự Việt Nam.
Tuy các công trình nghiên cứu trên đã được nghiên cứu cẩn thận và chi
tiết về một hoặc một số vấn đề xoay quanh tội giết người nhưng các công
trình nghiên cứu trên đều được nghiên cứu cách đây đã lâu hoặc chỉ trên một
số địa bàn cụ thể, chưa kịp thời giải quyết được những vấn đề liên quan đến
tội giết người mới phát sinh đặc biệt là những vụ án thảm sát giết nhiều người.
Trong khi đó một số trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn lúng túng
trong vấn đề xác định tội danh và các tình tiết liên quan đến tội giết người. Do
đó, thực tiễn đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu rõ ràng và cụ thể đáp
ứng được nhu cầu của thực tiễn trong việc định tội danh đối với tội giết người.


5

Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài “Tội giết người trong pháp luật
hình sự Việt Nam” nhằm giải quyết nhu cầu nêu trên của thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
tội giết người theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 (có
hiệu lực từ ngày 01/01/2018) và so sánh với Điều 93 của Bộ luật hình sự năm
1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Luận văn nghiên cứu việc định tội danh đối
với tội giết người và quyết định hình phạt đối với tội giết người. Bên cạnh đó,
luận văn nghiên cứu các vấn đề nhằm phân biệt được tội giết người và các tội
xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe khác. Đề tài cũng đã so sánh với quy định
về tội giết người của pháp luật một số nước trên thế giới từ đó tiếp thu được
những bài học kinh nghiệm lập pháp ở Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách
hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm nói chung và tội giết người nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu và làm sáng tỏ sự tác động của hành vi giết
người đối với xã hội, cũng như vai trò của việc quy định tội giết người đối với
pháp luật hình sự Việt Nam.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác – Lênin để làm rõ lịch sử lập pháp về tội giết người ở Việt Nam
qua các thời kì lịch sử. Luận văn cũng sử dụng phương pháp này để nghiên
cứu, đánh giá thực tiễn xét xử tội giết người ở Việt Nam thời gian qua.


6

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để so sánh sự giống và khác
nhau trong quy định về tội giết người ở pháp luật Việt Nam và pháp luật một
số quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó luận văn cũng so sánh những điểm kế
thừa, phát triển và những điểm mới trong quy định về tội giết người qua các
thời kì ở Việt Nam.
Luận văn sử dụng một số phương pháp như thống kê, phân tích và tổng
hợp số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng
kết của các cấp Tòa án.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận và thực tiễn về tội giết người trong luật hình sự Việt Nam. Từ đó có
những đánh giá về những ưu điểm và hạn chế trong quy định về tội giết người
ở Việt Nam và đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế
trong quy định của pháp luật về tội giết người.
Theo đó nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề sau:
- Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và làm rõ các vấn đề về khái niệm,
đặc điểm của tội giết người
-Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và làm rõ lịch sử hình thành quy
định pháp lý về tội giết người.
- Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và làm rõ quy định về tội giết
người theo pháp luật hình sự hiện hành.
- Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và phân biệt tội giết người với một
số tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.
- Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và làm rõ thực tiễn áp dụng pháp
luật về tội giết người, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp
khắc phục hạn chế.


7

- Luận văn có nhiệm vụ tìm hiểu tội giết người trong pháp luật của một
số nước trên thế giới.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ khía cạnh pháp lý về
dấu hiệu định tội danh, các tình tiết định khung tăng nặng và đường lối xử lý
đối với tội giết người góp phần xây dựng, hoàn thiện thêm lý luận về tội giết
người trong khoa học pháp lý hình sự.
- Luận văn đã giúp phân biệt rõ tội giết người với một số tội phạm xâm
phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người khác.
- Luận văn đã nghiên cứu được quy định về tội giết người của một số
nước trên thế giới từ đó tiếp thu được những bài học tiến bộ trong kỹ thuật lập
pháp đối với tội danh giết người.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề chung về tội giết người
Chương 2. Quy định về tội giết người trong Bộ luật Hình sự năm 1999
Chương 3. Vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội giết người và giải
pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội giết người ở Việt Nam


8

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1. Định nghĩa tội giết người
Mỗi người khi sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng, tạo hóa đã cho họ
những quyền mà không ai được phép xâm hại, trong đó quan trọng và thiêng
liêng nhất đó chính là quyền được sống. Hành vi giết người từ xưa đến nay
luôn bị coi là hành vi dã man và tàn ác vì nó đã xâm phạm đến quyền được
sống rất quan trọng và thiêng liêng đó.
Mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều đề cao mục tiêu
bảo vệ quyền sống của con người và đều có các biện pháp, công cụ khác nhau
để thực hiện mục tiêu đó. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất để thực
hiện mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người chính là pháp luật. Bằng việc
đề ra các biện pháp phòng ngừa và trừng trị những kẻ xâm phạm quyền thiêng
liêng trên.
Trên thế giới, trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia đều có nhiều
cách khác nhau để quy định về tội giết người. Có những nước quy định trực
tiếp định nghĩa tội giết người trong luật hình sự như BLHS Liên Bang Nga,
Trung Quốc, Thụy Điển. Cũng có những nước không định nghĩa tội giết
người trong BLHS như Việt Nam, Nhật Bản...
Các nước theo xu hướng trực tiếp định nghĩa tội giết người trong BLHS
thì cũng có những cách định nghĩa rất khác nhau. Cụ thể: BLHS của Liên
bang Nga được Đuma quốc gia thông qua ngày 24 tháng 05 năm 1996, được
sửa đổi, bổ sung hai lần bằng luật số 77 và luật số 92 năm 1998 quy định tội
giết người tại Điều 105 đã định nghĩa: “Giết người, nghĩa là cố ý làm chết
người khác...”. Trong BLHS Thụy Điển ban hành năm 1962, được gọi là
Luật hình sự chung, định nghĩa tội giết người được mô tả tại Điều 1 Chương 3
là hành vi “...tước đoạt sinh mạng của người khác...”. Bộ luật hình sự Trung
Quốc được Quốc hội thông qua ngày 01 tháng 7 năm 1979 đã định nghĩa về


9

tội giết người tại điều 232, với nội dung tội giết người “...là hành vi cố ý giết
người khác”.
Ở Việt Nam, tuy không định nghĩa trực tiếp tội giết người trong BLHS,
nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều cách định nghĩa khác
nhau. Giáo trình Luật hình sự (phần chung) của trường Đại học Luật Hà Nội
định nghĩa “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng
của người khác”1. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)
của Trường Đại học Huế, “Tội giết người được hiểu là hành vi tước đoạt trái
pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hình thức”2.
Phân tích các cách định nghĩa trên, tác giả đưa ra quan điểm như sau:
thứ nhất, về nội dung, các cách định nghĩa này không đề cập đến dấu hiệu
năng lực TNHS của chủ thể. Thứ hai, về hình thức, việc sử dụng thuật ngữ
giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính mạng” của người khác một cách trái
pháp luật là chưa chính xác và không đúng nghĩa tiếng Việt vì “tước đoạt tính
mạng”, theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, là “tước và chiếm lấy sự sống của
con người” và vì “tước đoạt” đã bao hàm sự cố ý nên không cần thiết phải
quy định “Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng...”.3
Trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8
BLHS năm 1999 về tội phạm cũng như trên cơ sở phân tích các định nghĩa
khác nhau về tội giết người, tôi đưa ra định nghĩa tội giết người mới như sau :
Tội giết người là hành vi cố ý làm chết người khác một cách trái pháp luật, do
người có năng lực TNHS thực hiện.

Trường Đại học Luật Hà Nội “Giáo trình Luật hình sự (phần chung)”, Nxb Tư Pháp, 2004, tr 368
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nxb Đại học Huế, 2015, tr 62
3
“Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này”, Luận án tiến sĩ
luật học, Đỗ Đức Hồng Hà, Trường Đại học Luật Hà Nội 2006, tr 14.
1
2


10

1.2. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội giết người
1.2.1. Quy định về tội giết người trong pháp luật phong kiến Việt Nam
(từ năm 905 đến năm 1858)
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, thế kỷ X (từ năm 905 đến năm 1010)
đánh dấu một mốc quan trọng, nó khép lại hơn mười thế kỷ đấu tranh chống
phong kiến phương Bắc và mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc.
Năm 1009, Lý Thái Tổ lên ngôi vua bắt đầu triều đại Lý – Trần ở nước
ta. Cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền dưới
thời Lý – Trần, hoạt động lập pháp của Nhà nước bắt đầu phát triển. Các Bộ
luật đầu tiên trong lịch sử lập pháp của dân tộc đã ra đời. Năm 1042, Vua Lý
Thái Tông cho soạn thảo “Bộ Hình thư”. Bộ Hình thư gồm có 3 quyển. Đó là
bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử
pháp quyền Việt Nam. Trong Bộ Hình thư quy định về “thập ác” tức là mười
hành vi phạm tội được coi là nguy hiểm và tàn ác nhất. Trong đó có tội giết
vua (mưu phản); tội mưu đánh, giết ông bà, cha mẹ và những người bề trên
(ác nghịch); tội giết người một cách dã man hoặc dùng ma thuật giết người
(bất đạo); tội mưu giết chồng (bất mục); dân giết quan, quân giết tướng (bất
nghĩa). Tất cả những tội này đều sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc bằng các hình
phạt nặng, như: Người phạm tội bị đóng lên tấm ván đem bêu ở chợ rồi sau
đó mới đưa ra pháp trường xẻo thịt, róc xương cho đến chết (thượng mộc mã)
hay chém bêu đầu.
Năm 1483, dưới triều Lê Thánh Tông, Bộ luật Hồng Đức (còn gọi là
Bộ Quốc triều Hình luật) được ban hành. Bộ luật gồm có 6 quyển, 722 điều,
là bộ luật tập hợp, điều chỉnh về nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như
quan hệ hình sự, quan hệ tố tụng, quan hệ dân sự và cả quan hệ hôn nhân gia
đình. Khi nghiên cứu lịch sử pháp luật các học giả nghiên cứu đã đánh giá Bộ
luật này là đỉnh cao của thành tựu lập pháp của lịch sử lập pháp ở Việt Nam.


11

Trong Bộ luật Hồng Đức đã sớm xây dựng được những quy định các trường
hợp giết người có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ với những hình phạt nặng nhẹ
khác nhau tùy thuộc vào hành vi phạm tội. Bộ luật cũng đã sớm quy định về
các trường hợp chuẩn bị giết người, giết người chưa đạt...
Ví dụ: Tại chương “Đạo tặc”, Điều 6 Bộ luật Hồng Đức có quy định:
“Mưu giết các bậc tôn trưởng vào hạng ty ma (những người có họ phải để
tang 3 tháng) trở lên thì phải lưu đi châu ngoài; đã làm cho bị thương thì
phải xử tội giảo; đã giết chết thì xử tội chém”. Có thể thấy mức độ nặng nhẹ
của hành vi được sắp xếp theo chiều tăng dần đi kèm với hình phạt cũng tăng
dần là chuẩn bị phạm tội sẽ bị phạt lưu đày, phạm tội chưa đạt sẽ phải chịu
hình phạt giảo, và phạm tội đã hoàn thành thì sẽ phải chịu hình phạt chém đầu.
Cũng tại chương trên, Điều 10 quy định: “Kẻ giết tới 3 người trong một gia
đình, thì xử tội chém bêu đầu”. Điều 15 quy định: “Bắt được kẻ giết người mà
tự tiện giết đi, thì xử nhẹ hơn tội giết người 2 bậc”.
Bộ luật Hồng Đức khẳng định tội giết người là tội phạm nguy hiểm, dã
man và tàn ác nhất. Chính vì vậy, Bộ luật đã quy định những hình phạt
nghiêm khắc để áp dụng đối với kẻ phạm tội giết người, đó là hình phạt tử
hình. Tử hình có ba bậc: thắt cổ, chém là một bậc; chém bêu đầu là một bậc;
lăng trì là một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm4.
Đến thời Gia Long triều Nguyễn, năm 1815 Bộ luật Gia Long được ban
hành. Bộ luật bao gồm 22 quyển, 398 điều. Cũng giống như Bộ luật Hồng
Đức, Bộ luật Gia Long điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực
khác nhau trong đời sống. Tội giết người trong Bộ luật Gia Long được quy
định ở Điều 1, Điều 2 – Quyển 2 – Phần “Danh lệ” và từ Điều 1 đến Điều 13

4

Nhà xuất bản chính trị quốc gia(1995), Quốc triều hình luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 36.


12

– Quyển 14 – phần “Nhân mạng”5. Nghiên cứu quy định về tội giết người
trong Bộ luật Gia Long tác giả rút ra một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất, Bộ luật Gia Long đã có sự kế thừa những thành tựu khoa học
của Bộ luật Hồng Đức trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như
trong đường lối xử lý người phạm tội giết người. Theo đó, Bộ luật Gia Long
cũng đã quy định các trường hợp phạm tội giết người nặng hơn hoặc nhẹ hơn
so với những trường hợp giết người thông thường; quy định giết người đã
hoàn thành thì nguy hiểm hơn giết người chưa đạt và càng nguy hiểm hơn
chuẩn bị giết người. Ví dụ: Điều 2 Quyển 14 Phần “nhân mạng” có quy định:
“Quân sĩ mưu giết quan cai quản mình đã thi hành mà chưa bị thương thì kẻ
đầu nậu bị phạt 100 trượng, lưu 2000 dặm. Đã gây thương tích thì kẻ cầm
đầu bị treo cổ, bọn a tòng bị giảm một bậc tội lưu giảo. Những ai thực hiện
giết xong, đều bị chém cả”. Khoản 5 điều 6 quy định: “Giết 3,4 mạng trong
một nhà không phải tử tội, hung phạm xử chết bằng lăng trì”.
Thứ hai, Bộ luật Gia Long, so với Bộ luật Hồng Đức, đã có sự phát
triển đáng kể trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự. Điều này được thể
hiện qua các quy định mới trong tội giết người. Cụ thể là:
Bộ luật Gia Long đã bổ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết
người bị xử phạt nặng hơn những trường hợp giết người thông thường. Đó là
những trường hợp: 1) Giết người dã man, tàn ác; 2) Giết người bằng phương
pháp, thủ đoạn nguy hiểm; 3) Giết người vì động cơ vụ lợi...
Bộ luật Gia Long cũng đã bổ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết
người được xử phạt nhẹ hơn những trường hợp giết người thông thường. Đó
là những trường hợp: 1) kẻ giết người là a tùng; 2) Kẻ giết người là chồng của
nạn nhân và nạn nhân là người có lỗi...

5

Nhà xuất bản sử học (1962), Đại Nam thực lục chính biên, tập IV, Hà Nội.


13

Với sự kế thừa và phát triển những thành tựu khoa học của Bộ luật
Hồng Đức, Bộ luật Gia Long đã trở thành “một Bộ luật lớn nhất của chế độ
phong kiến Việt Nam, là Bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nền cổ luật
Việt Nam”6 là một phần của di sản văn hóa Việt Nam mà triều Nguyễn đã có
công đóng góp.
1.2.2. Quy định về tội giết người ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh
chống Thực Dân Pháp cai trị (từ năm 1858 đến năm 1945)
Năm 1858 Thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng
chính thức nổ ra cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Đến năm 1885, Thực dân
Pháp chính thức xâm chiếm được nước ta, đặt nước ta dưới sự cai trị của chế
độ thực dân. Để dễ bề cai trị, Thực Dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ: Bắc kỳ,
Trung kỳ và Nam kỳ.
Năm 1912, Bộ Hình luật Canh Cải được ban hành và áp dụng tại Nam
kỳ. Tội giết người được quy định tại các Điều 302, 304, 320, 322, 323, 324,
325, 327, 328, 3297 . Nghiên cứu các quy định của Bộ luật này về tội giết
người, tác giả rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, Bộ Hình luật Canh Cải đã có sự kế thừa những thành tựu
khoa học của các Bộ luật thời kỳ phong kiến trong việc phân hóa trách nhiệm
hình sự cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội giết người. Điều này
thể hiện ở chỗ: Bộ Hình luật Canh Cải không những đã quy định những
trường hợp phạm tội giết người bị xử phạt nặng mà còn quy định cả những
trường hợp giết người được xử phạt nhẹ hơn những trường hợp giết người
thông thường. Cụ thể là:

Nguyễn Văn Thành- Vũ Trinh- Trần Hựu (1995), Hoàng Việt luật lệ( luật Gia Long)từ tập I đến tập V, Nhà
xuất bản văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh.
6

7

Nguyễn Quang Quýnh (1973), Hình luật tổng quát, in lần thứ 2 tại ấn quán phong phú, 442, Phú ĐịnhPhú Lâm- Chợ Lớn.


14

-Điều 304 quy định: “Giết người bằng độc dược; giết người đi đôi với
một trọng tội khác sẽ bị tử hình”.
-Điều 302 quy định: “Người mẹ đồng phạm trong tội giết con được luật
khoan hồng hơn là đối với kẻ khác là đồng phạm hay là chính phạm”.8
Thứ hai, Bộ Hình luật Canh Cải, so với các Bộ luật thời kỳ phong kiến, đã có
sự phát triển đáng kể trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như trong
đường lối xử lý người phạm tội. Điều này được thể hiện qua các quy định mới
trong tội giết người. Cụ thể là:
Bộ Hình luật Canh Cải đã bổ sung thêm nhiều trường hợp phạm tội giết
người bị xử phạt nặng hơn những trường hợp giết người thông thường. Theo
Điều 304 Bộ Hình luật Canh Cải, đó là những trường hợp: Giết người có dự
mưu hoặc rình rập; Giết người để sửa soạn hay thực hiện một khinh tội; Giết
người để giúp thủ phạm của khinh tội ấy chạy thoát; giết người để che giấu
một tội phạm khác.
Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, đây là bộ luật đầu tiên đề cập đến
vấn đề miễn hình phạt cho những người phạm tội giết người cũng như những
trường hợp tuy gây ra cái chết cho nạn nhân nhưng không phạm tội giết người.
Ví dụ: Điều 324 quy định: “Chồng bắt được vợ quả tang đang thông gian tại
cư sở của vợ chồng mà đương trường giết chết hoặc đánh bị thương đứa gian
phu, dâm phụ thì sẽ được khoan miễn”; Điều 325 quy định: “Đàn bà, con gái
mà đương trường giết chết hoặc đả thương kẻ cưỡng gian hoặc sắp cưỡng
gian mình thì cũng được khoan miễn”; Điều 327 quy định: “Không có trọng
tội, không có khinh tội nếu sự sát nhân và đả thương xảy ra do pháp lệnh và
lệnh của nhà cầm quyền chính thức”; Điều 328 quy định: “Không có trọng tội

Đỗ Đức Hồng Hà, “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại Học luật Hà
Nội, 2001, tr 14.
8


15

cũng như khinh tội nếu sự sát nhân xảy ra do sự cần thiết hiện thời phòng vệ
chính đáng bản thân hay kẻ khác”.
Năm 1933, tại Trung kỳ Bộ Hoàng Việt Hình luật được ban hành thay
thế Bộ luật Gia Long. Tại Bộ Hoàng Việt Hình luật, tội giết người được quy
định tại các Điều 280 đến Điều 285. Về cơ bản thì bộ Hoàng Việt Hình luật
phát triển dựa trên sự kế thừa của Bộ Hình luật Canh Cải.
Qua nghiên cứu quy định của 2 bộ luật trên có thể khẳng định rằng,
trình độ lập pháp hình sự thời kỳ đấu tranh chống Thực Dân Pháp cai trị đã có
sự phát triển cao so với thời kỳ trước đó.
1.2.3. Khái quát lịch sử lập pháp về tội giết người ở Việt Nam thời
kỳ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1945 đến nay)
Năm 1945 với thành công của cách mạng tháng 8 đã giành lại độc lập
cho dân tộc ta. Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình,
chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Mặc dù đã giành lại độc lập nhưng đất nước ta vẫn
phải trải qua những quốc đấu tranh chống lại các thế lực khác xâm lược qua
các thời kỳ lịch sử nhất định. Chính vì vậy, tùy vào các giai đoạn lịch sử nhất
định mà việc lập pháp nói riêng và việc quy định về tội giết người nói chung
được chú trọng thực hiện một cách khác nhau.
Ngay sau khi giành được chính quyền về tay mình, Nhà nước ta đã lâm
vào tình trạng khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc” với nạn đói, nạn dốt và giặc
ngoại xâm. Trong khi đó, ở trong nước có hiện tượng “bọn giết người, cướp
của nổi lên khắp mọi nơi”9. Khi ấy, chính quyền Việt Nam non trẻ còn chưa
thể tổ chức xây dựng một bộ luật để giải quyết vấn nạn trên ngay được. Chính
vì vậy, ngày 10 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số
47/SL cho phép áp dụng một số văn bản pháp luật của đế quốc phong kiến,
9

Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb CAND, Hà Nội, tr 296.


16

với điều kiện những văn bản đó không trái với nguyên tắc độc lập của nước
Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa.
Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định riêng về tội giết
người mà tội giết người chỉ được điểm đến trong các văn bản quy định về một
nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, cộng sản và một số đối
tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế, phản phong. Ví dụ:
Tại Điều 4 – Sắc lệnh số 26- SL ngày 25 tháng 02 năm 1946 nhằm trừng trị
những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nướcquy
định: Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà hiếp
cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân…
Trong giai đoạn này, hành vi phạm tội giết người được quy định dưới
nhiều hình thức khác nhau như: ám sát, giết hại, cố ý giết người…
Quy định về tội giết người trong giai đoạn này đã kế thừa thành tựu lập
pháp của các thời kỳ trước trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như
trong đường lối xử lý người phạm tội giết người và thể hiện rõ nguyên tắc:
nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, người hoạt động đắc lực, gây hậu quả
nghiêm trọng, khoan hồng đối với những người bị cưỡng bức, lừa gạt…
Năm 1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, đất
nước ta chuyển sang một trang mới, vì vậy những văn bản pháp luật của đế
quốc và phong kiến đã không còn phù hợp để áp dụng nữa. Chính vì vậy,
ngày 30 tháng 6 năm 1955, Bộ Tư pháp đã có Thông tư số 19 – VHH – HS,
yêu cầu các Tòa án không áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến vì
“chính sách trừng trị trong chế độ dân chủ nhân dân khác nhau về căn bản
với chính sách trừng trị của chế độ trước10.

10

Bộ tư pháp xuất bản (1957), Tập luật lệ về Tư pháp, theo các văn bản đã công bố đến ngày 10 tháng 7
năm 1957, Hà Nội, tr 190


17

Để quản lý xã hội Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trên
nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với tội giết người, Chính phủ nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản
hướng dẫn đường lối xử lý tội giết người như: Chỉ thị số 1025-TATC ngày 15
tháng 6 năm 1960 về đường lối xử lý tội giết người vì mê tín; Chỉ thị số 01NCCS ngày 14 tháng 3 năm 1963 về xử lý giết trẻ sơ sinh; Bản chuyên đề
tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo công văn số
452-HS2 ngày 10 tháng 8 năm 1970 về thực tiễn xét xử tội giết người; Sắc
luật số 03 – SL ngày 15 tháng 3 năm 1976 của Hội đồng Chính phủ cách
mạng lâm thời quy định về các tội phạm và hình phạt trong đó có tội giết
người với nội dung: “Phạm tội cố ý giết người thì bị phạt tù từ 15 năm đến tù
chung thân hoặc bị xử tử hình. Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì mức hình
phạt có thể thấp hơn”. So với thời kỳ trước, quy định về tội giết người trong
thời kỳ này đã có những bước phát triển đáng kể trong việc phân hóa trách
nhiệm hình sự cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội.
Nhiều tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ được bổ sung thêm trong
giai đoạn này. Và đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự có sự
phân biệt giữa tình tiết tăng nặng chung với tình tiết tăng nặng đặc biệt và tình
tiết giảm nhẹ chung với tình tiết giảm nhẹ đặc biệt. Những tình tiết tăng nặng
đặc biệt mới được quy định như: “Giết người vì động cơ đê hèn hoặc có tính
chất côn đồ; Giết phụ nữ mà biết là có mang; Giết người bằng thủ đoạn nguy
hiểm có thể làm chết nhiều người; Giết người được giao nhiệm vụ công tác
hoặc vì nạn nhân thi hành nhiệm vụ; Can phạm có nhân thân rất xấu”11.
Những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới được quy định như: “Giết người trong
tình trạng bị nạn nhân ngược đãi, áp bức tàn tệ; Giết người vượt quá phạm vi
phòng vệ cần thiết; Giết trẻ em mới đẻ; Giết người vì mê tín; Giết người hủi,
11

Tòa án nhân dân tối cao (1979), hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1(1945- 1974), Hà nội, đ343 – 346.


18

người điên, người tàn tật, giết trẻ em vì sợ bị lây bệnh hoặc để khỏi phải nuôi
nấng khổ sở trong hoàn cành khốn quẫn về kinh tế”. 12
Về đường lối xử lý người phạm tội giết người đã được quy định một
cách cụ thể, rõ ràng. Theo đó: Hình phạt tử hình sẽ được áp dụng trong trường
hợp “tập trung nhiều tình tiết tăng nặng đặc biệt hoặc chỉ một tình tiết tăng
nặng đặc biệt nhưng rất nghiêm trọng, nhân thân can phạm xấu, không có
tình tiết giảm nhẹ hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đáng kể”.13 Biện pháp án
treo được áp dụng trong trường hợp “Giết trẻ mới đẻ trong hoàn cảnh gặp
nhiều khó khăn về mọi mặt; Giết người hủi, người điên, người tàn tật trong
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với động cơ chủ yếu là muốn tránh khổ sở cho
người bị nạn; một số trường hợp cộng phạm nhẹ”14.
Thời kỳ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước,
để hàn gắn vết thương chiến tranh, lập lại trật tự xã hội, việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật trở lên vô cùng cấp bách trong đó cần chú trọng đến pháp luật
hình sự. Quy định về tội giết người trong giai đoạn này chủ yếu kế thừa
những thành tựu lập pháp hình sự của các thời kỳ trước trong việc phân hóa
trách nhiệm hình sự cũng như trong đường lối xử lý tội phạm giết người.
Trong thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1985 Tòa án nhân dân tối cao hầu như
chỉ tập trung hướng dẫn đường lối xử lý tội giết người và phân biệt tội giết
người với các tội khác xâm phạm tính mạng của con người như: Tội giết con
mới đẻ do lạc hậu; tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng...
mà không có thêm những quy định mới về tội giết người.
Ngày 27 tháng 6 năm 1985, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời đánh
dấu bước tiến mới trong lịch sử lập pháp hình sự ở nước ta, góp phần vào
Tòa án nhân dân tối cao( 1979), hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1 (1945- 1974), Hà nội, đ346 - 350
Tòa án nhân dân tối cao( 1979), hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1 (1945- 1974), Hà nội, đ354
14
Tòa án nhân dân tối cao (1979), hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập 1 (1945- 1974), Hà nội, đ355
12
13


19

công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Một mặt, BLHS năm 1985 đã kế thừa
những thành tựu lập pháp hình sự của các thời kỳ trước trong việc phân hóa
trách nhiệm hình sự cũng như đường lối xử lý người phạm tội giết người.
Điều này thể hiện ở chỗ BLHS năm 1985 đã quy định những trường hợp
phạm tội giết người bị xử nặng, những trường hợp giết người được xử nhẹ,
các trường hợp tuy gây ra cái chết cho nạn nhân nhưng không cấu thành tội
phạm giết người. Mặt khác, BLHS năm 1985 đã có những bước phát triển
mới trong việc phân hóa TNHS cũng như trong đường lối xử lý người phạm
tội giết người, cụ thể: Quy định thêm các tình tiết định khung tăng nặng của
tội giết người như tình tiết: “giết người bằng thủ đoạn lợi dụng nghề nghiệp;
giết người có tổ chức; giết người có tính chất côn đồ; tái phạm nguy hiểm”.
BLHS năm 1985 lần đầu tiên đã có quy định về các hình phạt bổ sung có thể
áp dụng đối với người phạm tội giết người tại Điều 118 nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng hình phạt. Các hình phạt đó là: “Cấm đảm nhiệm chức vụ, làm
những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm; Quản chế
hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm”.
Trong thời kỳ này, quy định về tội giết người đã có sự kế thừa những
thành tựu lập pháp hình sự của các thời kỳ trước trong việc phân hóa trách
nhiệm hình sự cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội giết người như
áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của những văn bản luật thời kỳ
trước. Bên cạnh đó, so với giai đoạn trước, quy định về tội giết người trong
giai đoạn này đã có sự phát triển đáng kể trong phân hóa trách nhiệm hình sự
cũng như trong đường lối xử lý người phạm tội, như: Nhiều tình tiết định
khung tăng nặng của tội giết người đã được bổ sung them trong giai đoạn này
như tình tiết giết người bằng thủ đoạn lợi dụng nghề nghiệp; giết người có tổ
chức… Lần đầu tiên, BLHS năm 1985 quy định các hình phạt bổ sung có thể
áp dụng đối với người phạm tội giết người nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng


20

các hình phạt. Các hình phạt bổ sung đó là: “Cấm đảm nhiệm những chức vụ,
làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm; quản chế
hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm”.
Sau gần 15 năm thực hiện, BLHS năm 1985 đã không thể đáp ứng
được sự phát triển của xã hội. Năm 1999 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã ban hành Bộ luật Hình sự mới. Ngoài sự kế thừa những
thành tựu lập pháp hình sự của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã có
những bước phát triển trong quy định về tội giết người. Cụ thể: BLHS năm
1999 đã tách tội giết người trong BLHS năm 1985 thành ba tội riêng biệt:
“Tội giết người (Điều 93”; Tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95) với nhiều khung hình
phạt góp phần mở rộng khả năng pháp lý cho tòa án có thể lựa chọn hình phạt
phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng trường hợp
phạm tội cụ thể.15
BLHS năm 1999 đã bổ sung thêm một số tình tiết định khung tăng
nặng như: “Giết trẻ em; Giết ông, bà, cha , mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo,
cô giáo của mình; Thuê giết người hoặc giết người thuê; Giết người để lấy bộ
phận cơ thể của nạn nhân”.
Vừa qua, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban
hành BLHS mới vào ngày 27 tháng 11 năm 2015 (gọi tắt là BLHS năm 2015).
Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm 26 chương gồm 426 điều. Tội giết người
được quy định tại Điều 123 của Bộ luật. Về cơ bản quy định về tội giết người
trong BLHS 2015 đã kế thừa những quy định của BLHS năm 1999. Bên cạnh
đó BLHS năm 2015 đã có những quy định mới sau đây về tội giết người:

Đỗ Đức Hồng Hà, “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại Học luật
Hà Nội, 2001, tr 33.
15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×