Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng theo pháp luật việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC ÁNH

ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG
BẢO LÃNH TRONG GIAO DỊCH BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC ÁNH

ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG BẢO LÃNH
TRONG GIAO DỊCH BẢO LÃNH NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
này.
Tác giả luận văn

Đặng Thị Ngọc Ánh


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA
NGÂN HÀNG BẢO LÃNH TRONG GIAO DỊCH BẢO LÃNH NGÂN
HÀNG ............................................................................................................... 8
1.1. Khái quát về giao dịch bảo lãnh ngân hàng ............................................... 8
1.1.1.



Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo lãnh ngân hàng ..................... 8

1.1.1.1. Khái niệm giao dịch bảo lãnh ngân hàng ............................................. 8
1.1.1.2. Đặc điểm của giao dịch bảo lãnh ngân hàng...................................... 13
1.1.2. Phân loại giao dịch bảo lãnh ngân hàng ................................................ 17
1.1.2.1. Phân loại theo chủ thể là khách hàng được bảo lãnh ......................... 17
1.1.2.2. Phân loại theo cấu trúc của giao dịch bảo lãnh .................................. 18
1.1.2.3. Phân loại theo nghĩa vụ được bảo lãnh .............................................. 19
1.1.3. Vai trò của ngân hàng bảo lãnh đối với các chủ thể khác trong giao dịch
bảo lãnh ngân hàng.......................................................................................... 21
1.2. Khái quát về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch
bảo lãnh ngân hàng.......................................................................................... 24
1.2.1. Khái niệm tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch
bảo lãnh ngân hàng.......................................................................................... 24
1.2.2. Đặc trưng của tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao
dịch bảo lãnh ngân hàng .................................................................................. 28
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh
trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ................................................................ 29
1.3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về tình trạng pháp lý của ngân hàng
bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ................................................. 32
1.3.1. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với giao dịch bảo
lãnh ngân hàng ............................................................................................... 32
1.3.2. Những vấn đề cần quy định nhằm xác định tình trạng pháp lý của ngân
hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ......................................... 36


Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA
NGÂN HÀNG BẢO LÃNH TRONG GIAO DỊCH BẢO LÃNH NGÂN
HÀNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ........................................ 38
2.1. Thực trạng quy định về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong
giao dịch bảo lãnh ngân hàng .......................................................................... 38
2.1.1. Thực trạng quy định về quyền tham gia giao dịch bảo lãnh của ngân
hàng thương mại và các điều kiện cung cấp dịch bảo lãnh của ngân hàng
thương mại....................................................................................................... 38
2.1.2. Thực trạng quy định về cách thức tham gia giao dịch bảo lãnh của ngân
hàng bảo lãnh .................................................................................................. 41
2.1.3. Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của ngân hàng bảo
lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ........................................................ 45
2.1.4. Thực trạng quy định về các hậu quả pháp lý đối với ngân hàng bảo lãnh
trong ký kết và thực hiện giao dịch bảo lãnh ngân hàng ................................ 58
2.2. Một số ý kiến bình luận, đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh
ngân hàng ở Việt Nam .................................................................................... 63
2.2.1. Một số bình luận và đánh giá về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo
lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng theo pháp luật Việt Nam ................ 64
2.2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về tình trạng pháp lý của
ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam ............ 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 75


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế và bối cảnh toàn cầu hóa của thế giới đương đại, hoạt
động ngân hàng đang không ngừng phát triển mà bằng chứng rõ nhất đó là sự
ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới, cùng với sự xuất hiện của các tập đoàn
ngân hàng có quy mô toàn cầu được tạo ra từ làn sóng sáp nhập, hợp nhất.
Ở nhiều nước trên thế giới, do tính chất đặc thù của hoạt động ngân
hàng so với các hoạt động kinh doanh khác nên lĩnh vực này luôn được Nhà
nước kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật, trong đó có những quy định đặc thù
chỉ áp dụng đối với hoạt động ngân hàng. Trong số các loại hình cấp tín dụng
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, hoạt động bảo lãnh ngân hàng được
xem là một hình thức cấp tín dụng có nhiều tính đặc thù, vì nó có sự kết hợp
khéo léo giữa việc cấp tín dụng với việc cung cấp dịch vụ bảo đảm cho khách
hàng là bên có nghĩa vụ (đồng thời là bên hưởng tín dụng) thông qua hợp
đồng dịch vụ bảo lãnh được ký kết giữa bên bảo lãnh (ngân hàng) với bên
được bảo lãnh.
Xét về khía cạnh lịch sử, bảo lãnh ngân hàng (Bank guarantee) đã bắt
đầu được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Sự phát triển
nhanh chóng của các nước sản xuất dầu hoả ở Trung Đông trong thời gian này
cho phép họ ký kết những hợp đồng lớn với các công ty phương Tây cho
những dự án lớn như các dự án cải thiện cơ sở hạ tầng, các tiện ích công cộng,
dự án công, nông nghiệp và quốc phòng… Nguồn gốc phát sinh nhu cầu về
bảo lãnh, đặc biệt là những khoản bảo lãnh thanh toán ngay lần yêu cầu đầu
tiên (payable upon the first demand) có lẽ xuất phát từ khu vực này1.
Thương mại mậu dịch quốc tế ngày càng phát triển đã làm gia tăng nhu

1

Xem thêm: Giáo trình quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại, Trường Đại học

Thương mại, Hà Nội, năm 2011, tr. 332.


2

cầu đa dạng hoá và hợp pháp hoá công cụ tài trợ và bảo đảm quốc tế có tính
linh hoạt, được tin tưởng, phù hợp với tập quán quốc tế và không trái với luật
pháp quốc gia, ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống. Bảo lãnh
ngân hàng đáp ứng được các yêu cầu này và được sử dụng ngày càng phổ
biến. Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng bùng nổ mạnh mẽ và doanh
số của nó đạt tới mức kỷ lục. Có thể chắc chắn rằng những thương vụ lớn với
nước ngoài hiện nay không thể nào không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi
kèm. Hơn nữa, bảo lãnh ngân hàng còn được sử dụng rộng rãi trong các hợp
đồng thương mại, xây dựng trong nước.
Tại Việt Nam, nếu không kể đến giai đoạn trước đó ở miền Nam Việt
Nam trước năm 1975 dưới thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì bảo lãnh ngân
hàng được xem là bắt đầu triển khai áp dụng từ những năm 90 của thế kỷ XX.
Nhà nước ta đã xây dựng một hành lang pháp lý về bảo lãnh ngân hàng tương
đối hoàn thiện. Quyết định số 196/QĐ-NH14 ngày 16/9/1994 về quy chế bảo
lãnh ngân hàng của các ngân hàng thương mại và Quyết định số 23/QĐ-NH14
ngày 21/2/1994 về quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài đã
đặt nền móng cho hệ thống pháp luật về bảo lãnh ngân hàng. Tiếp theo đó là
các Quyết định số 283/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về việc ban hành Quy
chế bảo lãnh ngân hàng, Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/4/2001
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh ngân hàng kèm theo
Quyết định số 283/QĐ-NHNN14; Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN ngày
11/02/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh ngân
hàng kèm theo Quyết định số 283/QĐ-NHNN14; Quyết định số 26/2006/QĐNHNN ngày 26/6/2006 về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng thay
thế cho một loạt các văn bản trên. Đặc biệt, ngày 03 tháng 10 năm 2012
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 28/2012/TTNHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng
của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã thể hiện chế


3

định bảo lãnh ngân hàng ngày càng được hoàn thiện. Gần đây Thông tư số
07/2015/TT-NHNN ngày 25 tháng 06 năm 2015 của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng. Thông tư này gồm 3 Chương, 37
Điều với khá nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung để thay thế Thông tư số 28
nhằm tạo khung pháp lý mới vừa đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa
tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành có liên quan, khắc phục tối đa
những vấn đề còn bất cập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đồng thời vẫn đảm bảo
hiệu quả, an toàn, thông suốt cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng của các tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Ngày
29/9/2017, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số
13/2017/TT - NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2015/TTNHNN ngày 25/6/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo
lãnh ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp với các quy định pháp
luật mới có liên quan trong hoạt động bảo lãnh nói chung và hoạt động bảo
lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai nói riêng của
các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Sự ra đời của văn bản pháp luật mới cùng với đó là thực tiễn bối cảnh
hiện nay khi tình hình kinh tế thế giới cũng như Việt Nam có nhiều diễn biến
phức tạp, sự gia tăng nhanh của hoạt động bảo lãnh ngân hàng đã làm giới lập
pháp lo lắng về khả năng chịu rủi ro của không ít ngân hàng, việc nghiên cứu
toàn diện, nghiêm túc vấn đề lý luận về bảo lãnh ngân hàng là hết sức cần
thiết và cấp bách.
Với nhận thức như vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tình
trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân
hàng theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học của
mình.


4

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu
ở cấp độ luận văn thạc sĩ đã được công bố có liên quan đến bảo lãnh ngân
hàng. Điển hình phải kể đến một số công trình sau đây:
- Nguyễn Thành Long, “Những vấn đề pháp lý về bảo lãnh ngân hàng”,
luận văn thạc sĩ luật học, đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, năm 1999.
- Tạ Thị Hồng An, “Pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt
Nam”, khoá luận tốt nghiệp, trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, năm 2007.
- Vũ Thị Khánh Phượng, “Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn
tại ngân hàng thương mại cổ phần Techcombank ở Việt Nam”, luận văn thạc
sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia, năm 2011.
- Trần Thị Việt Hà, “Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng của các tổ
chức tín dụng Việt Nam”, luận văn thạc sĩ Luật học, trường đại học Luật Hà
Nội, năm 2013.
- Nguyễn Phương Thảo, “Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng của các ngân
hàng thương mại – thực tiễn và đề xuất hoàn thiện”, trường đại học Luật Hà
Nội, luận văn thạc sĩ Luật học, trường đại học Luật Hà Nội, năm 2014.
Ngoài các công trình nói trên ở cấp độ luận văn thạc sĩ, cũng có nhiều
bài viết đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến chủ đề
bảo lãnh ngân hàng. Tuy vậy, các công trình này chủ yếu nghiên cứu tổng thể
về bảo lãnh ngân hàng nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên
sâu về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh
ngân hàng theo pháp luật Việt Nam. Mặt khác, phần lớn các công trình nghiên
cứu nêu trên được nghiên cứu trước khi Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày
25 tháng 06 năm 2015 và Thông tư số 13/2017/TT - NHNN ngày 29/9/2017
của ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng được ban
hành nên việc cập nhật văn bản pháp luật mới nhất trong các công trình này
còn hạn chế.


5

Từ thực tiễn trên đây, có thể khẳng định rằng cho đến nay, luận văn
thạc sĩ của tác giả là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về
tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng
theo pháp luật Việt Nam. Vì thế, công trình nghiên cứu này đáp ứng được các
yêu cầu về tính mới đối với một luận văn thạc sĩ luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận về bảo lãnh
ngân hàng và tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh trong mối quan hệ
với các chủ thể khác trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, trên cơ sở đó nhằm
đưa ra các ý kiến đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về tình trạng pháp
lý của ngân hàng bảo lãnh và bước đầu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật điều chỉnh giao dịch bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ phân tích, luận
giải nhằm làm rõ các vấn đề lý luận về tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo
lãnh trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, cụ thể là các quyền, nghĩa vụ của
ngân hàng bảo lãnh trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác trong giao
dịch bảo lãnh ngân hàng; những bất cập trong các quy định của pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân
hàng, đánh giá thực trạng pháp luật hiện nay về tình trạng pháp lý của ngân
hàng bảo lãnh và từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật
về bảo lãnh ngân hàng nói chung và quy định về tình trạng pháp lý của ngân
hàng bảo lãnh nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm lý luận, các học
thuyết có liên quan đến bảo lãnh ngân hàng và vấn đề tình trạng pháp lý của


6

ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng; các quy định pháp
luật về bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam và ở một số nước trên thế giới; thực
tiễn giao dịch bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam gắn với vai trò của ngân hàng
bảo lãnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tuỳ thuộc vào góc độ xem xét mà người ta có thể nghiên cứu bảo lãnh
ngân hàng dưới góc độ kinh tế hay pháp lý đối với bảo lãnh ngân hàng. Đây là
một vấn đề khá rộng và phức tạp. Bởi vậy trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ,
tác giả không thể đề cập đến tất cả các khía cạnh của bảo lãnh ngân hàng mà
chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về tình trạng pháp lý
của ngân hàng bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, các nội dung cơ
bản của pháp luật về bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam có liên quan đến việc
xác định tình trạng pháp lý của ngân hàng bảo lãnh từ khi có Luật các tổ chức
tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16/6/2010 và Thông tư số
28/2012/TT-NHNN, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25 tháng 06 năm
2015, Thông tư số 13/2017/TT - NHNN ngày 29 tháng 9 năm 2017 của ngân
hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng.
5. Các phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội và nhân văn như: phương pháp mô
tả, phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh, thống kê, tiếp cận lịch sử... để
giải quyết các yêu cầu cơ bản mà đề tài đặt ra.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được bố cục thành 2 chương bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tình trạng pháp lý của ngân hàng
bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng quy định về tình trạng pháp lý của ngân hàng


7

bảo lãnh trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam và một số kiến nghị.


8

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGÂN
HÀNG BẢO LÃNH TRONG GIAO DỊCH BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1.1. Khái quát về giao dịch bảo lãnh ngân hàng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo lãnh ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm giao dịch bảo lãnh ngân hàng
Trong đời sống kinh tế - xã hội, bảo lãnh là thuật ngữ được sử dụng khá
phổ biến để chỉ một cam kết – với tính cách là một hành vi pháp lý giữa bên
bảo lãnh với bên có quyền về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ, nếu đến hạn mà người này không thực hiện nghĩa vụ đối với bên có
quyền.
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo lãnh” được giải thích là: a)bảo
lãnh là bảo đảm người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu
người đó không thực hiện; b) bảo lãnh là việc dùng tư cách, uy tín của mình
để bảo đảm cho hành động, tư cách của người khác. Định nghĩa này cho thấy
dưới góc độ kinh tế xã hội, bảo lãnh chính là việc một chủ thể (cá nhân hay tổ
chức) dùng uy tín, năng lực, chuyên môn, tài chính của mình đứng ra bảo đảm
về việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể khác, trong trường hợp chủ thể có
nghĩa vụ không thực hiện được thì chủ thể đứng ra bảo lãnh sẽ phải chịu trách
nhiệm cho việc không thực hiện đó2.
Về phương diện pháp lý, khái niệm bảo lãnh được quy định khá tương
đồng trong pháp luật của các nước trên thế giới.
Trong luật La Mã, bảo lãnh được hiểu là hợp đồng, theo đó bên thứ ba
với mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay
nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ của mình. Trách nhiệm của bên thứ ba là “trách nhiệm
bổ sung” so với trách nhiệm của bên có nghĩa vụ (trách nhiệm chính) và nó
2

Từ điển tiếng Việt (1996), NXB. Đà Nẵng, trang 37.


9

chỉ tồn tại khi nghĩa vụ nó đảm bảo tồn tại trên thực tế.
Trong luật của Cộng hòa Pháp, “người nhận bảo lãnh một nghĩa vụ
thực hiện nghĩa vụ đó đối với người có quyền nếu chính người có nghĩa vụ
không thi hành”. Trong pháp luật Trung Quốc, bảo lãnh được hiểu là hành vi
mà căn cứ vào thoả thuận giữa người bảo lãnh và chủ nợ, người bảo lãnh sẽ
thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm nếu con nợ không trả được
nợ.
Trong luật của Mỹ, bảo lãnh chính là sự thoả thuận, trong đó người bảo
lãnh đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ;
bảo lãnh là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên
có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện3.
Trong pháp luật Việt Nam, bảo lãnh được xem là một trong những biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và được ghi nhận tại Điều 335 Bộ
luật dân sự 2015, theo đó quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây
gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được
bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về bảo lãnh trong
pháp luật của các nước nhưng tựu chung lại thì bảo lãnh được hiểu thống nhất
là “cam kết của bên thứ ba với bên có quyền về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh
không thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền”. Ngoài ra, các định nghĩa về
bảo lãnh trong pháp luật của các nước cũng đều thống nhất rằng sự vi phạm
nghĩa vụ của bên được bảo lãnh chính là điều kiện cơ bản để bên có quyền
yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh.
Bảo lãnh nói chung và bảo lãnh bằng tài sản nói riêng khi mới xuất
3

Black law dictionary, ST. Paul.Minn West Pulishing Co.1991, trang 487.


10

hiện trong đời sống, vốn dĩ là hành vi dân sự thuần tuý, bởi lẽ hành vi bảo
lãnh thuần tuý thường có tính nhất thời, không mang tính chất chuyên nghiệp
và cũng do không nhằm mục đích rõ ràng là thu lợi nhuận như những hành vi
thương mại nên loại hành vi này không phải đăng kí kinh doanh với cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước. Tất cả những hành vi bảo lãnh thuần tuý không
có tính chuyên nghiệp và không nhằm mục đích kiếm lời đều phải được xem
là những hành vi dân sự (phi thương mại). Tuy nhiên, theo đà phát triển của
nền thương mại, một số chủ thể kinh doanh, đặc biệt là các ngân hàng đã bắt
đầu thực hiện thường xuyên hoạt động bảo lãnh cho khách hàng để thu phí
bảo lãnh. Loại hành vi bảo lãnh này dần dần có tính chất chuyên nghiệp và trở
thành loại hình dịch vụ đặc biệt có khả năng sinh lời cho người thực hiện
chúng. Vì thế, những hành vi bảo lãnh có tính chuyên nghiệp với mục đích rõ
ràng là thu lợi nhuận như vậy đã mặc nhiên trở thành những hành vi thương
mại và cần phải được Nhà nước đối xử như hành vi thương mại.4
Đối với khái niệm bảo lãnh ngân hàng, mặc dù vẫn mang bản chất của
bảo lãnh, nhưng bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm riêng biệt so với bảo
lãnh dân sự thông thường.
Theo từ điển Luật học, bảo lãnh ngân hàng là “loại hình bảo lãnh bằng
việc tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo
lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo
lãnh), nếu đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ”5. Với định nghĩa này, có thể
hiểu bảo lãnh ngân hàng không còn đơn thuần chỉ là một biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ nữa mà còn là một hoạt động kinh doanh có tính chất
chuyên nghiệp. Điều này càng được thể hiện rõ hơn thông qua cách định
4

Nguyễn Văn Tuyến (2008), “Những khía cạnh pháp lý cơ bản của giao dịch bảo lãnh

bằng tài sản trong quan hệ vay vốn ngân hàng”.
5
Từ điển Luật học (2006), NXB Tư pháp, trang 44.


11

nghĩa về bảo lãnh ngân hàng trong các văn bản pháp luật về hoạt động ngân
hàng.
Thật vậy, Điều 4 khoản 18 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm
2010 quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ
chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ
và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”.
Theo quan điểm nhận thức của tác giả luận văn, có thể xem xét bảo
lãnh ngân hàng dưới hai góc độ:
Thứ nhất, dưới góc độ kinh tế, bảo lãnh ngân hàng được coi như một
nghiệp vụ cấp tín dụng vì trong hợp đồng bảo lãnh tổ chức tín dụng cam kết
chắc chắn sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp người này không tự
thực hiện được nghĩa vụ của mình. Bảo lãnh ngân hàng được xem như là một
loại hình tín dụng đặc biệt bởi nhờ có nó mà một cá nhân hay một doanh
nghiệp không phải bỏ ra một khoản tiền vốn (hoặc không phải đi vay) để đặt
cọc nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong giao kết với đối tác.
Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch đặc
thù, theo đó một ngân hàng chấp nhận đề nghị bảo lãnh của khách hàng (bên
được bảo lãnh) để phát hành cam kết bảo lãnh cho bên thụ hưởng theo đúng
yêu cầu của bên được bảo lãnh, trên cơ sở đó có quyền thu phí bảo lãnh từ
bên được được bảo lãnh.
Hiện nay, trong pháp luật của nhiều nước cũng như các văn bản do các
tổ chức quốc tế ban hành có những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau về
bảo lãnh ngân hàng. Chẳng hạn như:
- Theo công ước Liên hiệp quốc về Bảo lãnh độc lập và Tín dụng dự
phòng (công ước UNCITRAL): “Một cam kết là một trách nhiệm độc lập,
theo thông lệ quốc tế gọi là một bảo lãnh độc lập hoặc là một thư tín dụng dự


12

phòng, của một ngân hàng hay tổ chức hoặc người khác (người bảo lãnh/phát
hành) để thanh toán cho người nhận bảo lãnh/hưởng lợi một số tiền nhất định
hoặc có thể xác định được khi được yêu cầu hoặc yêu cầu có kèm theo chứng
từ khác, theo đúng các Điều khoản và các Điều kiện về chứng từ của cam kết,
cho biết, hoặc từ đó có thể suy đoán, rằng phải thực hiện thanh toán vì việc
không thực hiện một nghĩa vụ, hoặc vì một sự cố khác, hoặc để trả tiền vay
hay được ứng trước, hoặc vì bất kì trái vụ nào đến hạn mà người được bảo
lãnh/xin mở thư tín dụng hoặc một người khác có cam kết”6.
- Theo quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG-ICC 458)
của Phòng thương mại quốc tế ICC thì “một bảo lãnh theo yêu cầu (dưới đây
có tên gọi “bảo lãnh”) nghĩa là bất cứ sự bảo lãnh, cam kết hoặc đảm bảo
thanh toán nào khác dù được gọi và mô tả như thế nào, được một ngân hàng,
một công ty bảo hiểm hoặc một cơ quan hay một người nào khác (dưới đây
được gọi là “người được bảo lãnh”) viết ra để thanh toán một số tiền khi xuất
trình bản yêu cầu thanh toán và các chứng từ khác có thể quy định trong bảo
lãnh phù hợp với các điều khoản và điều kiện bảo lãnh đó”7.
- Theo pháp luật Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là việc tổ
chức tín dụng (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau
đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ
(sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ
mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Với định nghĩa trên đây, ta thấy bảo lãnh ngân hàng vừa thể hiện là một
biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự bởi trong bảo lãnh ngân hàng, tồn tại cam
6

Liên Hợp Quốc (1996), Công ước của Liên hiệp quốc về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng

dự phòng.
7

Phòng thương mại quốc tế (1992), Các quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu

(Uniform Roles for Demand Guarantee) – URDGICC 458.


13

kết bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) và bên có quyền (bên
nhận bảo lãnh) về việc người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho
khách hàng (người được bảo lãnh) khi người này không thực hiện nghĩa vụ
với bên có quyền; đồng thời vừa thể hiện bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp
vụ cấp tín dụng của ngân hàng bởi khách hàng – người được bảo lãnh phải
nhận nợ với tổ chức tín dụng và phải hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã
được trả thay. Xét từ khía cạnh nghiệp vụ ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng là
một hoạt động kinh doanh mang tính chất chuyên nghiệp. Chủ thể thực hiện
hoạt động bảo lãnh ngân hàng không phải là bất cứ cá nhân, tổ chức nào như
trong bảo lãnh dân sự nói chung mà đó phải là các tổ chức tín dụng – những
chủ thể kinh doanh ngân hàng có tính chất chuyên nghiệp. Mối quan hệ pháp
lý giữa người được bảo lãnh và người bảo lãnh (ngân hàng) là mối quan hệ
giữa khách hàng và bên cung cấp dịch vụ. Mối quan hệ này sẽ làm phát sinh
lợi nhuận cho bên cung cấp dịch vụ - bên bảo lãnh thông qua việc thu phí bảo
lãnh từ khách hàng được bảo lãnh.
Tóm lại, về phương diện lý luận, có thể đưa ra định nghĩa về giao dịch
bảo lãnh ngân hàng như sau:
Bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch đặc thù, theo đó một ngân hàng
chấp nhận đề nghị bảo lãnh của khách hàng (bên được bảo lãnh) để phát
hành cam kết bảo lãnh cho bên thụ hưởng theo đúng yêu cầu của bên được
bảo lãnh, trên cơ sở đó có quyền thu phí bảo lãnh từ bên được bảo lãnh.
1.1.1.2. Đặc điểm của giao dịch bảo lãnh ngân hàng
Như đã đề cập ở trên, bảo lãnh ngân hàng vừa là một biện pháp bảo
đảm nghĩa vụ dân sự, vừa là một nghiệp vụ cấp tín dụng của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng thông qua việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng
để được hưởng tiền thù lao dịch vụ là phí bảo lãnh. Vì vậy, khi nghiên cứu để
làm rõ các đặc điểm của giao dịch bảo lãnh ngân hàng, cần tiếp cận cả từ hai
góc độ: (i) bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự; (ii)


14

bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ cấp tín dụng của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng.
Trước hết, với ý nghĩa là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, giao
dịch bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:
Một là, bảo lãnh ngân hàng là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối
nhân, theo đó, bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng chỉ cam kết sẽ trả nợ thay bên
có nghĩa vụ chứ không cam kết sẽ trả nợ thay bằng một tài sản cụ thể nào
thuộc quyền sở hữu của mình. Vì thế, bên có quyền (còn gọi là bên nhận bảo
lãnh/bên thụ hưởng bảo lãnh) không thể thiết lập quyền ưu tiên và quyền theo
đuổi trên bất cứ tài sản cụ thể nào của bên bảo lãnh để từ đó phát mãi nhằm
thực hiện quyền đòi nợ khi đến hạn.
Hai là, bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng chỉ phải trả nợ thay cho bên có
nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ của họ khi đến
hạn. Khi đó, để đòi tiền từ ngân hàng bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh phải chứng
minh về tình trạng vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với mình,
kèm theo các chứng từ chứng minh về sự vi phạm nghĩa vụ.
Thứ hai, với ý nghĩa là một nghiệp vụ cấp tín dụng, giao dịch bảo lãnh
ngân hàng có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, bảo lãnh ngân hàng là một loại giao dịch thương mại (hành vi
thương mại) đặc thù. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng được các tổ chức tín
dụng thực hiện với tư cách là một thương nhân nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Tính thương mại của hoạt động này thể hiện ở chỗ, hoạt động bảo lãnh ngân
hàng vừa do tổ chức tín dụng thực hiện trên “thị trường” nhằm mục đích lợi
nhuận vừa có tính chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh. Tính chất
thương mại của hoạt động này thể hiện ở chỗ, hoạt động bảo lãnh ngân hàng
vừa do tổ chức tín dụng thực hiện trên “thị trường” nhằm mục đích lợi nhuận
vừa có tính chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh. Chủ thể của giao
dịch bảo lãnh ngân hàng chính là các ngân hàng có đủ điều kiện pháp lý do


15

pháp luật quy định.
Hai là, trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng có sự tham gia của bên bảo
lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trong đó, tổ chức tín dụng là
chủ thể tham gia trực tiếp vào hai quan hệ pháp luật: quan hệ giữa ngân hàng
với khác hàng được bảo lãnh và quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với người
nhận bảo lãnh – bên có quyền. Do đó, hoạt động bảo lãnh ngân hàng không
chỉ đơn thuần là quan hệ giữa bên bảo lãnh (ngân hàng) với bên nhận bảo lãnh
(bên có quyền) mà còn bao gồm một quan hệ pháp luật khác có tính cách
quan trọng hơn, đó là quan hệ dịch vụ giữa ngân hàng bảo lãnh (bên cung cấp
dịch vụ bảo lãnh) với khách hàng được bảo lãnh (bên sử dụng dịch vụ bảo
lãnh).
Ba là, khi tiến hành nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng phải thiết lập hai
mối quan hệ pháp lý, được thể hiện rõ thông qua 2 hợp đồng: Thứ nhất là thoả
thuận cấp bảo lãnh giữa ngân hàng và khách hàng (bên bảo lãnh và bên được
bảo lãnh) làm phát sinh nghĩa vụ của ngân hàng là phát hành thư bảo lãnh
theo yêu cầu của khách hàng cho bên nhận bảo lãnh. Thứ hai là cam kết bảo
lãnh giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh và thoả thuận
cấp bảo lãnh có mối quan hệ nhân quả với nhau. Quan hệ giữa bên bảo lãnh
và bên được bảo lãnh thể hiện thông qua thoả thuận cấp bảo lãnh là nguyên
nhân đồng thời là cơ sở pháp lý để thiết lập mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và
bên nhận bảo lãnh thông qua cam kết bảo lãnh. Ngược lại, việc ký kết cam kết
bảo lãnh là hệ quả của thoả thuận cấp bảo lãnh đồng thời là phương thức để
thực hiện hợp đồng bảo lãnh.
Mặc dù bảo lãnh ngân hàng là quan hệ đa phương, các quan hệ có mối
liên hệ nhau, tuy nhiên chúng lại độc lập với nhau. Sự độc lập của bảo lãnh
ngân hàng được hiểu là sự độc lập của quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và
bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh,
cho dù có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh


16

thì ngân hàng bảo lãnh cũng không vì thế mà có quyền từ chối thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh.
Bốn là, theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không
thể đơn phương huỷ ngang bởi những người có thẩm quyền của ngân hàng
bảo lãnh. Đặc điểm này không chỉ được ghi nhận trong quy tắc thực hành tín
dụng dự phòng quốc tế: “...là cam kết không huỷ ngang, độc lập, kèm chứng
từ và ràng buộc khi phát hành...”8, trong bộ quy tắc thống nhất về bảo lãnh
theo yêu cầu URDG của phòng thương mại quốc tế ICC: “Một bảo lãnh là
không thể huỷ ngang khi phát hành ngay cả khi không có quy định như vậy
được nêu trong thư bảo lãnh đó”9, mà còn được công nhận bởi pháp luật của
nhiều quốc gia trên thế giới về bảo lãnh ngân hàng. Tính chất không thể huỷ
ngang của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ, sau khi cam kết bảo lãnh hay
thư bảo lãnh đã được phát hành hợp lệ bởi một ngân hàng, không một cơ quan
nào có thể lấy danh nghĩa đại diện cho ngân hàng phát hành bảo lãnh để tuyên
bố huỷ bỏ cam kết, trừ khi tuyên bố này được sự chấp nhận của người nhận
bảo lãnh. Nguyên tắc này đảm bảo cho người nhận bảo lãnh có thể yên tâm
đòi tiền ngân hàng bảo lãnh khi đến hạn của nghĩa vụ được bảo lãnh mà người
được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của họ, đảm bảo hiệu quả cho quyền
lợi của người nhận bảo lãnh. Nếu bảo lãnh ngân hàng không có tính chất này,
nghĩa là bên bảo lãnh có thể đơn phương huỷ ngang bất kỳ lúc nào thì khi đó
quyền lợi của người nhận bảo lãnh sẽ không được đảm bảo.
Năm là, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập, thực hiện dựa
trên cơ sở chứng từ. Khi tổ chức tín dụng phát hành cam kết bảo lãnh, cũng
như khi người nhận bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu của mình hay khi ngân
hàng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, các chủ thể này đều

8

Quy tắc 1.06 trong Quy tắc thực hành tín dụng dự phòng quốc tế.

9

Điểm b Điều 4 quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu - URDG 758, ICC 2009.


17

phải thiết lập bằng văn bản. Về nguyên tắc, khi người thụ hưởng bảo lãnh yêu
cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay người được bảo lãnh, họ phải xuất
trình những chứng từ hợp lệ, phù hợp với nội dung của cam kết bảo lãnh thì
mới được thanh toán. Ngược lại, bên bảo lãnh bắt buộc phải có trách nhiệm
kiểm tra các chứng từ do người được thụ hưởng xuất trình, xem xét các chứng
từ này có phù hợp với điều khoản, điều kiện bảo lãnh đã cam kết hay không.
Khi có dấu hiệu không hợp lệ hoặc không đáp ứng đủ các điều khoản, điều
kiện của bảo lãnh, tổ chức bảo lãnh hoàn toàn có quyền từ chối thanh toán.
Trong trường hợp tổ chức bảo lãnh không thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra
chứng từ, dẫn đến xảy ra các vi phạm thì rủi ro mà các tổ chức này có thể phải
gánh chịu đó là không được nhận bồi hoàn từ người được bảo lãnh. Việc xây
dựng nguyên tắc bảo lãnh dựa vào chứng từ là hết sức cần thiết bởi nó không
chỉ đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của các bên mà còn góp phần nâng cao ý
thức trách nhiệm, tinh thần cẩn trọng của các bên khi tham gia các giao dịch
tài chính – ngân hàng nói chung.
1.1.2. Phân loại giao dịch bảo lãnh ngân hàng
Thực tế cho thấy giao dịch bảo lãnh ngân hàng rất đa dạng, tuỳ theo
phạm vi, cách thức thực hiện, mục đích sử dụng... Về lý thuyết, bảo lãnh ngân
hàng có thể được phân loại dựa vào các tiêu chí sau đây:
1.1.2.1. Phân loại theo chủ thể là khách hàng được bảo lãnh
Theo tiêu chí này, giao dịch bảo lãnh ngân hàng bao gồm hai loại là
bảo lãnh trong nước (bảo lãnh đối nội) và bảo lãnh ngoài nước (bảo lãnh đối
ngoại).
- Bảo lãnh trong nước: là loại hình bảo lãnh mà người yêu cầu bảo lãnh,
người được bảo lãnh và ngân hàng ở trong phạm vi một quốc gia. Các hình
thức phổ biến là: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền
ứng trước... được thực hiện qua việc ngân hàng phát hành thư bảo lãnh.
- Bảo lãnh ngoài nước: Là loại hình bảo lãnh mà trong đó chỉ có một


18

bên ở trong nước, còn bên kia ở nước ngoài. Loại hình này thường sử dụng
một trong các hình thức bảo lãnh sau: Mở thư tín dụng mua hàng trả chậm; ký
bảo lãnh trên các hối phiếu nhận nợ với nước ngoài; phát hành thư bảo lãnh;
lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ.
1.1.2.2. Phân loại theo cấu trúc của giao dịch bảo lãnh
Theo tiêu chí này, giao dịch bảo lãnh ngân hàng có thể được phân loại
như sau:
- Bảo lãnh trực tiếp: Là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng phát hành
bảo lãnh chịu trách nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh. Người
được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành
bảo lãnh. Bảo lãnh trực tiếp thường có sự xuất hiện của 3 bên: Ngân hàng
phát hành, người được bảo lãnh và người được thụ hưởng bảo lãnh. Đây là
loại hình bảo lãnh đơn giản nhất, được thực hiện dựa trên mối quan hệ giữa 3
bên trong quan hệ bảo lãnh, trong đó ngân hàng bảo lãnh cam kết thanh toán
trực tiếp với người thụ hưởng không cần phải qua một ngân hàng trung gian
nào cả. Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân
hàng có thể trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp hay còn gọi là bảo lãnh đối ứng: là một hình thức
bảo lãnh ngân hàng, theo đó bên bảo lãnh đối ứng cam kết với bên bảo lãnh
về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với bên bảo lãnh trong trường hợp
bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh là
khách hàng của bên bảo lãnh đối ứng; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và
hoàn trả cho bên bảo lãnh đối ứng. Theo đó, ngân hàng bảo lãnh đã phát hành
bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được
bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Trong bảo lãnh
đối ứng, người thụ hưởng hoàn toàn không có quyền yêu cầu ngân hàng trung
gian thanh toán bảo lãnh. Ngân hàng phát hành bảo lãnh hoàn toàn không có
quyền yêu cầu người được bảo lãnh bồi hoàn. Chỉ có trung gian mới có nghĩa


19

vụ bồi hoàn cho ngân hàng phát hành theo bảo lãnh đối ứng. Trong bảo lãnh
gián tiếp có ít nhất bốn thành phần tham gia: ngân hàng bảo lãnh phát hành,
ngân hàng chỉ thị, người được bảo lãnh, người thụ hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh
gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ hưởng là người
nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia của người thụ hưởng.
Do vậy, quyền lợi của người thụ hưởng được bảo vệ chắc hơn.
- Xác nhận bảo lãnh: là một hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó bên
xác nhận bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng
thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Bên xác nhận
bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên bảo lãnh nếu bên bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; bên bảo lãnh phải nhận nợ
và hoàn trả cho bên xác nhận bảo lãnh, đồng thời bên được bảo lãnh phải
nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh.
- Đồng bảo lãnh: Là loại bảo lãnh do nhiều ngân hàng cùng đứng ra
phát hành bảo lãnh, trong đó một ngân hàng sẽ được chọn làm ngân hàng phát
hành chính, các ngân hàng thành viên sẽ cam kết theo từng phần đóng góp
của mình bằng các bảo lãnh đối ứng như một ngân hàng trung gian. Loại hình
bảo lãnh này thường áp dụng với các hợp đồng có giá trị lớn, độ rủi ro cao,
một ngân hàng riêng lẻ sẽ gặp khó khăn nếu đơn phương thực hiện.
1.1.2.3. Phân loại theo nghĩa vụ được bảo lãnh
Theo tiêu chí này, giao dịch bảo lãnh ngân hàng có thể được phân loại
như sau:
- Bảo lãnh vay vốn: Là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh
về việc sẽ trả nợ tiền vay thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng hạn nghĩa
vụ này theo hợp đồng tín dụng đối với bên nhận bảo lãnh. Loại bảo lãnh này
rủi ro thường rất lớn, vì vậy ngân hàng phải xem xét rất kỹ tính khả thi của dự
án, tài sản bảo đảm... trước khi phát hành bảo lãnh.


20

- Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của bên bảo lãnh với bên mời thầu (bên
nhận bảo lãnh) để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của bên được bảo lãnh.
Trường hợp bên được bảo lãnh phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu
mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì bên bảo
lãnh sẽ thực hiện thay. Thực chất mục đích của bảo lãnh dự thầu là bảo đảm
việc người dự thầu không rút lui, không ký hợp đồng hoặc thay đổi ý định khi
đã trúng thầu. Nếu người dự thầu đã trúng thầu mà không ký hợp đồng thì chủ
thầu sẽ rút tiền từ bảo lãnh để thanh toán chi phí đấu thầu và các thiệt hại do
chậm tiến độ thi công hoặc chi phí để tổ chức cuộc đấu thầu khác.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của bên bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh để bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của
bên được bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường
hợp bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận
bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì bên bảo lãnh sẽ
thực hiện thay. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng cung cấp một đảm bảo cho
người thụ hưởng về việc thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh. Đây
cũng là một loại bảo lãnh thường được sử dụng trên thực tế bởi trong quá
trình thực thi các hợp đồng, điều mà các bên tham gia lo lắng nhất chính là
đối tác không thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung đã cam kết.
- Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo
lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bên được bảo lãnh
trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn. Bảo lãnh thanh toán được
sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị hàng hoá trả chậm. Quan hệ giữa
người bán và người mua thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó
người mua chấp nhận trả tiền hàng hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể. Trong trường
hợp người mua không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền theo hợp
đồng thì ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trả thay cho người mua như đã


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×